THƠ NHƯ LÀ MỘT BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TRUYỆN KỂ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU (TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ) - Pdf 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Mục đích nghiên cứu
Thể loại truyện truyền kỳ là một trong những thành tựu văn học độc
đáo của các quốc gia khu vực Đông Á thời trung đại. Tiếp thu thể loại từ văn
học Trung Quốc, truyện truyền kỳ Việt Nam có một quá trình hình thành và
phát triển nội sinh gắn liền với văn hóa và văn học dân tộc. Truyện truyền kỳ
Việt Nam đã khẳng định được vị trí của nó, đánh dấu bước nhảy vọt về chất
cho văn xuôi tự sự bằng chữ Hán của nước ta. Trong kho tàng truyện truyền
kỳ rất có giá trị ấy Thánh Tông di thảo (TTDT),Truyền kỳ mạn lục (TKML) và
Truyền kỳ tân phả (TKTP) được coi là những mốc son quan trọng đánh dấu
sự phát triển vượt bậc của loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại.
Ra đời vào thời kỳ đột khởi của văn xuôi tự sự; TTDT,TKML và TKTP đã
bắt đầu cuộc hành trình nghệ thuật của mình với những quan điểm mới, tư
tưởng mới đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn trung đại Việt Nam từ
văn học mang tính chức năng sang văn xuôi nghệ thuật. Chính vì vậy việc
nghiên cứu TTDT, TKML và TKTP là việc làm có ý nghĩa nhằm khám phá
đầy đủ hơn nữa các giá trị của ba tập truyện này.
Thế kỷ X – XIV văn xuôi tự sự đặc biệt là truyện truyền kỳ vẫn chưa
tách khỏi văn học dân gian và văn học chức năng. Sang đến thế kỷ XV, truyện
truyền kỳ đã có sự “đột khởi” rõ rệt, từ truyện mang nặng tính dân gian và
chức năng tôn giáo đã dần chuyển sang các sáng tác giàu tính nghệ thuật và
phản ánh được hiện thực đương thời. Yếu tố kỳ ảo không còn được dùng một
cách tự phát mà có ý thức, trở thành phương tiện nghệ thuật để diễn tả nội
dung mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đặc biệt sự kết hợp giữa thơ ca và văn
xuôi đã mở rộng chiều phản ánh hiện thực, tạo nên nét riêng cho văn xuôi tự
sự thế kỷ XV – XVII. Giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX, việc đưa thơ ca vào văn
xuôi đã mở ra hai hướng: hoặc đưa nhiều thơ vào truyện như Truyền kỳ tân
phả của Đoàn Thị Điểm, hoặc giảm bớt tối thiểu như Lan trì kiến văn lục của
Vũ Trinh. Chính sự xâm lấn thể loại từ thơ sang văn xuôi này đã tạo ra nhiều
1




Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu trực tiếp đề cập tới
vấn đề thơ ca trong truyện truyền kỳ:
GS. Trần Đình Sử trong công trình “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung
đại Việt Nam” có đánh giá rằng: “Truyện truyền kỳ Việt Nam như Thánh
Tông di thảo của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền
kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm đánh dấu sự chín muồi của nghệ thuật tự sự
Việt Nam”. Đặc biệt ông cũng có nhiều ý kiến đánh giá khi nghiên cứu thơ
trong những tác phẩm truyền kỳ thời kỳ này: “Nội tâm, cảm giác của nhân vật
được thể hiện bằng thơ, các nhân vật hầu hết đều làm được thơ…Tuy nhiên
chưa hẳn tác giả đã ý thức được đầy đủ về đời sống nội tâm của nhân vật, bởi
vì thơ chỉ được xem như một nhã thú của đời sống tinh thần, một yếu tố ngoài
cốt truyện có tính chất tĩnh tại, không phải là nội tâm khi hành động nói
năng… Đời sống nội tâm của nhân vật tuy đã được biểu lộ qua thơ song chưa
tham gia vào cốt truyện, chưa có ý thức thúc đẩy cốt truyện, chưa có cốt
truyện tâm lý… thơ trong các cuộc đối thoại chỉ là phương tiện để tỏ chí,
ngôn chí.”
Riêng về “Truyền kỳ tân phả” GS.Trần Đình Sử cho rằng: “Truyền kỳ
tân phả đầu thế kỷ XVIII của Đoàn Thị Điểm cùng loại với Truyền kỳ mạn
lục nhưng rườm lời hơn, thơ ca thù tạc lại quá nhiều làm loãng thú truyện…
Có thể xem đây như là một thể loại truyện – thơ hợp thể, trong đó yếu tố
truyên đóng vai trò sáng tạo tình huống để tác giả thi thố tài thơ và đặc điểm
này phản ánh hứng thú và sinh hoạt văn thơ đương thời của các văn sĩ”
PGS.TS Nguyễn Đăng Na với công trình “Con đường giải mã văn học
Trung đại Việt Nam” đã có những ý kiến rất sâu sắc về vấn đề này: “sẽ là
khiếm khuyết nếu bỏ qua đặc điểm này của truyện ngắn thế kỷ XV – XVII: sự
đan xen giữa văn xuôi với thơ ca…Người thì cho rằng tài năng của tác giả thể
hiện ở chính những bài thơ, ca, từ, hành; người thì bảo đấy là hình thức dung
hòa giữa phương thức tự sự với trữ tình. Song cũng có người khẳng định, nếu

