YẾU TỐ LẠ HÓA TRONG TIỂU THUYẾT CỦA PHẠM THỊ HOÀI VÀ NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU) LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM - Pdf 12

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
LỜI CẢM ƠN
Để có được bản luận văn hoàn chỉnh này, em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành sâu sắc đối với sự hướng dẫn tận tâm, chỉ bảo
chu đáo của thầy hướng dẫn – PGS. TS Trương Đăng Dung.
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong tổ lý luận
văn học, thầy giáo, cô giáo của Viện nghiên cứu văn học, thầy giáo,
cô giáo cán bộ của phòng sau đại học – Đại học sư phạm Hà Nội 2
đã nhiệt tình giảng dạy, công tâm tạo điều kiện giúp đỡ về thủ tục
hành chính cũng như các giấy tờ cần thiết để em có thể hoàn thành
đúng hạn luận văn.
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn BGH, các thầy cô giáo Trường
CĐ nghề GTVT TW1, những người thân trong gia đình, bạn bè,
những người đã luôn bên tôi chia sẻ với tôi những khó khăn và
giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có được thành quả như ngày hôm nay.
Hà Nội, tháng 7 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hợp
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau năm 1986 nền văn học Việt Nam từng bước chuyển biến mạnh mẽ,
sâu sắc. Văn học giai đoạn này đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới
cách nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đặc biệt là
hiện thực chiến tranh, khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng
và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống kể cả đời

đại. Sở dĩ chúng tôi lựa chọn hai tác giả này là bởi tầm ảnh hưởng, sự đóng góp
của hai nhà văn này trong quá trình đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nếu
Phạm Thị Hoài với một Thiên sứ được đánh giá cao cả trong nước và trên thế
giới, tiểu thuyết của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng và được coi như sự khơi mở
cho một lối viết mới thì Nguyễn Bình Phương với 7 tiểu thuyết (tính tới thời điểm
này) đã thể hiện sự bền bỉ trên con đường sáng tạo của mình. Hai nhà văn với
nhiều nét tương đồng cũng như khác biệt sẽ gợi mở cho chúng ta một cái nhìn sâu
sắc và toàn diện hơn về sáng tác của họ cũng như của nền tiểu thuyết Việt Nam
đương đại hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì lạ hóa là toàn bộ những thủ
pháp trong nghệ thuật (nghịch dị, nghịch lí ) được dùng để đạt đến một kết
quả nghệ thuật, theo đó, hiện tượng được miêu tả hiện ra không phải như ta
đã quen biết, hiển nhiên mà như một cái gì mới mẻ, chưa quen, “khác lạ”
[56,tr172]. Khái niệm “lạ hóa”, “hiệu quả lạ hóa” được B. Brech đưa vào mĩ
học từ chính thực tiễn hoạt động sân khấu của ông. Theo ông lạ hóa gây nên ở
2
chủ thể tiếp nhận sự ngạc nhiên và hiếu kì trước một góc nhìn mới làm nảy
sinh một thái độ tiếp nhận tích cực đối với cái thực tại được lạ hóa kia.
Lạ hóa là một khái niệm được các nhà hình thức chủ nghĩa Nga đề cao.
Theo Shklovski, nhận thức của con người có xu hướng tự động hóa để giảm
bớt năng lượng tư duy. Bởi vậy người ta thích dùng những từ ngữ quen thuộc
đến sờn mòn. Văn chương phải chống lại sự tự động hóa đó thì mới gây được
sự chú ý của người đọc. Phải lạ hóa thứ ngôn ngữ quen thuộc bằng từ mới,
cách dùng từ độc đáo, hình ảnh lạ Coi trọng lạ hóa, tức là mang trả lại sự
hồn nhiên, sự tinh khôi cho ngôn ngữ, tức là coi trọng tính độc đáo, sự sáng
tạo, cá tính, phong cách , những phẩm chất đích thực của văn chương [5].
Các nhà văn thuộc trường phái hình thức Nga cho rằng lạ hóa là một nguyên
tắc nghệ thuật phổ quát thể hiện trong mọi cấp độ của cấu trúc nghệ thuật, có
tác dụng phá vỡ sự tự động, máy móc của cảm thụ bằng cách tạo ra một cái

