ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
TRẦN THỊ XUÂN HỢP YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT
NGUYỄN KHẢI THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 50401
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Lý Hoài Thu
2) Cốt truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải: 17
3) Yếu tố tự truyện trong cốt truyện của Nguyễn Khải: 21
CHƢƠNG HAI: YẾU TỐ TỰ TRUYỆN QUA HỆ THỐNG NHÂN VẬT . 37
I. Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải 37
1.Vai trò nhân vật trong tiểu thuyết: 37
2- Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải: 38
II. Yếu tố tự truyện trong hệ thống nhân vật của tiểu thuyết Nguyễn Khải:
50
1. Nhân vật người kể chuyện: 50
2. Người kể chuyện là nhân vật “Tôi” – ngôi thứ nhất: 53
3. Người kể chuyện là nhân vật Hắn: ngôi thứ ba 59
CHƢƠNG BA: YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG GIỌNG ĐIỆU, QUAN
ĐIỂM TRẦN THUẬT VÀ KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 67
I. Yếu tố tự truyện trong giọng điệu 67
1. Giọng điệu của tiểu thuyết Nguyễn Khải 67
2. Yếu tố tự truyện trong giọng điệu 72
II. Yếu tố tự truyện trong quan điểm trần thuật. 75
1. Quan điểm trần thuật của Nguyễn Khải 75
2. Yếu tố tự truyện trong quan điểm trần thuật 80
III. Yếu tố tự truyện trong không gian – thời gian nghệ thuật của tiểu thuyết
Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới: 91
KẾT LUẬN: 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 101
2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Nguyễn Khải là một trong số các nhà văn xuất hiện và trƣởng thành từ
cuối giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông cũng là một trong số những nhà
văn có sức sáng tạo dồi dào, phong phú. Hơn một nửa thế kỷ hoạt động liên
Nguyễn Khải quan niệm rằng nếu một truyện ngắn hay một cuốn tiểu thuyết
chỉ có chuyện của ngƣời, không có chuyện của mình thì sự sống của nó không
khác gì một bài báo. Đến cuốn “Thượng đế thì cười”, Nguyễn Khải dƣờng
nhƣ nhìn, ngẫm lại từng chặng trong cuộc đời mình, rồi giãi bày với bạn đọc.
Thế nhƣng để kể lại đƣợc câu chuyện cuộc đời của mình thì đâu phải dễ, điều
ấy phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nghệ thuật. Chúng ta có thể khẳng định một
điều rằng nhà văn Nguyễn Khải đã mở ra một hƣớng đi rất mới trong chặng
đƣờng sáng tác của ông. Chính vì vậy, những công trình nghiên cứu về tác
giả, tác phẩm Nguyễn Khải với nhiều kiến giải sâu sắc, đều thống nhất xếp
ông vào vị trí nhà văn tiêu biểu của nền văn học đƣơng đại, song các công
trình chuyên biệt đi sâu tìm hiểu về yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết Nguyễn
Khải vẫn còn ít ỏi. Về yếu tố tự truyện của Nguyễn Khải thì từ trƣớc tới nay
đã có một số tác giả đề cập đến nhƣng chỉ trong giới hạn một bài báo, một bài
hội thảo nên chƣa thể đánh giá đƣợc một cách đầy đủ và toàn diện. Xuất phát
từ thực tế này, ngƣời viết luận văn kế thừa những công trình nghiên cứu của
các tác giả đồng thời tiếp tục đi sâu tìm hiểu yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết
Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới với mong muốn độc giả sẽ có một cái nhìn sâu
hơn về phong cách nhà văn Nguyễn Khải.
II. Lịch sử vấn đề
1- Những phê bình, nghiên cứu sáng tác về Nguyễn Khải.
Cho đến nay đã có hơn 100 bài viết đƣợc công bố, trong đó có hơn 2/3
các công trình trực tiếp nghiên cứu về tác giả, tác phẩm của Nguyễn Khải. Số
còn lại tuy không trực tiếp đặt ra vấn đề nghiên cứu nhà văn nhƣng trong bài
viết của mình, các tác giả đều ít nhiều đề cập đến Nguyễn Khải ở cấp độ này
hay cấp độ khác.