Như vậy các tác giả đã ít nhiều nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa thơ ca
và văn xuôi nhưng mới chỉ là dừng lại ở mức độ đề cập đến vấn đề một cách
khái quát, đánh giá chung nhất mà chưa đi sâu vào phân tích có hệ thống vấn
4


đề trên mức độ cụ thể để hoàn thiện bức tranh truyện truyền kỳ Việt Nam.
Nhưng những ý kiến nghiên cứu ấy đã gợi dẫn để chúng tôi triển khai đề tài
mở rộng phạm vi tìm hiểu, khảo sát toàn bộ thơ trong ba tác phẩm truyền kỳ
đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tất cả các bài thơ, câu thơ trong ba tác phẩm truyện truyền kỳ
-Truyện Thánh Tông di thảo bao gồm 46 bài thơ có trong 12 truyện
-Truyện Truyền kỳ mạn lục bao gồm 46 bài thơ có trong 11 truyện và một số
cặp câu thơ có trong truyện Cuộc nói chuyện ở Kim Thoa.
-Truyện Truyền kỳ tân phả bao gồm 80 bài thơ có trong 4 truyện.
Đặc trưng của văn học trung đại là tính đa dị bản. Để thuận lợi cho quá trình
nghiên cứu thống nhất, chúng tôi căn cứ vào ba cuốn tài liệu : “Thánh Tông di
thảo” do Nguyễn Bích Ngô dịch và chú thích, Phạm Văn Thắm giới thiệu của
Nhà xuất bản văn học Hà Nội 2001. “Truyền kỳ mạn lục” do Trần Thị Băng
Thanh giới thiệu và chỉnh lý của Nhà xuất bản văn học Hà Nội 2001. “Truyền
kỳ tân phả” do Ngô Lập Chí và Trần Văn Giáp dịch và chú thích, Hoàng Hữu
Yên giới thiệu của Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Hồng Bàng 2013.
3. 2.Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò chức năng của thơ trong ba tập truyện
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp hệ thống
Phương pháp phân tích tổng hợp



PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỰ KẾT HỢP GIỮA THƠ CA VÀ VĂN XUÔI
TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM
I.1.Sự kết hợp giữa thơ ca và văn xuôi trong lịch sử văn học Trung Quốc
Sự kết hợp trên nhiều phương diện giữa thơ và văn xuôi trong cùng một
tác phẩm tiềm tàng khả năng mang lại sự đa dạng về sắc thái thẩm mỹ cho tác
phẩm. Trong lịch sử văn học trên thế giới, sự kết hợp này đã có từ rất lâu. Đặc
biệt với văn học Trung Hoa nói chung và sự hình thành phát triển tiểu thuyết
cổ điển Trung Hoa nói riêng thì đây không còn là một hiện tượng xa lạ. Vốn
là đất nước của thơ ca, người Trung Hoa ưa thích chen những đoạn thơ ca vào
giữa những lời văn xuôi. Ngay từ thời Đường, ta thấy giữa những đoạn truyện
truyền kỳ có sự xuất hiện của một vài đoạn thơ, bài thơ nho nhỏ. Điều đó
cũng thật dễ hiểu nếu ta biết về môi trường diễn xướng của truyện kể của đất
nước này. Ngoài việc được ấn hành trên giấy, ở Trung Hoa còn một hình thức
lưu truyền truyện kể nữa, đó là thông qua những nghệ nhân dân gian. Những
đoạn thơ được chen vào giữa những lời kể nhằm mục đích thư giãn giữa tình
tiết gay cấn hồi hộp, lại vừa tạo thêm dáng phong nhã cho câu chuyện,hay
cũng có thể là phương tiện bộc lộ nội tâm tính cách nhân vật,là “móc xích”
cho những diễn biến những tình tiết trong câu chuyện. Cũng không phải chỉ
có những truyện giai nhân tài tử mới có đoạn thêm thắt thơ ca vào mà ngay cả
những truyện phiêu lưu, lịch sử, chí quái, phong tục cũng vẫn có thơ như
trường hợp của Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Kim Bình Mai. Những bài thơ,
câu hát này có khi không ăn nhập gì với chuyện kể, nhân vật cả, như trường
hợp mấy bài ca Di muội khúc, Thái liên khúc rất thanh thoát tình tứ trong
Kim Bình Mai ; nhưng cũng có trường hợp thơ ca lại trở thành một phương
tiện đắc dụng dùng để miêu tả tâm tính nhân vật. Loại thơ này nếu tách đứng
riêng ra một mình, nó khó mà có chỗ đứng trong làng thơ Trung Hoa vốn đã
quá nhiều những tuyệt phẩm. Tuy nhiên nếu biết đặt nó một cách hợp lý trong

Truyện có rất nhiều bài thơ ngắn vịnh các nhân vật và sự kiện diễn ra. Thêm
vào đó là những bài thơ tả cảnh để làm câu chuyện có sự giãn nở với nhịp
8


điệu thư thả sau những hồi gay cấn căng thẳng. Cùng với những bài thơ ấy,
những khổ thơ bài tỏ ý kiến đánh giá của người viết truyện về các nhân vật,
các sự kiện thể hiện rất rõ ở những câu thơ cuối mỗi hồi.
Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân cũng là một tác phẩm chứa đựng sự dung
hợp giữa hai thể loại thơ và văn xuôi trong cùng một cuốn tiểu thuyết. Cuốn
tiểu thuyết dày dặn ấy có tới 303 bài thơ chưa kể những câu thơ mang chức
năng bình luận đánh giá ở cuối mỗi chương. Khi đọc Tây Du Kí ta bắt gặp rất
nhiều bài thơ tả cảnh, tả tình làm tăng thêm phần hấp dẫn của câu chuyện.
Chẳng hạn nếu xét bài thơ này trong một vị trí đơn lẻ, người ta sẽ bảo lời lẽ
sao mà xoàng xĩnh, ý tứ sao mà cũ kỹ đến vậy:
Đào lý phương phi lê hoa tiếu
Chẩm tỷ ngã chi đầu xuân ý náo
Thược dược a na lý hoa tiêu
Chẩm tỷ ngã vũ nhuận hồng tư kiều
Hương trà nhất trản nghinh quân đáo
Tinh nhi dao dao
Vân nhi phiêu phiêu
Hà tất tây thiên vạn lý dao ?
Hoan lạc tự tại kim triêu
(Dịch nghĩa :
Đào mận ngát hương, hoa lê hé nở
Sao bằng được em : trên cành ý xuân xốn xang rạo rực
Hoa thược dược mềm mại, hoa mận xinh tươi
Sao bằng được em : mưa thấm ướt cánh sen hồng thuỳ mỵ đẹp đẽ
Trà thơm một chén đón chàng đến

Nước non đã vực anh tài,
Sá chi luồn cúi thiệt đời bồng tang;
Tiếng hào còn để làm gương,
Trăm năm thẹn chết những phường tham ngu.