“chống lại” chủ nghĩa hiện đại, là sự “phản biện”. Sự phản biện ở đây phần
nào chính là quá trình lạ hóa trong tư duy sáng tác, trong cách thể hiện. Phản
biện không phải là chối bỏ tất cả mà là sự mở rộng biên độ, vượt qua giới hạn,
kiếm tìm một cái nhìn cuộc sống mới mẻ hơn. Văn học hậu hiện đại ngược lại
với văn học hiện đại rất coi trọng cái biểu đạt. Yếu tố lạ hóa, phá vỡ những
quy chuẩn cũ, phản biện lại cái cũ, mong muốn mở rộng những giới hạn để
con người cảm nhận cuộc sống đúng như nó nhất chính là đặc điểm nổi bật
của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Ở Việt Nam, ý thức lạ hóa trong sáng tác văn học nghệ thuật xuất hiện
ở nhiều nhà văn. Tuy nhiên lạ hóa và lạ hóa thành công thì không phải nhà
văn nào cũng làm được. Nền văn học của chúng ta suốt một thời gian dài chịu
ảnh hưởng của văn học Trung Quốc với tính quy phạm, ước lệ khi tiếp xúc
4
với nền văn học Phương Tây đã có một cuộc chuyển mình lớn. Sau năm 1975
và đặc biệt là sau 1986, khi điều kiện giao lưu văn hóa được mở rộng hơn các
nhà văn được tiếp nhận nhiều hơn các trường phái văn học trên thế giới thì
quá trình chuyển biến trong tư duy sáng tác càng rõ rệt hơn. Chịu ảnh hưởng
từ các nhà văn thuộc trường phái hiện đại và hậu hiện đại, các nhà tiểu thuyết
Việt Nam đang cố gắng tìm tòi một lối đi, mở ra một con đường cho sáng tác
của mình. Chúng ta có thể nhận thấy những dấu hiệu của sự đổi mới, của sự lạ
hóa trong sáng tác của nhiều nhà văn như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình
Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp… và cũng nhận thấy
dấu hiệu của sự ảnh hưởng từ các nhà văn hiện đại, hậu hiện đại của thế giới
tới thế hệ các nhà văn này.
Phạm Thị Hoài là người có ý thức lạ hóa tư duy tiểu thuyết ngay từ
những tác phẩm đầu tiên của bà. Ở Việt Nam, cách viết của Phạm Thị Hoài
khiến độc giả và những nhà phê bình hết lời ca ngợi và cũng lắm kẻ chê bai.
Ngay cả những nhà phê bình mạnh mẽ nhất cũng thừa nhận rằng bà là một
nhà văn có con mắt u ám trong việc mổ xẻ chi tiết, chua cay và hài hước,
song lại có thính giác tốt về nhịp điệu của tiếng Việt [22]. Cùng với Bảo

điểm của tiểu thuyết Thiên sứ (Lại Nguyên Ân), Đứa trẻ và thành phố trong
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (Đặng Thị Hạnh), Phạm Thị Hoài, thiên sứ
(Thụy Khuê), Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Đọc và đọc lại Thiên sứ của
Phạm Thị Hoài (Nguyễn Thanh Sơn) Trong bài viết của mình Lại Nguyên
Ân đã dùng sự tự nghiệm của bản thân để chỉ ra những nét mới dù chỉ mang
tính phác thảo như những nhận xét ban đầu nhưng đây thực sự là những gợi ý
quý báu cho những người nghiên cứu đi sau. Nguyễn Thanh Sơn với hai bài
viết về Phạm Thị Hoài đã chỉ ra cách đọc, cách tiếp cận tiểu thuyết Thiên sứ
6
sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Vào tháng 12/1988, tại hội thảo Chung quanh một số vấn đề thời sự
văn học được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thiên sứ và Phạm
Thị Hoài được đánh giá cao, qua hai bài tham luận của Văn Giá và Hoàng
Ngọc Hiến. Nếu Văn Giá khai thác các giá trị nội dung thì Hoàng Ngọc Hiến
thuyết phục người nghe bằng cách chỉ ra nét độc đáo trong giọng kể chuyện
của Phạm Thị Hoài.
Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết, nhiều đề tài nghiên cứu mà ở đó
Thiên sứ là một đối tượng chính để khảo sát. Các nhà nghiên cứu nước ngoài
cũng có những nhận xét sắc sảo đánh giá cao sự cách tân của Phạm Thị Hoài
như Anatoli A.Sokolov: Trên thực tế, tiểu thuyết Thiên sứ mà ở mức nào đó
là những truyện ngắn là rất khác thường và không đặt vừa được vào truyền
thống tự sự của văn xuôi Việt Nam nửa sau thế kỷ XX
Thiên sứ còn là đối tượng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của các
sinh viên, học viên khoa văn học như luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu
Nguyên Thiên sứ của Phạm Thị Hoài những cách tân trong bút pháp và
một triển vọng biểu đạt tiểu thuyết trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm
2004, hay Phương thức huyền thoại hóa trong Thiên sứ của Phạm Thị
Hoài khóa luận tốt nghiệp khoa Văn học trường Đại học khoa học xã hội và
Nhân văn Hà Nội
Qua đó chúng tôi nhận thấy, phần lớn các nhà phê bình, các bài viết đều

