Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh - nhìn từ phương diện kết cấu (Qua một số tác phẩm tiêu biểu được giải thưởng văn học và Quốc phòng 2004 - 2009) - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Trong văn học Việt Nam hiện đại, đề tài chiến tranh là một trong những đề
tài lớn, không thôi ám ảnh các nhà văn mà thành tựu của nó đã để lại những dấu ấn
sâu sắc trong lòng bạn đọc. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân
tộc ta đã đi qua nhiều năm nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ không nguôi trong kí ức con người.
Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng được tổng kết vào cuối
năm 2009 đã thu được những thành tựu đáng kể. Quan tâm nghiên cứu với đề tài kết
cấu tiểu thuyết hôm nay về đề tài chiến tranh, chúng tôi lựa chọn thi pháp kết cấu với
hi vọng sẽ chỉ ra được những đặc điểm cơ bản nhất, từ đó hi vọng đưa ra những kiến
nghị cần thiết trong việc sáng tạo và thẩm định phương diện tiểu thuyết.
Nằm trong sự vận động của tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến
tranh sau 2004, mặc dù có những hạn chế nhất định về nội dung nhưng đã có nhiều
đổi mới về hình thức thể loại.
2. Là một giáo viên THPT khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp
thêm một cái nhìn mới vào việc nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm văn hoc về đề
tài chiến tranh, từ đó tăng cường cách hiểu, tình yêu văn học và bồi dưỡng tình yêu
đất nước, con người, tinh thần sẵn sang hi sinh bảo vệ tổ quốc …
Mặc dù vấn đề này cũng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu nhưng hầu
hết các ý kiến còn lẻ tẻ, phát hiện ở cấp độ những tác phẩm cụ thể. Do vậy thực hiện
đề tài này, chúng tôi muốn có cái nhìn khái quát, hệ thống về tiểu thuyết chiến tranh
Việt Nam được viết gần đây. Qua đó, chúng tôi hi vọng sẽ hình dung ra sự phát triển
của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh. Trong ý nghĩa này, đề tài mang tính
cấp thiết rõ rệt. Dù những tiểu thuyết này chưa có trong chương trình dạy học ở
trường phổ thông nhưng với đề tài này, người viết có cơ hội hiểu hơn về bản chất
kháng chiến đau thương mất mát nhưng rất hào hùng của dân tộc. Vì tiểu thuyết về
1


chiến tranh, bên cạnh phần hư cấu còn có cốt lõi sự thật lịch sử. Nghiên cứu đề tài
này, giúp cho chúng ta hiểu về truyền thống, về lịch sử, giúp ta thêm tự hào dân tộc.

vị trí nhất định.
2. Tìm hiểu những bài phê bình, nghiên cứu về tiểu thuyết ở mảng đề tài chiến
tranh cách mạng sau năm 1975.
Theo thống kê của chúng tôi, những vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết hiện nay về
đề tài chiến tranh chưa nhiều, chưa hệ thống, chủ yếu là những bài riêng lẻ về một tác
phẩm hoặc một nhóm tác phẩm. một trong những công trình nghiên cứu khá sâu rộng
với đề chiến tranh là của Lê Thị Thu Huyền. Trong luận văn Thạc sĩ này tác giả đã
khái quát được những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh trong
những năm gần đây trên các phương diện. Xu hướng phá vỡ cấu trúc nhân vật sử thi
truyền thống. Sự chuyển đổi các cáp độ yếu tố không gian, thời gian và đổi mới điểm
nhìn, cảm hứng và giọng điệu. Luận văn của Lê Thị Thu Huyền đã ít nhiều chỉ ra
những điểm đổi mới kết cấu của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh trên cứ liệu
những tiểu thuyết được giải thưởng của Hội nhà văn và Bộ Quốc phòng từ 2004 –
2009, nhưng chưa toàn diện. Vấn đề mới chỉ đề cập ở những đổi mới căn bản, do vậy
còn thiếu cụ thể. Đây là những vấn đề tiếp theo để chúng tôi bổ xung, khái quát.
Trong sự vận động không ngừng của tiểu thuyết, kết cấu là phương diện cơ bản
bộc lộ những đặc điểm của thể loại thông qua mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố và
các cấp độ của nó cũng như giữa các yếu tố với chỉnh thể kết cấu của tiểu thuyết. Đặc
biệt là tiểu thuyết hiện đại đang có sự vận động và biến đổi không ngừng do sự vận
động và biến đổi của thời đại, những kết cấu lệ thuộc tuyệt đối vào trật tự trước, sau
của cốt truyện hay kết cấu kiểu tái hiện, mô phỏng, không còn phù hợp phải nhường
chỗ cho những kết cấu mới lạ hơn, sáng tạo hơn và năng động hơn ở đó những kỹ
thuật tự sự hiện đại đều được thử nghiệm để xây dựng kết cấu.
3