10


Hồng Lâu Mộng là một trong những cuốn tiểu thuyết có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa thơ ca và văn xuôi tạo nên những hiệu quả nghệ thuật phá
vỡ đi những ranh giới của thể loại. Thơ ca trong tác phẩm của Tào Tuyết Cần
đạt được cả hai mặt nội dung và nghệ thuật. Như vậy tác giả đã vừa hoà mình
vào xu thế chung của thời đại với việc đưa thi ca vào tiểu thuyết lại vừa tạo
được bản sắc riêng cho những bài ca ấy. Những bài thơ trong Hồng Lâu
Mộng tuy là mượn lời nhân vật làm ra nhưng đều do Tào Tuyết Cần sáng tác.
Thơ ca trong tác phẩm của Tào Chiêm không phải chỉ là để giữ nhịp thư thái
cho giọng truyện nữa mà trở thành một công cụ đắc lực, gắn chặt với cốt
truyện và trở thành một phần không thể thiếu được trong truyện.
Thơ ca trong Hồng Lâu Mộng là phương tiện diễn tả cuộc sống phong
lưu nhà họ Giả. Đó là một gia tộc quyền quý, có đời sống phong lưu. Ngay cả
cách hưởng thụ của họ trong từng cuộc vui cũng thể hiện được nét tinh tế
trong thẩm mỹ của họ, nhất là ở những nhân vật nữ trong khuê các. Mật độ
xuất hiện dày dặc của những cuộc đố thơ, nối thơ, vịnh cảnh, đề câu đối, làm
từ khúc, chơi tửu lệnh cho thấy cuộc sống của gia tộc này nhàn nhã mà hưởng
lạc phú quý đến đâu. Chưa bao giờ trong tiểu thuyết Trung Hoa lại chứng
kiến một cuộc phô bày thơ ca với mật độ dày đặc đến vậy. Có thể nói hết ¼
tác phẩm chìm trong thơ ca. Thi ca thành ra một phần không thể tách rời trong
cuộc sống phủ Giả. Một mặt nó chứng minh về sự sang trọng trong đời sống
tinh thần cũng như vật chất nơi nhà họ Giả, mặt khác nó cũng cho thấy những
người con gái trong họ này rất thông tuệ, tài hoa chứ không phải là bọn giàu

gọi bống. Một bài thơ rất giản dị nhưng chan chứa tình yêu thương:
Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.
Bài thơ vừa thể hiện tấm lòng thơm thảo của cô Tấm nhưng đồng thời khiến
cho câu chuyện có “điểm nhấn” và thêm phần hấp dẫn. Đó còn là những câu
thơ bộc lộ nỗi niềm căm phẫn của Tấm:
-Phơi áo chồng tao,
Phơi lao phơi sào,
12


Chớ phơi bờ rào,
Rách áo chồng tao.
-Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị,
Chị khoét mắt ra.
Những câu thơ như thế này nó không chỉ thể hiện tâm trạng của Tấm mà nó
còn dự báo kết thúc cho câu chuyện. Tấm càng ngày càng chủ động đấu tranh
giành lại hạnh phúc. Còn Cám thì ngày càng bộc lộ sự ghanh ghét, độc ác
nhẫn tâm của mình. Vì thế kết thúc truyện là kết thúc tất yếu. Ta cũng bắt gặp
rất nhiều truyện cổ tích như Tấm Cám có sự kết hợp giữa thơ và văn xuôi như
thế: truyện Po Khẩu, Hơ Mành chém rắn thần, Sự tích củ mài và cây cơm xôi,
Lọ nước thần, Trâu và hổ, Em bé thông minh.v.v.v..
Sau này,hiện tượng kết hợp thơ trong tác phẩm văn xuôi được phục
sinh trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XX, đặc biệt mạnh mẽ
trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (sau nữa, trong tiểu thuyết
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo). Rất nhiều truyện ngắn vào loại đặc sắc của
Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu, Không có vua, Huyền thoại phố phường,
Kiếm sắc, Phẩm tiết, Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê...) đều