Một số bài báo về Nguyễn Bình Phương rất đáng chú ý, trong số các
bài báo viết về nhà văn này ta có thể kể đến như: Một số đặc điểm nổi bật
trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương (Trương Thị Ngọc Hân - đăng tải
trên website .) Bài viết chỉ ra ba đặc điểm nổi bật nhất
8
trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương là: cách lựa chọn hiện thực là những
mảng tự sự phân mảnh, sử dụng kết cấu xoăn kép nhiều mạch truyện song
song, sử dụng yếu tố kỳ ảo. Tiếp đó có thể kể đến bài báo của nhà nghiên cứu
Phạm Xuân Thạch đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 25/11/2006, đánh giá
về Ngồi nhưng cũng là những ghi nhận chung cho sự sáng tạo của Nguyễn
Bình Phương. Bài báo này đi sâu vào nội dung ý nghĩa của tiểu thuyết
Nguyễn Bình Phương đó chính là vấn đề: “Nó là một cuộc mời gọi đặt vấn đề
phản tư về đời sống và ý nghĩa của đời sống. Nó là một tiểu thuyết bắt người
ta suy nghĩ và làm điều ấy nó xứng đáng là một tiểu thuyết và là một tiểu
thuyết xuất sắc” [58]. Những lời khen nhiệt thành mà Phạm Xuân Thạch dành
cho Nguyễn Bình Phương được đưa ra từ những căn cứ mà nhà nghiên cứu
phát hiện rất tinh tế, độc đáo. Tuy nhiên bài viết giống như bài phê bình hơn
nghiên cứu, và mới chỉ dừng lại ở chỗ đánh giá một tác phẩm. Trên tạp chí
chuyên ngành Nghiên cứu văn học tác giả Đoàn Ánh Dương đã có một bài
viết rất đáng lưu ý đó là Nguyễn Bình Phương, Lục đầu giang tiểu thuyết. Bài
viết có sự nghiên cứu công phu, có cái nhìn hệ thống và cách tiếp cận độc
đáo. Tác giả đã ví mỗi tiểu thuyết như là một dòng sông chi lưu hợp lưu lại để
cùng đổ ra biển rộng. Hướng tiếp cận của tác giả bài viết là ở cấu trúc và
phương thức huyền thoại, chỉ ra nét đặc trưng nhất của mỗi chi lưu trong dòng
hợp lưu chung. Bài viết có khen có chê và có những đánh giá khá khách quan
chính xác về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
Gây được sự chú ý như vậy với dự luận, tác phẩm của Nguyễn Bình
Phương cũng đã tạo ra một sức hút đối với các bạn đọc chuyên nghiệp, những
sinh viên chuyên ngành và những nhà nghiên cứu. Các báo cáo khoa học của
sinh viên về một thủ pháp nghệ thuật, một tác phẩm cụ thể khá nhiều. Các đề

10
tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương khá tiêu biểu và có tính đại diện cho văn
học giai đoạn này cả về hai mặt ưu và khuyết.
Tuy còn nhiều ý kiến trái chiều song chính những bài báo những công
trình nghiên cứu về Nguyễn Bình Phương đã khẳng định được chỗ đứng của
nhà văn này trong đời sống văn học hiện đại. Dù tiếp cận tác phẩm của
Nguyễn Bình Phương dưới góc độ nào chúng ta cũng không thể phủ nhận ý
thức tìm tòi, quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, với những ý tưởng
được thực hiện thành công của Nguyễn Bình Phương trong quá trình cách tân
tiểu thuyết Việt Nam. Dù đã có sự ghi nhận nhưng chưa thực sự có một công
trình hệ thống lại những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương. Phần nhiều các nhà nghiên cứu mới đi vào một khía cạnh hoặc một
tác phẩm cụ thể. Vì vậy luận văn này hi vọng sẽ hệ thống lại những nét tiêu
biểu đặc trưng trong nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, nhằm
hướng tới một cái nhìn toàn diện và khách quan hơn cũng như kế thừa hướng
nghiên cứu từ những đề tài trước. Thông qua những nghiên cứu này sẽ đánh
giá được vai trò của Nguyễn Bình Phương trong quá trình cách tân hiện đại
hoá tiểu thuyết. Đồng thời chỉ ra một số nét tiêu biểu của văn học đương đại
nước nhà.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu yếu tố lạ hóa trong sáng tác của Phạm Thị Hoài và
Nguyễn Bình Phương, chúng tôi muốn chỉ ra sự vận động của tư duy nghệ
thuật trong văn học Việt Nam nói chung và tư duy tiểu thuyết nói riêng, từ đó
khẳng định những đóng góp của các nhà văn Việt Nam đương đại trên hành
trình hội nhập với văn học thế giới và cũng qua đó để cho thấy trong tinh thần
hậu hiện đại, mỗi nhà văn Việt Nam mang đến cho văn xuôi những cá tính
sáng tạo mới.
11
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