Chiến tranh là một đề tài lớn, ở ngày hôm nay nó thường được thể hiện bằng thể
loại tiểu thuyết, và trường ca những thể loại chủ lực của nền văn học hiện đại Việt
nam. Nói đến sức sống của đề tài chiến tranh cách mạng đã có rất nhiều ý kiến chú ý
đến vấn đề kết cấu nhân vật. Nhân vậtểtong tiểu thuyết sử thi hôm nay được xây dựng

ánh một cách rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con
người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lý hóa đời sống bản năng của con người,
đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; Lên án, phê phán chiến tranh là một
thế lực phi nhân tính đã tước đoạt cướp mất của con người quyền được sống với chính
những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ” [17]
Vì vậy đi sống tinh thần tư tưởng tâm hồn của con người cũng là một khía cạnh
được nhiều người bàn đến trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh hiện nay. Trần Thị
Mai Nhâm đã khẳng định trong Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai
đoạn 1986 – 2000: “Bên cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, các nhà văn đã
“gia tăng sự chú ý” đến việc trình bày “con người trong diễn biến lịch sử” nghĩa là nhà
văn chú ý miêu tả các biến cố, sự kiện trong toàn bộ đời sống, đặc biệt là đời sống tinh
thần, đời tư, tâm hồn con người. Cái mà họ quan tâm không phải là chiến tranh xảy ra
như thế nào mà trong chiến tranh, sau chiến tranh người ta sống như thế nào”. Đây
cũng là những điểm mới của tiểu thuyết viết về cuộc chiến đã qua.
Ngoài kết cấu hệ thống hình tượng nhân vật thì trong kết cấu hình tượng không
gian và thời gian cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý. Nguyễn Thanh Tú đã
tìm ra Năm mô hình không gian trong tiểu thuyết sử thi hôm nay là không gian chiến
trường – cái nhìn bi kịch hóa, không gian đời thường – cái nhìn đời tư hóa, không gian
tâm lý – cái nhìn trữ tình hóa, cảm thương hóa, hình tượng thiên nhiên – xu hướng
biểu tượng hóa.
Không gian tiểu thuyết được mở rộng có thể là không gian chiến trường rộng
lớn, cũng có thể là không gian sâu lắng trong tâm hồn con người.

6


Như vậy, nhân vật thường được đặt trong không gian sinh hoạt đời tư, con người
trực tiếp đối diện với những vấn đề cá nhân mình, bản chất cá nhân được tự do lên
tiếng, làm cho con người gần “người” hơn còn thời gian tiểu thuyết hiện đại nói chung
trong đó có tiểu thuyết về đề tài chiến tranh đã sử dụng khuynh hướng đảo tuyến kết