14


CHƯƠNG II: THƠ NHƯ MỘT YẾU TỐ TRONG KẾT CẤU TRUYỆN
KỂ
Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những
chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận...Tất cả những yếu tố, bộ
phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó
nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định..gọi là kết cấu. Nói cách
khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm
văn học. Kết cấu là yếu tố tất yếu của mọi tác phẩm. Nếu khái niệm cốt truyện
nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biến cố...trong tác phẩm tự sự
và kịch thì kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều.
Kết cấu truyện kể trung đại Việt Nam là một chỉnh thể chặt chẽ bởi
những chuỗi sự kiện. Thơ xuất hiện giữa những chuỗi sự kiện ấy như một yếu
tố liên kết đặc biệt quan trọng.
II.1.Thơ như là yếu tố dự báo trong kết cấu truyện kể của Thánh Tông di
thảo
Thơ đóng một vai trò không nhỏ trong truyện kể trung đại nói chung và
truyện truyền kỳ nói riêng.
Thơ tham gia vào tổ chức xây dựng cốt truyện. Ở đó nó đóng một vai
trò không thể thiếu. Nó tham gia kiến tạo những mô thức văn bản với nhiều
chức năng ý nghĩa khác nhau.
Trong Thánh Tông di thảo, thơ tham gia vào kết cấu truyện kể như một
mắt xích liên kết, sâu chuỗi các sự việc.
Truyện yêu nữ Châu Mai kể về câu chuyện tương phùng của yêu nữ tên
là Ngư Nương và Lương Nhân. Trước đây đời nhà Trần cuối niên hiệu Châu
Phong yêu nữ đã xuất hiện với nhiều hình quái gở, biến hiện, tác oai tác quái
cho bao nhiêu người mà không ai làm gì được. Khúc hát ai oán của nó không

Hôm hôm sớm sớm ai tri âm?
Lang quân hỡi lang quân
Lâm cùng từ đi, ai người thân?
Khí gươm Thiên Vương, hầu không lánh thân.
16


Lang quân hỡi lang quân!
Như vậy, lời bài hát đầu câu chuyện như là một điềm báo, báo hiệu
những diễn biến về sau. Nó giống như một lời thông báo trước để lý giải mọi
hành động của nhân vật. Cho nên hai bài ca trong câu chuyện có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, bổ sung tương ứng cho nhau để chi phối và lí giải toàn bộ
câu chuyện. Đúng như lời bàn ở cuối câu chuyện “Ngẫm nghĩ hai bài ca: bài
trước có “chồng xưa”, bài sau có “cách biệt”, ngờ rằng Ngư Nương và Lương
Nhân nguyện cùng nhau có duyên Chu Trần, khi chết hồn không tan, lâu ngày
thành yêu, đến bây giờ lại làm vợ chồng”. Nếu không có những bài thơ dự
báo và ẩn chứa những điều bí ẩn trong hành tung của nhân vật đó thì câu
chuyện diễn ra thiếu hấp dẫn và rời rạc.
Truyện hai nữ thần tuy chỉ có ba bài thơ xuất hiện nhưng nó cũng đóng
một vai trò không thể thiếu trong cốt truyện. Nó cũng ẩn chứa những nỗi niềm
thầm kín của nhân vật và báo trước những diễn biến về sau, lý giải hành động
của nhân vật. Truyện kể rằng vào hồi năm thứ tư niên hiệu Thuận Thiên
(1431) có hai người đàn bà hình dung và tung tích rất lạ ngồi trong một quán
chợ để xem bói và đoán số. Tung tích của họ đầy bí ẩn ở chỗ: mỗi hôm một
địa điểm “sáng ở chợ Thanh Xuân, chiều ở chợ Dừa, khi ra Kinh Ấp, khi về
Tràng An, không nhất định ở nơi nào” rồi “cả chợ chưa ai trông thấy họ ăn
uống ra sao. Hễ mặt trời lặn là họ ra về. Có kẻ hiếu kỳ dò theo, có ý muốn
xem họ trú ngụ nơi đâu nhưng chỉ được vài bước là chóng mặt ngã lăn không
theo được nữa”. Hình dung cũng rất lạ “tuy ăn mặc mộc mạc, quần nâu áo
vải mà gương mặt sáng sủa ưa nhìn. Nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ

Lên thiên cù cùng hoạn ngu
Kia kìa đỉnh núi tượng nàng Tô.
Hai bài thơ ẩn chứa nhiều tâm tình nỗi niềm của hai người phụ nữ. Có lẽ nó
cũng chính là tín hiệu để người thương nhớ nhận ra họ. Khi gặp được “công
thần” – một nhà Nho già họ mới thực sự kể lại đầu đuôi câu chuyện và mục
đích du ngoạn của mình. Người có tuổi chính là cháu dâu của Long Vương
lang thang đi tìm con trai của mình “Năm xưa chồng tôi có thích hương sen
trắng bị chàng Kim Lân bơi đến hồ Dâm Đàm chơi không ngờ gặp phải ngảy
18