tư duy tiểu thuyết trong văn học đương đại.
Qua các kết quả khảo sát và nghiên cứu, luận văn góp phần khẳng định
những nỗ lực cách tân trong tư duy tiểu thuyết trong tinh thần hậu hiện đại
của các nhà văn Việt Nam đương đại.
Đóng góp một tài liệu học tập nghiên cứu về Phạm Thị Hòa, Nguyễn
Bình Phương và văn học Việt Nam đương đại.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai
thành 4 chương:
- Chương 1: Khái quát đặc điểm tư duy tiểu thuyết sau 1986
- Chương 2: Lạ hóa về nhân vật
- Chương 3: Lạ hóa về không gian và thời gian nghệ thuật
- Chương 4: Lạ hóa về ngôn từ nghệ thuật
13
NỘI DUNG
Chương 1:
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY TIỂU THUYẾT SAU 1986
1.1. Những cách nhìn mới của các nhà văn về hiện thực
1.1.1. Hiện thực đa chiều
Do điều kiện hoàn cảnh lịch sử chiến tranh của đất nước những năm
trước 1975, nền văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng luôn gắn với vận
mệnh dân tộc và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là nhiệm vụ chính trị phục vụ
cuộc kháng chiến. Vì vậy đời sống kháng chiến chính là nội dung phản ánh
của văn học giai đoạn này. Văn học thiên về ngợi ca mà ít tính phê phán hay
nhìn nhận đánh giá hiện thực ở các góc độ khác nhau. Văn học giai đoạn này
chỉ phù hợp với điều kiện chiến tranh song sẽ trở nên nặng tư tưởng và thiếu
hấp dẫn khi đời sống đất nước chuyển sang giai đoạn mới sau chiến tranh.
Dấu hiệu đổi mới trong văn học xuất hiện ngay từ giai đoạn 1975-
1985, giai đoạn được coi là thời kỳ giao thời khi những dư âm của chiến tranh
vẫn ít nhiều chi phối đời sống văn học. Đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài

hệ những thanh niên như Bảo Ninh trở thành “thế hệ vứt đi” sau cuộc chiến.
Bởi họ chẳng có cách nào bước ra khỏi chiến tranh để hòa mình vào cuộc
sống hòa bình đời thường nữa. Cũng chính cuộc chiến ấy đã hủy hoại không
chỉ những thứ con người ta nhìn thấy mà cả những giá trị tinh thần cao đẹp
mà người ta tôn thờ vươn tới. Phương và tình yêu với Phương tan vỡ chính là
những mất mát lớn nhất mà Kiên phải gánh chịu bên cạnh cái may mắn được
lành lặn trở về sau cuộc chiến. Bảo Ninh đã cho người đọc nếm trải từng ngõ
ngách của cuộc chiến với tất cả sự tàn bạo, thảm khốc của nó. Với cách tiếp
cận hiện thực như vậy Nỗi buồn chiến tranh cũng có số phận khá trắc trở khi
15
xuất bản nhưng những giá trị mà cuốn sách mang lại thì không ai có thể phủ
nhận. Nó nhắc nhở mỗi con người chúng ta về giá trị của hòa bình. Nó cho
chúng ta một cái nhìn nhân văn và toàn diện về cuộc chiến để mỗi chúng ta
biết rằng cả khi tiếng súng đã ngưng thì nỗi đau vẫn còn ám ảnh. Hay trong
mảng đề tài về nông thôn, người đọc không chỉ thấy những làng quê yên bình,
nơi các giá trị truyền thống được bảo lưu và phát huy mà chúng ta còn bắt gặp
những vùng quê dậy sóng trong công cuộc đổi mới, với những tư tưởng lạc
hậu, những hủ tục lâu đời, những mối quan hệ tranh chấp mới - cũ, riêng -
chung, những thù oán, mâu thuẫn cá nhân, dòng tộc. Tất cả tạo nên diện mạo
một nông thôn phức tạp, giằng xé trong một thời đại mới.
Với các đề tài mới mỗi nhà văn thể hiện góc nhìn và quan điểm của
riêng mình. Đặc biệt các vấn đề của đời sống thường ngày, đời sống cá nhân
được quan tâm thể hiện sâu sắc hơn. Đặc biệt sau 1986, các cây bút ngày càng
tỏ ra sắc sảo trong cách tiếp cận hiện thực. Con người đời thường với các mối
quan hệ gia đình xã hội, với các vấn đề của thời kinh tế thị trường khi giá trị
vật chất có vẻ nên ngôi, đồng tiền trở thành một công cụ vạn năng, và con
người đứng trước những thử thách lớn để bảo toàn nhân cách. Những cám dỗ
của cuộc sống đời thường đã làm biến dạng tâm hồn không ít người, cuộc
chiến để bảo vệ những giá trị tốt đẹp cũng căng thẳng cam go vô cùng. Nhiều
giá trị tốt đẹp bị lung lay. Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng hay