nghiên cứu về nó một cách sâu sắc toàn diện nhất là phương diện kết cấu.
Chúng tôi mong muốn sẽ nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện hơn về sự
đổi mới phương diện kết cấu và các yếu tố cấu thành kết cấu của tiểu thuyết hôm nay
về đề tài chiến tranh.
III. Mục đích và phạm vi đối tượng nghiên cứu
1. Mục đích nghiên cứu
1.1. Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm củng cố chắc thêm vấn đề
lý luận về kết cấu của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh.
1.2. Xác định được vai trò của kết cấu trong việc thể hiện những giá trị nội dung
tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện từ góc độ thể loại – tiểu thuyết sử thi và những
khuynh hướng vận dụng đa dạng phức tạp của các yếu tố cũng như mối liên hệ giữa
các yếu tố cấu thành nên tiểu thuyết về đề tài chiến tranh.
1.3. Nhận diện và cắt nghĩa sự xuất hiện của các yếu tố cấu thành nên kết cấu
tiểu thuyết. Từ đó chứng minh tính hiện đại mới mẻ của nó đồng thời làm rõ sự vận
động về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam những năm gần đây.
2. Đối tượng nghiên cứu
Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh - nhìn từ phương diện kết cấu. (trên cứ liệu
những tiểu thuyết tiêu biểu được giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng 2004 –
2009).
8


3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những tiểu thuyết sử thi được giải thưởng của Hội nhà
văn và Bộ Quốc phòng từ 2004 – 2009.
Cụ thể là các tác phẩm sau:
Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Trí Chung)

Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang)


được những đổi mới về kết cấu của tiểu thuyết về chiến tranh giai đoạn 2004 – 2009.
3. Phương pháp thống kê phân loại
V. Đóng góp của luận văn
1. Góp phần khẳng định vai trò quan trọng của kết cấu trong tiểu thuyết hiện
nay 2004 - 2009
2. Chỉ ra những biểu hiện cụ thể của kết cấu tiểu thuyết hiện nay.
VI. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tư liệu tham khảo nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý thuyết chung về kết cấu.
Chương 2: Hình tượng nhân vật và hình tượng không gian, thời gian.
Chương 3: Điểm nhìn cảm hứng lời văn giọng điệu.

10


CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KẾT CẤU
I. Khái niệm “Kết cấu”
Như chúng ta đã biết, kết cấu là một khái niệm khá phức tạp từ xưa đến nay,
mỗi tác phẩm lại có một cách kết cấu riêng nhằm phù hợp với những tư tưởng, chủ đề
khác nhau.
I.1. Kết cấu của tác phẩm văn học có từ rất lâu trong các tài liệu nghiên cứu của
các nhà lý luận cổ đại và được hiểu rằng: Kết cấu là cách sắp xếp, tổ chức để tạo ra
hình tượng nhân vật hay cốt truyện biểu hiện nhân vật đó. Hay nói cách khác, kết cấu
là sự tổ chức hình thức bên ngoài, kết cấu bề mặt của tác phẩm.
Ở Phương Đông, các nhà lý luận Trung Quốc gọi kết cấu bằng rất nhiều thuật
ngữ “Bố cục”- sự xắp xếp các bộ phận, “Phân bố”- sắp ra bề mặt hay “bố trí” – sắp
xếp thứ tự. Cách bắt đầu hay kết thúc một bài văn… là những hình dung đầu tiên về
kết cấu của tác phẩm. Ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tác giả Nhữ
Bá Sĩ đã khẳng định không có kết cấu thì không thành văn chương.

Theo tác giả Trần Đình Sử, có ba nguyên tắc mà kết cấu phải phục tùng:
Một là “Kết cấu phải phục tùng yêu cầu biểu đạt tư tưởng” [40; 130]
Bất kỳ một nhà văn nào khi lựa chọn kết cấu cũng phải nhằm nâng cao sức biểu
hiện của đề tài và chủ đề, tăng cường sức tác động nghệ thuật phục vụ tối đa cho
nhiệm vụ nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm.
Hai là “Kết cấu phục tùng việc xây dựng hình tượng nhân vật” [40; 111]