Trong cuốn “Nhà văn Việt Nam 1945-1975” (Tập 2), Phan Cự Đệ đã
bao quát một khối lƣợng tác phẩm lớn của nhà văn Nguyễn Khải sáng tác
trong vòng 30 năm và 20 bài nghiên cứu có giá trị về tác phẩm Nguyễn Khải.
Ông cho rằng “ Nguyễn Khải là một cây bút trí tuệ, luôn luôn suy nghĩ sâu
lắng về những vấn đề mà cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm lời giải đáp thuyết
phẩm của Nguyễn Khải không rơi vào số phận chết yểu bởi lối viết minh hoạ
giản đơn, dễ dãi như tác phẩm của nhiều nhà văn khác, rõ ràng nhờ ý thức
tìm tòi, lật xới hiện thực với tinh thần say mê khoa học. [45, tr.113].
Nhƣ vậy là từ góc độ tác giả, cùng với bề dày thời gian Nguyễn Khải
ngày càng đƣợc đề cao.
5
Tuy nhiên, chiếm số lƣợng nhiều nhất là các bài viết dƣới dạng bình
luận, đánh giá về phƣơng diện cụ thể nào đó, một tác phẩm cụ thể nào đó
trong sáng tác của Nguyễn Khải. Phƣơng pháp tiếp cận này đƣợc giới nghiên
cứu, phê bình chuyên nghiệp đề cao, theo thống kê những bài viết ở dạng này
đã có hơn 80 bài. Giá trị chủ yếu của những bài viết này là tính chất nhạy bén,
kịp thời, vừa giúp chính tác giả nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong
sáng tác của mình, vừa giúp tác giả định hƣớng trong khi nắm bắt thƣởng
thức tác phẩm.
2. Về tiểu thuyết Nguyễn Khải
Phan Cự Đệ cho rằng “Tài năng và phong cách Nguyễn Khải bắt đầu
hình thành và khẳng định từ khi “Xung đột” tập 1 được giới thiệu trên tạp chí
Văn nghệ quân đội năm 1957” [44, tr 481 – 514]. Hầu hết các bài viết sau đó
đều nhất trí với ý kiến của Phan Cự Đệ, Vƣơng Trí Nhàn tiếp tục khẳng định
“Tác phẩm vào nghề, tác phẩm đánh dấu cái tên Nguyễn Khải trong lòng bạn
đọc hâm mộ là gì? Dĩ nhiên phải kể “Xung đột” (1957) Đây mãi mãi là một
đỉnh cao trong sáng tác của Nguyễn Khải mà mỗi khi nhớ tới người ta phải
kính trọng” [41, tr 8 – 14].
Chính bản thân tác giả cũng thừa nhận rằng : “Với “Xung đột”, tôi bắt đầu ý
thức về chức năng người cầm bút và thực sự bước vào con đường viết truyện”
[8, tr. 24].
Đánh giá về những tác phẩm viết về đề tài chiến đấu của Nguyễn Khải
trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, các nhà phê bình đều cho rằng đó là
những tác phẩm xuất hiện đúng lúc : “Đối với tình hình sáng tác, nhất là sáng
[2, tr.3]. Văn Chinh thấy: “Với “Thời gian của người”, Nguyễn Khải đã góp
thêm một thành công mới cho xu hướng tiểu thuyết triết luận của văn học ta”
[4, tr. 6]. Vũ Quần Phƣơng cũng đồng ý với ý kiến này “Giá trị khảo luận
triết học của tập tiểu thuyết này là một cống hiến của Nguyễn Khải trong văn
xuôi Việt Nam” [52, tr. 3].
Tựu trung lại có thể đánh giá rằng khuynh hƣớng của tiểu thuyết
Nguyễn Khải mang phong cách chính luận – triết luận. Vậy điều gì thể hiện
phong cách triết luận này một cách rõ rệt nhất, đó chính là yếu tố tự truyện.