Các sáng tác của Nguyễn Bình Phương là một ví dụ tiêu biểu. Tác giả
không đi sâu phản ánh bề mặt chung chung của cuộc sống với các vấn đề
nóng bỏng lớn lao mà thường chia tiểu thuyết của mình thành câu chuyện của
nhiều số phận, mỗi số phận mỗi con người được phản ánh thông qua những
chuyện rất nhỏ nhặt hàng ngày. Từ chuyện Minh với giấc mơ về chiếc áo,
17
người đàn bà bán khoai với nỗi ám ảnh về nhà tù, Khẩn với những giấc mơ về
Kim (Ngồi) , Tính điên loạn với những hành động vô thức (Thoạt kỳ thủy),
Thoáng nhìn bạn đọc dễ có cảm giác những câu chuyện này thật lẻ tẻ không
phản ánh những vấn đề chung của toàn xã hội. Song chính những mảnh vỡ tự
sự ấy lại ghép thành một bức tranh đời sống hết sức chân thực và phức tạp.
Hay các sáng tác của Tạ Duy Anh (Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám
hối ) dẫn người đọc đi vào một mê lộ mà ở đó những câu chuyện nhà văn kể
chỉ là những mảnh của đời sống. Đặt trong mối quan hệ với các tác phẩm viết
trong thời kỳ chiến tranh người đọc sẽ thấy rõ sự biến chuyển này. Nếu cùng
viết về chiến tranh Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu) phản ánh
không khí hào hùng của cả thời đại, của những người lính chiến đấu hi sinh
anh dũng kiên cường. Dẫu có nhân vật trung tâm thì nhân vật trung tâm ấy là
điển hình cho một lớp người, một thế hệ. Những chuyện được kể là những
chuyện mang bộ mặt chung, số phận chung của một cộng đồng lớn. Nhưng
đến Nỗi buồn chiến tranh độc giả lại nhìn nhận cuộc chiến qua tâm tư của một
con người cụ thể với những mảnh nhỏ chắp ghép không theo nguyên tắc nào
của trí nhớ. Những phân nhánh về Phương, về người bố dượng khiến câu
chuyện như được lắp ghép từ nhiều ô màu lập phương quanh một trục quay
chính. Người ta không thấy được bề mặt rộng lớn, vĩ đại của hiện thực nhưng
lại dễ dàng cảm nhận được hơi thở của chính mình trong các chi tiết đậm chất
đời sống ấy.
Thực chất việc hiện thực được chia nhỏ, vỡ vụn thành nhiều mảnh rồi
lại được liên kết với nhau ở bề sâu của văn bản là một hệ quả tất yếu khi nhà
văn hướng ngòi bút của mình từ số phận dân tộc đến số phận cá nhân, quan