12


Vì xét ở bình diện cá thể nhân vật với tính cách, số phận, ý nghĩa nhân sinh văn
có thể nựa chọn một giai đoạn hay một phương diện nhất định của cuộc đời nhân vật
để tập trung miêu tả.
Còn nếu xét ở bình diện mối quan hệ giữa các nhân vật trong hệ thống nhân vật
của tác phẩm thì có thể nhận thấy sự chi phối của các mối quan hệ này với kết cấu của
nó. Nếu tác phẩm khai thác hai tuyến nhân vật đối lập hoặc song song hoặc kết hợp cả
hai, kết cấu tác phẩm cuãng được triển khai theo mô hình này, có thể thấy rõ trong
chuyện cổ tích, truyện nôm hoặc trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng…
Hoặc trong “ Chiến tranh và Hòa bình” trong “ Tấn trò đời” thì LepTônxtôi và
Banzắc đã tái hiện bức tranh xã hội rộng lớn với nhiều hạng người, nhiều mối quan hệ
đan xen phức tạp. Điều này cho thấy kết cấu tác phẩm sẽ sử dụng hình thức đa tuyến,
đa chiều.
Ba là ‘’Kết cấu đạt đến sự hoàn chỉnh [40, 114]
Đây là một nguyên tắc quan trọng của kết cấu tác phẩm. Ba yếu tố này không
phải là mẫu số chung cho tất cả các kiểu kết cấu mà tùy thuộc vào nội dung tư tưởng
và cách lựa chọn các yếu tố hiện thực để cấu thành tác phẩm cảu nghệ sĩ mà xây dựng
sự hoàn chỉnh hay dang dở, thẩm mĩ của kết cấu.
Như vậy, để hiểu được khái niệm kết cấu, để nắm được các nguyên tắc kết cấu
của nó, chúng ta cần phải có sự linh hoạt khi tìm hiểu tác phẩm. Bởi không phải tác

phân biệt kết cấu như một phương diện hình thức của tác phẩm văn học với kĩ thuật,
thi pháp. Tuy nhiên những hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học bao giờ cũng rất
đa dạng và phong phú. Có thể thấy sự khác nhau giữa thể loại này với thể loại khác và
14


mỗi giai đoạn lịch sử cũng có thể có hình thức kết cấu khác nhau nhằm đáp ứng yêu
cầu của mỗi giai đoạn, nhưng nhìn chung, các nhà văn khi lựa chọn kết cấu cho tác
phẩm của mình bao giờ cũng nhằm để thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm. Giúp
cho người đọc có thể tìm thấy vẻ đẹp của từng tác phẩm ấy. Cho nên khi nói tới hình
thức kết cấu có thể kể đến một số kiểu kết cấu đã và đang xuất hiện trong lịch sử văn
học

.
Một là kết cấu theo trình tự thời gian
Là kiểu kết cấu theo trật tự thời gian tuyến tính của sự kiện. Câu chuyện được

trình bày theo thứ tự từ trước đến sau. Các sự kiện được sắp xếp xâu chuỗi lại và lần
lượt xuất hiện không bị đứt quãng. Hầu hết những tác phẩm chương hồi đều sử dụn lối
kết cấu thời gian tuyến tính. Tác phẩm được chia thành nhiều chương, hồi theo sự phân
bố về mặt hành động và sự kiện của cốt truyện. Đồng thời mỗi chương, mỗi hồi đều gắn
liền với một giai đoạn nào đó của cốt truyện và nhiều khi khá trọn vẹn. Loại kết cấu này
giúp người đọc dễ theo dõi câu chuyện nhưng nhiều khi tạo cảm giác đơn điệu.
Hai là kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối lập hoặc song song.
Nếu sáng tác theo lối kết cấu này thì nhà văn thường xây dựng hai tuyến nhân
vật phản diện và chính diện, đối lập nhau về chính kiến, đạo đức và hành động. Hai
tuyến nhân vật này thương một bên là đại diện cho lực lượng chính nghĩa còn bên kia
thì đại diện cho những gì xấu xa nhất. Đồng thời hai lực này luôn đấu tranh không
khoan nhượng với nhau và thường kết thúc với thắng lợi của lực lượng chính nghĩa.
Điểm nổi bật của kết cấu này là chỉ rõ chủ đề tư tưởng thông qua so sánh đối