Nói tóm lại nói về tiểu thuyết của Nguyễn Khải chúng ta có thể thống
nhất ở các nhận định sau:
Nếu so sánh một số tác giả khác sẽ thấy tiểu thuyết Nguyễn Khải
thƣờng ngắn, về dung lƣợng thì tác phẩm của ông thƣờng ngang truyện vừa,
có thể nói ngắn gọn là một đặc điểm của tiểu thuyết Nguyễn Khải. Lại
Nguyên Ân nhận xét “Những cái anh viết, dài nhất như “Chiến sĩ” không tiêu
7
biểu cho lối viết của anh. Ngay chính những tiểu thuyết của anh mà tôi nghĩ
là truyện vừa, người đọc tinh ý cũng thấy độ 1/3 hoặc 1/4 về cuối đọc không
thú vị như các phần trước” [3, tr. 5]. Cũng theo Vƣơng Trí Nhàn cho biết bản
thân Nguyễn Khải đã nói rõ quan điểm của mình từ năm 1963 : “Tự lượng sức
mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi người viết Lúc đùa bỡn, ông
bảo : “Viết thế để người ta có thể đọc ù một cái, một hai buổi trưa là xong”.
Những lúc nghiêm chỉnh hơn ông tâm sự “Sức mình chỉ đến thế không nên
kéo dài hơn. Điều quan trọng là thức tỉnh người đọc cùng nghĩ chứ ai có sức
mà nghĩ thay họ được” [42, tr. 210 – 217].
Về bút pháp của Nguyễn Khải nhiều nhà phê bình đã nhận xét:
“Nghiêng về lối kể hơn lối tả. Cốt truyện của Nguyễn Khải không có gì ly kỳ.
Nhiều khi người viết không để ý đến cốt truyện, đến cấu trúc tác phẩm, mà
quan tâm làm nổi bật chính kiến, một kiểu sống, cách nói năng ứng xử của
nhân vật” [61].Vƣơng Trí Nhàn cũng cho rằng những tác phẩm thành công
Khải dƣới nhiều góc độ một cách toàn diện nhất.
III. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
1 - Đối tượng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là những tác phẩm tiểu thuyết
của Nguyễn Khải trong thời kì đổi mới. Những tác phẩm thuộc các thể loại
khác nhƣ văn xuôi, kịch, ký không thuộc đối tƣợng nghiên cứu của luận
văn. Chúng là đối tƣợng liên hệ khi cần thiết.
2 – Phạm vi nghiên cứu:
Nguyễn Khải là một cây bút thành công với nhiều thể loại. Riêng về
tiểu thuyết, nếu lấy mốc năm 1982 là năm đánh dấu bƣớc ngoặt của ngòi bút
Nguyễn Khải khi chuyển sang giai đoạn mới thì đến nay, ông đã cho ra đời
sáu cuốn tiểu thuyết là: “Gặp gỡ cuối năm” (1982), “Điều tra về một cái
chết” (1984), “Thời gian của người” (1985), “Một cõi nhân gian bé tí”
(1987), “Vòng sóng đến vô cùng” (1987), “Thượng đế thì cười” (2003). Nếu
nhìn vào số lƣợng tác phẩm, không ít ngƣời sẽ cho rằng sức sáng tạo của nhà
văn còn kém nhiều so với Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu…
Chính Nguyễn Khải cũng tự nhận rằng: “Có người nói tôi không biết viết tiểu
thuyết nhưng tôi lại cho rằng đó là cái của chính tôi – tiểu thuyết” . Cho nên,
đằng sau số lƣợng tiểu thuyết ít ỏi kia lại là một sự nỗ lực, khám phá không
ngừng của nhà văn trƣớc cuộc sống để lựa chọn cho mình một hƣớng đi mới.