nhân được quan tâm chú ý hơn và con người với tư cách cá nhân, số phận cá
19
nhân cũng được chú ý phản ánh và nhìn nhận. Văn học giai đoạn này chuyển
từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng sử thi lãng mạn sang
cảm hứng thế sự đời tư. Tiểu thuyết đã phát huy thế mạnh của mình là khả
năng tiếp cận và phản ánh hiện thực để thể hiện rõ nét hơn con người giữa đời
thường với những bi kịch của cuộc đời. Đó chính là bi kịch giữa khát vọng và
thực trạng, giữa nỗ lực vươn lên và sự tha hóa, giữa nhân bản và phi nhân
bản Con người với nhiều góc khuất với chiều sâu tâm lý được khai thác, lột
tả trong sự phức tạp chung của hiện thực nhiều chiều.
Tiểu thuyết sau 1986 đặt vấn đề về con người cá nhân một cách mạnh
mẽ, thể hiện thân phận con người, khát vọng tình yêu, hạnh phúc, khắc họa
nỗi đau nhân sinh Khám phá con người ở góc độ cá nhân với nhiều mặt vừa
phong phú vừa phức tạp của cuộc sống hàng ngày tiểu thuyết đã tìm thấy một
mảnh đất phì nhiêu để khai phá, tìm tòi và sáng tạo. Dù vẫn là ở những đề tài
cũ như đề tài chiến tranh nhưng những tác phẩm như Bến không chồng
(Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), không còn xây dựng
những nhân vật trung tâm bàng bạc một màu nữa. Thay vào đó là một Hạnh
với những khát vọng hạnh phúc, với những thèm muốn bản năng rất đời
thường nhưng chính đáng. Những thèm khát dục vọng bị kìm nén bởi chiến
tranh bỗng chốc được Hạnh bung tỏa, quẫy đạp ở bến sông cho thấy cô cũng
là một phụ nữ bình thường biết yêu thương thèm khát. Chiến tranh không thể
hủy diệt sự chờ đợi son sắt thủy chung của cô cũng chẳng thể hủy diệt được
những bản năng sống rất con người của tất cả chúng ta. Hay ông Vạn với lối
sống mực thước như một biểu tượng của xóm làng rồi cũng đến lúc không thể
thoát khỏi sự cuốn đi mạnh mẽ của bản năng người đàn ông. Phần người đã
chiến thắng cái phần thánh nhân “giả dối” của Vạn. Thực chất đó không phải
là sự buông thả của dục vọng mà là thời điểm ông Vạn sống đúng với con
người của mình, từ bỏ cuộc sống khắc kỷ, trút đi bộ quần áo thùng thình của
20

sự ích kỷ, buông thả theo những dục vọng tầm thường, sự chi phối của đồng
tiền trong cách con người hành xử với nhau và cả những mặt trái của lối
sống truyền thống thoát ly với hiện thực xã hội đang thay đổi từng ngày. Con
người khi cực đoan đi về phía cá nhân hay ép lòng sống giả dối để giữ gìn
những giá trị không còn phù hợp đều không thể có được hạnh phúc đích thực,
đều thấy mình mất cân bằng, chênh chao bất ổn.
Rõ ràng khi con người được nhìn nhận trong tư cách một cá nhân mỗi
hình tượng nhân vật cũng trở nên chân thực và sinh động hơn rất nhiều. Đây
cũng là cách văn học cân bằng lại với một thời kỳ mà cái văn học hướng tới là
cái vĩ đại, lớn lao. Chính con người cá nhân trong cuộc sống đời thường nhắc
nhở chúng ta về những vẻ đẹp bình dị, giản đơn xung quanh, nhắc nhở chúng
ta về những giá trị nhân văn tốt đẹp.
1.2.2. Con người được nhìn từ nhiều chiều
Khi con người cá nhân được đề cao thì nhà văn cũng được phép khai
thác lột tả nhiều mặt khác nhau trong chính mỗi con người cụ thể. Nếu trước
đây các vấn đề là về bản năng, tình dục được coi như vùng cấm kị của văn
học thì bây giờ nó lại những góc nhìn để nhà văn soi chiếu, khám phá sâu hơn
bản thể con người. Trong văn hóa phương Đông những vấn đề về bản năng,
về các nhu cầu tự nhiên đặc biệt là tình dục là những vấn đề ít được công
khai, thể hiện. Nó giống như một vùng cấm, một totem vậy. Khi cuộc sống
hiện đại hơn, không khí văn học dân chủ hơn thì những vấn đề này cũng dần
dần được chuyển tải vào các tác phẩm văn học một cách mạnh mẽ hơn.
Không chỉ riêng tiểu thuyết mà ở các thể loại khác của nghệ thuật chúng ta
cũng dễ dàng nhận ra xu hướng này. Việc thể hiện những yếu tố bản năng
trong tác phẩm không chỉ giúp nhà văn khám phá con người từ một góc độ
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status