truyện, điểm mốc thời gian phát ngôn không phải quá khứ mà cũng không hẳn hiện
tại, nó thuộc ranh giới giữa hai chiều thời gian ấy. Cho nên thời điểm phát ngôn có
tính chất lưỡng phân vì điểm mốc này là hiện tại nhưng lại là tương lại so với quá khứ
16


được hồi tưởng và quá khứ so với tương lai sắp xếp được kế tiếp theo. “Quá khứ và
hiện tại không phải như những mảnh lắp ghép lại theo một trình tự không gian, theo
đường thẳng mà chồng chéo lên nhau” [10, 95]
Chúng ta có thể thấy, các hình thức kết cấu là phong phú đa dạng đến đâu cũng
chỉ là hữu hạn. Ở từng tác phẩm, nhà văn có thể vận dụng nhiều hình thức kết cấu
khác nhau. Vì vậy, không thể quy những tác phẩm cụ thể vào cùng một dạng kết cấu
riêng biệt nào mà cần phải xem xét tác động nghệ thuật của kết cấu đối với người đọc
cũng như chức năng cụ thể của nó trong việc thực hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

1.2. Kết cấu tiểu thuyết hiện đại
Tiểu thuyết là thể loại văn học tiêu biểu cho loại hình tự sự, đóng vai trò là chủ
lực trong nền văn học hiện đại.
Theo Sartre thì tiểu thuyết hiện đại là tiểu thuyết chứa đầy sự suy ngẫm về bản
thân nó.
Tiểu thuyết hiện đại đã và đang dần phá vỡ những hệ trình cũ với kỹ thuật, thủ
pháp riêng, định hình những kiểu kết cấu mới tạo ra hiệu quả thẩm mĩ cao. Nhà phê
bình Pháp Tadie cho rằng các nhà văn hiện đại thường vận dụng một kiểu lắp ghép
(montage) quá khứ (có khi là hết sức xa xôi) và hiện tại của nhân vật, hành động luôn
luôn chuyển từ thời gian này sang thời gian khác. Nhưng mối quan hệ bên trong mang
ý nghĩa khác – Cảm xúc tức là liên hệ kết cấu giữa các tình tiết truyện, có lúc lại có
chức năng quan trong hơn so với các mối liên hệ thời gian, nhân quả của bản thân cốt
truyện đây là “kiểu kết cấu mở” của một tác phẩm mở, cho phép sự cắt dán, lắp ghép
bấp bênh , chưa hoàn tất.
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào trong cuốn “Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết

18


Hơn thế nữa, chúng ta phải nhắc đến một kết cấu của tư tưởng hiện đại đó là kết
cấu liên văn bản hay còn gọi là “Tiểu thuyết trong tiểu thuyết” - Đây là một kết cấu
phức tạp và có thể gọi đó là đa kết cấu bởi tại thân mỗi truyện cũng là một tổ chức
chịu sự chi phối của một tổ chức lớn là câu chuyện bao trùm. Vì lẽ đó truyện đi theo
kết cấu này thường có chủ đề nằm trong một chủ đề chung. Kết cấu này đòi hỏi ngưòi
kể phải biết xâu chuỗi các câu chuyện cho thống nhất trong một chỉnh thể.
Tuy nhiên, đa kết cấu không có ý nghĩa là các tổ chức câu chuyện gắn với nhau
theo lối cơ học giản đơn, hết chuyện này đến chuyện khác mà câu chuyện này lại là
nguyện nhân hay hệ quả của câu chuyện kia. Nó ràng buộc chi phối lẫn nhau cùng
hướng về chủ đề chung của tác phẩm.
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, các tác giả
cũng tiếp thu và thể nghiệm những đặc điểm của lối kết cấu hiện đại với tư duy hiện
đại khai thác tối đa các yếu tố cấu thành nên kết cấu bằng những hình thức nghệ thuật
độc đáo, đặc sắc, không lặp lại người khác cũng như lặp lại chính mình. Cho nên
nhiều tác giả của tiểu thuyết hiện đại đều lựa chọn cho mình một kiểu kết cấu riêng.
Phạm Thị Hoài thông qua bút pháp huyền thoại pha trộn trào phúng, soi thế giới vào
tấm gương cong hay mô hình hóa toàn bộ trạng thái hiện sinh của con người đã công
khai đi ngược lại nguyên tắc miêu tả hiện thực kiểu truyền thống. Nguyễn Huy Thiệp
thường đề cập tới lối kể chuyện khơi gợi tối đa sự liên tưởng của người đọc và lối kể
chuyện phi ngã. Ma Văn Kháng, Phạm Hải Vân, Hòa Vang thì sử dụng các yếu tố kỳ
ảo trong mạch kể của mình.
Châu Minh Hùng có bài viết “Tìm kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi
hiện đại qua tổ chức truyện của Nguyễn Huy Thiệp” đã nghiên cứu hiện tượng đa thanh
như một nguyên tắc tổ chức kết cấu của văn xuôi hiện đại qua phân tích tác phẩm của
Nguyễn Huy Thiệp. Những đối thoại đa thanh tự nhiên tuôn chảy, không bị gò bó trong
một khuôn khổ cứng nhắc chuẩn mực. Do đó cốt truyện chỉ là cái cớ, trôi đi nhợt nhạt,
không có vai trò trong việc kiến tạo kết cấu “Lối kể chuyện của Nguyễn Huy Thiệp

20


CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT VÀ HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN,
THỜI GIAN
I. Hình tượng nhân vật
I.1. Nhân vật tập thể

21


Viết về chiến tranh đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho rất nhiều nhà văn,
nhà thơ và đã rất nhiều tác giả viết thành công với những tác phẩm có giá trị hôm nay,
chúng ta sẽ thấy sự thành công của Bùi Bình Thi với “Xiêng khoảng mù sương”,
Nguyễn Trí Chung với “Tiếng khóc của nàng Út” Hữu Mai với “Không phải huyền
thoại”, Văn Lê với “Mùa hè giá buốt”, Bùi Thanh Minh với “Cõi đời thực hư” ,
“Mạch máu của rừng” của Nguyễn Tiến Hải và Nam Hà với “Thời hậu chiến”
Họ viết về chiến tranh, nhưng là lúc chiến tranh đã lùi xa hàng mấy chục năm.
Thế nhưng những cảm xúc về chiến tranh như chưa bao giờ ngừng tuôn chảy. Họ viết
mà cảm thấy tự hào về những chiến công hiển hách nhưng không khỏi đau đớn tiếc
thương cho những mất mát của dân tộc của nhân dân. Họ viết về ai, viết về những
người đã làm nên những chiến thắng vang dội của dân tộc. ấy chính là nhân dân- Họ
đã tạo thành một sức mạnh không gì có thể sánh được. Họ đều hướng tới mục tiêu
chung của đất nước; Độc lập- Tự Do
I.1.1.Tinh thần tất cả vì cách mạng
Trong chiến tranh, tập thể quần chúng nhân dân chính là nguồn sức mạnh lớn
lao và là lực lượng góp phần quan trọng làm nên những chiến thắng. Vì vậy ở hầu hết
các tác phẩm về chiến tranh, các nhà văn đã chỉ ra vai trò to lớn của quần chúng trong
tác phẩm của mình. Ở chiến trường họ anh dũng kiên cường, ở hậu phương họ bền
gan, gắng sức hết mình vì tiền tuyến. Sức manh kiên cừng bền gan, gắng sức của nhân