Trong giới hạn của một luận văn, bƣớc đầu chúng tôi tìm hiểu về yếu tố tự
truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải thời kì đổi mới. Trong quá trình tìm
hiểu, chúng tôi có liên hệ với một số tác phẩm của các nhà văn khác, hy vọng
9
sẽ có cách nhìn toàn diện hơn về đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết của
Nguyễn Khải. Nghiên cứu yếu tố tự truyện của Nguyễn Khải về mặt cấu trúc,
Luận văn không nhất thiết lúc nào cũng chia ra làm các mặt phƣơng pháp,
phong cách, ngôn ngữ mà có thể chia ra theo những cách khác nhau, tuỳ
theo đặc trƣng của từng đối tƣợng. Theo chúng tôi, với đối tƣợng là tiểu
3.2- Phƣơng pháp thống kê:
Đây là phƣơng pháp đƣợc tiến hành đầu tiên, có tác dụng cung cấp những dữ
kiện, những số liệu chính xác, tạo cơ sở thực tế tin cậy cho những kết luận có
tính chất khái quát. Sử dụng phƣơng pháp thống kê, chúng tôi tiến hành phân
loại, tổng hợp, phân tích những vấn đề nội dung nghiên cứu của luận văn. Khi
thống kê chúng tôi chú ý những tác phẩm tiêu biểu trên cả hai phƣơng diện
nội dung và hình thức. Đơn vị thống kê nhỏ nhất là chi tiết và lớn nhất là tác
phẩm.
3.3- Phƣơng pháp so sánh:
Đây là phƣơng pháp quan trọng để đi tới làm nổi bật đặc điểm nội dung, hình
thức sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Khải. Đối tƣợng so sánh là những tác
phẩm cùng loại, nội dung so sánh là các vấn đề thuộc đề tài, kết cấu, cốt
truyện, nhân vật ,…; so sánh với một số nhà văn thế hệ trƣớc và cùng thời với
Nguyễn Khải.
3.4- Phƣơng pháp nghiên cứu theo thể loại.
Luận văn nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết Nguyễn
Khải cho nên việc vận dụng kiến thức lý luận và những hiểu biết của mình về
tiểu thuyết đƣợc vận dụng chủ yếu.
3.5- Phƣơng pháp tổng hợp:
Để làm phong phú, sáng tỏ thêm ở nhiều phƣơng diện, chúng tôi vận dụng
những yếu tố hỗ trợ của các phƣơng pháp nghiên cứu văn học khác nhƣ
phƣơng pháp phân tích cảm thụ tác phẩm văn học, phƣơng pháp tổng hợp hệ
thống hoá, phê bình văn học, lý thuyết tiếp nhận văn học Sự vận dụng
những yếu tố của các phƣơng pháp này chỉ hỗ trợ trong những trƣờng hợp
cần thiết.
IV. Mục đích ý nghĩa
Nghiên cứu yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Khải thời kì
đổi mới, đề tài nhằm đạt tới các mục đích sau:
- Góp một phần đáng kể vào việc tái hiện lại diện mạo của yếu tố tự truyện
Phần thứ ba: Kết luận. 12 CHƯƠNG MỘT: YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG CỐT TRUYỆN
CỦA TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
I- Khái niệm tự truyện:
Theo “Từ điển văn học” thì “Tự truyện là một tác phẩm văn học thuộc
loại truyện do các nhà văn viết về cuộc đời thực của mình nhằm những mục
đích khác nhau. Các nhà văn khi viết tự truyện thường chỉ chọn lấy một hay
vài quãng đời nào đó đã để lại cho mình những ấn tượng sâu sắc nhất, có ảnh
hưởng quan trọng quyết định đối với hướng đi của đời mình, và dựng lại cả
một bức tranh toàn cảnh sinh động, chân thực về cuộc sống mà trong đó bản
thân con người tác giả là nhân vật hoạt động chính. Trong tác phẩm tự truyện
những biến cố, sự việc, nhân vật đều được lấy từ cuộc đời thực của tác giả,
không hư cấu thêm, hoặc nói cách khác là không có sự hư cấu như tự do như
trong các tác phẩm khác thuộc loại truyện. Trong tác phẩm tự truyện, tác giả
thường đặt ra qua cuộc đời mình và bằng ngôn ngữ nghệ thuật những vấn đề
xã hội rộng lớn, sâu sắc. Vì vậy, ý nghĩa của tác phẩm tự truyện thường vượt
ra ngoài phạm vi của một bản tự thuật đơn thuần và có tầm khái quát nghệ
thuật rộng lớn”. [56, tr. 43].