Vương Thông xem đánh cá ở đó bị nó bắt được đem giết đi” “Mối giận Kim
Lân dốc sông ngòi,/Đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy”. Chính vì thế mà con
trai của người phụ nữ này xin đi báo thù cho cha “Bấy giờ nó cưỡi ngựa
không vẩy, rẽ nước lên trần

…”. Đúng như lời bài hát đầy ám ảnh:

Ngựa không vẩy! Ngựa không vẩy!
Con báo thù cha, ai rằng không phải
Cho nên người phụ nữ ấy cứ mải miết đi tìm con, chờ con “Từ bấy đến nay,
đã qua ba mươi sáu năm, tựa cửa chờ con, không nơi nương tựa, tôi đành giả
tiếng đi bói để chờ con. Hôm mới đây tôi đã được tin sau khi lên trần con tôi
thờ vua Lê rất được tin yêu. Nó đã từng làm thích khách lẻn vào dinh Vương
Thông nhưng ba lần đâm đều không trúng cả. Khi vua Lê giảng hòa với
Vương Thông, cho Thông được toàn thân về nước, con tôi nghĩ mệnh vua là
trọng, không dám trái mệnh vua thì thù cha không bao giờ trả được. Nó bèn
trông về thủy phu bái vọng tôi rồi treo cổ lên cây tự sát cách đây bốn năm
rồi”. Hóa ra người con vì chữ hiếu mà quyết báo thù cho cha, vì chữ trung mà
ngậm ngùi uất hận treo cổ tự vẫn không quay trở về. Còn người mẹ già vì nhớ

cậy nhờ nhà chú ruột. Còn nhỏ tính tình lười biếng ham chơi nên Chu Sinh bị
thím mắng nhiếc đuổi đi. Chu Sinh dọn về căn nhà hoang cũ của cha mẹ sống
một mình, hằng ngày người chú thương tình đem giấu tiền gạo đến cho và
khuyên giải nên về nhà sống cùng nhưng Chu Sinh không chịu. Bực tức và do
gia cảnh nghèo khó, người chú không chu cấp cho tiền gạo nữa. Giữa lúc đói
khát, Chu Sinh nằm mộng mình đến nước Hoa và được kết duyên cùng công
chúa Mộng Trang. Tuy kết duyên cùng nhau nhưng Chu Sinh không được
sống yên ấm trong cõi mộng mà đi đi về về trong cõi mơ thực. Không may,
nước Hoa bị giặc Ô Thước đe dọa xâm chiếm, Quốc Mẫu cùng công chúa
Mộng Trang và con trai Chu Sinh phải rời cố quốc. Tiễn biệt, công chúa
Mộng Trang có mười lạng vàng và lá ngọc đề bài thơ hẹn ước:
Nhất kiếm hoành thu lịch giản tuyền,
Nghĩ tương nhị tiểu thiếp song thiên.
Hoa cương đối ngạn ưng đông thượng,
Hồ Thủy lâm lưu thả hữu tuyền.
20


Nhất thập nhất triêu tiên túc hối,
Lục thiên thử dạ thoại tiền duyên.
Lương nhân vật tác mê hoa ý,
Điên đảo phùng quân thật ngũ niên.
Nghĩa là:
Một thanh gươm đương mùa thu vượt qua khe suối.
Định đem nhị tiểu tiếp vào song thiên.
Đến chỗ đối ngạn với núi Hoa thì nên rẽ về đông,
Tới ngòi Hồ thì quay về hữu
Ngày “nhất thập nhất” sẽ tiêu trừ túc hối;
Đêm “lục thiên” ấy sẽ nói chuyện về duyên trước.
Khuyên chàng đừng quá lòng mê hoa,