thần này không chỉ thể hiện ở việc lên đường nhập ngũ mà còn thể hiện ở tinh thần lao
động tích cực, hàng ngày họ làm việc không kể ngày đêm, không quản khó khăn gian
khổ, tất cả vì cách mạng.
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, quần chúng nhân dân luôn sát
cánh cùng các cán bộ chiến sĩ để làm nên tinh thần đoàn kết bất diệt. Đoàn kết là sức
mạnh để có những chiến thắng vang dội. Những ngày gian khổ hy sinh, quần chúng đã
“Cắn răng chịu đựng, vượt qua những ngày thê thảm. Đói khát nằm hầm bí mật, nằm
23


ngay dưới ao bèo, ăn cám lợn”. Khi bị đàn áp họ tự nói với lòng mình; Bằng mọi cách
phải sống, phải gây dựng lực lượng. Cho nên đọc “Thương Đức” của Nguyễn Bảo
Trường Giang, chúng ta không bao giờ quyên hình ảnh cảnh đối đàu với kẻ địch của
quần chúng nhân dân “Những bà mẹ lao lên trước mũi xe ủi của thằng địch, tay cầm
quốc, tay xách can xăng “ Mày cứ nghiến vào đây. Tao chết mày chết. Những chị gái
ôm con nhỏ trong lòng lăn ra ngay trước xe bọc thép của địch. Những đoàn học sinh,
sinh viên trẻ măng phơi phới tuổi xuân rầm rập xuống đường biểu tình, đấu tranh.
Súng địch xả vào họ” [17,256]. Trong cuộc kháng chiến không cân sức giữa ta và địch
ấy, thật cảm phục sự hy sinh và tinh thần dũng cảm vì cách mạng của dân tộc. Của các
bà, các mẹ, các anh chị một thời máu lửa sẵn sàng xả thân vì đất nước.
Dù cuộc chiến còn đầy khó khăn và gian khổ, dù hậu phương phải chịu bao
nhiêu cơ cực nhưng quần chúng nhân dân vẫn luôn hết lòng vì tiền tuyến vì Miền
Nam ruột thịt. Hình ảnh những bà mẹ với mái tóc bạc phơ, nét mặt siêu thoát nhân từ
những ngón tay nhăn nheo trong “Khúc bi tráng cuối cùng” của Chu Lai đang dõi về
nơi người con của vùng đang chiến đấu với rất nhiều niềm tin và hy vọng vào một
ngày mai thắng lợi, vào sự trở về của những đứa con. Trong “Tiếng khóc của nàng út”
Nguyễn Trí Chung đã giúp bạn đọc thấy được tinh thần vì cách mạng, vì nhân dân, vì
dân tộc của gia đình ông bà Sang. Họ đã bất chấp kẻ địch rình rập, đe dọa nhưng gia
đình ông vẫn tạo điều kiện để các đồng chí cán bộ có thể họp bí mật tại nhà mình. Ông
bị kẻ thù bắt trói ở chợ, hành hạ đến chết. Nhưng không một lời khai, ông còn chửi

truyền để họ nhận thức được. Tuy nhiên trong bộ tộc ấy vẫn có rất nhiều mang tinh
thần hướng về cách mạng như Vàng Seo Mẩy. Vàng Seo Mẩy đã tập hợp được một
đội du kích đông và mạnh “cháu dự đoán phải ba, bốn trăm tay súng. Bây giờ mà bà
Vàng kiếm được quân phục Pathét cho họ mặc, là bà Vàng có mấy tiểu đoàn quân
chính ngay. Lính AC2 của cháu hồi cháu còn làm cái việc bảo vệ vòng ngoài Long
Cheng, chúng nó sợ gặp phải du kích của bà Vàng như sợ gặp phải con hổ ấy… Toàn
bộ vùng rừng núi chỗ bà Vàng Seo Mẩy coi như lính của thiếu tướng Vàng Pao
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status