Lại Nguyên Ân trong “150 thuật ngữ văn học” cũng cho rằng:
Tác phẩm tự truyện thường có thiên hướng lý giải cuộc sống đã qua
(của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc
cho cuộc sống kinh nghiệm của mình. Người viết tự truyện có khi
điển hỡnh. Tản Đà có những tập văn xuôi tự sự nhƣ “Giấc mộng lớn” kể
chuyện lận đận thi cử, nợ nần, v.v. Vào giai đoạn cuối thế kỷ, thể loại tự
truyện mới thật sự phát triển nhƣng vẫn tƣơng đối ớt tỏc phẩm lớn vỡ đa
phần chỉ là những hồi ký nhẹ tính văn chƣơng. Tô Hoài cú bộ tự truyện gồm
bốn tập “Cỏ dại”, “Tự truyện”, “Những gương mặt”, “Cát bụi chân ai” xuất
bản từ 1944 đến 1988 nhƣng tập đầu đáng kể hơn cả! Có thể cái Tụi không đủ
hấp dẫn bằng những đề tài thời sự, xó hội nóng bỏng suốt cả thế kỷ (chế độ
thực dân, những phong trào chống Pháp, cách mạng, hai thế chiến rồi chiến
tranh liên tục đến 1975, cuối thế kỷ là chống Cộng dƣới hỡnh thức mới, nhõn
sự mới, ), cũng nhƣ ảnh hƣởng đời sống mới với truyền hỡnh, phim ảnh,
Cỏi Tụi vẫn cũn đây nhƣng phần Tôi cao cả (tụn giáo, chính trị) hƣ hao mất.
Cái Tụi vào cuối thế kỷ là cỏi Tụi của sự thật, là cụng cụ cho sự thật dự cú sự
thật mất lũng, đau lũng nhƣ phản bội, đĩ điếm, loạn luân, Muốn đụng tới
14
sự thật, làm nhân chứng, tự truyện, động tác kể chuyện trở thành thỳ tội với
ngƣời đọc, một hành động can đảm, thành thật, một cỏi Tụi loại mới. Thế
Uyờn trong “Không một vòng hoa cho người chiến bại” (1999) cú nhiều tớnh
tự truyện khi viết lại những tỡnh cảm, bản năng bên cạnh những ý thức, tƣ
duy văn hóa của những nhân vật có nhiệt huyết phản khỏng những mặt trái
của xã hội và dấn thân đổi mới xó hội. Nhiều nhà văn Việt Nam đó mở đầu sự
nghiệp với những tác phẩm mang tính tự thuật, lấy đời sống và kinh nghiệm
bản thõn làm chất liệu, rồi với thời gian, tớnh chất này sẽ loóng dần, nhƣ
Nguyên Hồng, Tô Hoài, Duyên Anh, Thanh Tâm Tuyền, . Lâm Chƣơng
trong một phỏng vấn trờn tạp chớ Văn học đó cho biết: “Tôi thường viết tự
truyện, phần hư cấu rất ít. Chỉ viết những gì đã trải qua và đã có kinh
nghiệm. Không có kinh nghiệm, mà viết theo tưởng tượng hoặc nghe người
khác kể, thường là sai bét cả…”. Với một số tỏc giả, quá khứ nhƣ đối tƣợng
của việc đặt lại vấn đề cho hôm nay hay ngày mai. Tự truyện là văn bản bám
vào hiện thực; ngƣời viết truyện kể lại nhƣ sống lại quá khứ qua tâm tƣởng và
ghi ở trang bỡa trƣớc roman mà ở trang bỡa sau lại ghi autofiction với cắt
nghĩa "Autobiographie? Non Fiction d’ộvốnements et de faits strictement
rộels; si l’on veut, autofiction”(Nghĩa là: “Tiểu sử ư? Không Tiểu thuyết