Sinh hiểu ra tất cả, bèn làm theo đánh tan được giặc và gặp lại Mộng Trang.
Nếu không có bài thơ thì hẳn Chu Sinh không đánh tan được giặc bởi bài thơ
như một kế sách, mưu kế được tính sẵn từ trước mà Mộng Trang đã giúp Chu
Sinh. Không có bài thơ ắt hẳn Chu Sinh cũng không tìm được Mộng Trang –
người vợ con gái bướm của mình. Bài thơ không chỉ là lời hẹn ước, lời tiên tri
đoán trước sự việc tương lai mà còn là sự định hướng cho nhân vật với những
hành động đã được định sẵn. Như vậy, thiếu bài thơ này thì câu chuyện đến
khi giặc Vũ Văn Hối sang xâm lược ắt hẳn sẽ kết thúc từ đó. Có thể nói, bài
thơ đã làm cho câu chuyện diễn tiến và sâu chuỗi các sự kiện một cách li kì
hấp dẫn.
II.2.Thơ như là yếu tố miêu tả trong kết cấu truyện kể của Truyền kỳ mạn
lục.
So với Thánh Tông di thảo, thơ trong Truyền kỳ mạn lục xuất hiện
nhiều hơn và cũng có vai trò nhiều hơn trong kết cấu truyện kể. Xưa nay
truyện tình yêu nam nữ với xã hội phong kiến là một điều không thể nơi lỏng
cũng không được phép tự do. Hơn nữa trong văn học trung đại Việt Nam vấn
đề này lại càng được câu thúc chặt chẽ. Tuy nhiên đến thể loại truyền kỳ Việt
Nam nói chung và Truyền kỳ mạn lục nói riêng thì thứ tình cảm riêng tư này
được nhìn nhận “thoáng hơn” dưới con mắt của Nguyễn Dữ. Có lẽ cũng bởi
22


vì “Con người trong giai đoạn trước thường là những bức chân dung nhìn
ngay ngó thẳng cứng nhắc trong các khuôn mẫu tam cương ngũ thường tam
tòng tứ đức, con người của tinh thần ý chí, tư giáo và giáo điều thì nay bước
vào văn học là những con người trần thế với da thịt và nhu cầu, hành động và
ước muốn chủ quan của nó. Tất cả bắt đầu một cách rõ rệt từ Truyền kỳ mạn
lục, một quan niệm mới về phản ánh con người đã xuất hiện. Con người đó
không phải là những tấm gương chói lóa về các anh hùng, liệt nữ lưu danh sử
sách mà là những con người của đời sống thực tế sôi động, cay nghiệt”

Mộng tàn gối bướm bâng khuâng lạc
Xuân hết cành quyên khắc khoải kêu
Đồng huyệt chưa tròn nguyền ước ấy,
Vì nhau một thác sẵn xin liều.
Những từ “măng ngọc vuốt ve”, “nghiêng xuyến trạm”, “trút hài thêu”,
“bâng khuâng lạc”, “khắc khoải kêu”… đầy sức gợi. Nó vừa gợi tả không
gian tình tứ của đôi lứa vừa gợi tả một cách cụ thể “cuộc ấp yêu”. Từng lời
thơ, ý thơ đều diễn tả cuộc tình ân ái hết sức thỏa mãn của đôi trai gái. Những
hình ảnh , ngôn từ được tác giả sử dụng khá táo bạo và lộ liễu nhưng đã gợi
nên rất chân thực cảnh chốn phòng loan của đôi lứa. “Xuân tận tam canh” là
khoảng thời gian đôi trai gai bên nhau nồng đượm đến tận canh ba (quá nửa
đêm). Cả không gian và thời gian đều miêu tả cảnh chốn phòng loan của đôi
lứa mang màu sắc tính dục rõ nét. Có thể nói đây là những câu thơ dường như
muốn thách thức với cả “bức tường trì kiên cố” của quan niệm phong kiến và
thơ ca trung đại. Nó cho thấy sự bất chấp mọi khuôn phép, lễ giáo phong kiến
của hai nhân vật khi họ say đắm thể hiện tình cảm với nhau. Không dừng lại ở
đó, Nguyễn Dữ còn cực tả hơn, cuộc hoan lạc ngày càng mãnh liệt hơn:
II
Giai kỳ nhẫn phụ thử lương tiêu
Túy bão ngân tranh bát phục khiêu…
Ngọc yến nhiệm dung trâm trụy kế,
Kim thuyền kỳ phạ thúc tiêm yêu.
Yên thư đường ngạc hồng do thấp,
24


Hãn thối mai trang bạch vị tiêu.
Tảo vãn kết thành loan phượng hữu,
Phong trần nguyệt tịch nhiệm chiêu yêu.
Dịch:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status