biến cố và sự việc hoàn toàn có thật; nếu muốn, hãy gọi là tự sự tiểu thuyết)
[9, tr.32]. Doubrovsky cũn là một nhà lý luận và phờ bỡnh văn chƣơng nổi
tiếng, phải chăng khi ụng thử nghiệm thể loại sỏng tỏc này, ông nhƣ muốn
chính thức hóa khuynh hƣớng tự truyện (autobiographie) từng là mốt tiểu
thuyết ở Âu Mỹ với Jean-Paul Sartre, Claude Simon, Simone de Beauvoir,
Marguerite Duras, Philippe Solelrs, Dĩ nhiờn, hồi ký (memoirs / mộmoires)
và "chuyện đời tụi" (life story) khụng phải là những thể loại thuần văn
chƣơng. Ngoài ra, thể loại tiểu thuyết tự truyện vốn là một phản ứng lại
khuynh hƣớng cấu trúc. Ở đây, nhân vật và cuộc đời hắn nhƣ đƣợc viết lại!
“Tự Truyện” (1997) của Đặng Phùng Quân đƣợc trỡnh bày nhƣ một "phá thể
tiểu thuyết". Đối với tỏc giả, đây là một đóng góp, tỡm kiếm cỏi mới để
đƣơng đầu với cuộc sống; đồng thời tỏc giả nhƣ đũi hỏi ngƣời đọc phải quên
quá khứ và lên đƣờng với hành trang mới. Theo tỏc giả "như tất cả cuộc đổi
mới, tiểu thuyết phá thể hay tạo mọi quy ước về ngôn ngữ, quy phạm, tu từ,
phong cách, tư duy, nhân vật, thế giới, khoa học" [54, tr.119]. Nhƣ vậy, Đặng
Phùng Quân đã nêu lên vai trũ của tiểu thuyết đối với nhõn sinh. Mặt khỏc,
khi trình độ của ngƣời đọc phát triển cao hơn, họ tỡm thấy tự sự, tự phờ của
chớnh tỏc giả ngay trong tác phẩm và cả trong tác phẩm đó cú lý thuyết văn
chƣơng của chớnh tỏc giả : Les Mots của Jean-Paul Sartre, Man Nương, Thiên
Sứ của Phạm Thị Hoài, Tự Truyện của Đặng Phùng Quân, v.v. . Đối với Jean-
16
Paul Sartre, sống hoặc kể chuyện sống, một trong hai, khụng thể là hai cựng
một lỳc, tuy nhiờn Les Mots đó thành tự truyện với kỹ thuật tiểu thuyết!
17
II.Cốt truyện và yếu tố tự truyện trong cốt truyện của tiểu thuyết Nguyễn
truyện sự kiện và cốt truyện "chuyện lồng chuyện". Cốt truyện lỏng lẻo phù
18
hợp với cách viết mà nội dung triết luận là chủ yếu trong sáng tác của ông giai
đoạn này. Thông thƣờng một cốt truyện có: trình bày, khai đoạn (thắt nút),
phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) nhƣng với Nguyễn
Khải, ngƣời kể không quan tâm tới một cốt truyện đầy đủ nhƣ vậy mà
thƣờng chú ý đến sự kiện để lý giải, cắt nghĩa, minh hoạ cho một vấn đề mà
ngƣời kể chuyện đƣa ra. Đó là một cốt truyện hoàn toàn có sự kiện mà
không có biến cố, các sự kiện tình tiết cứ đan cài đầy ngẫu hứng, ngẫu
nhiên không theo một mạch, một tuyến nhất định. Đây là một hình thức cốt
truyện mở. Nếu so sánh Nguyễn Khải với cách xây dựng tác phẩm theo kiểu
chuyện không có chuyện của Ma Văn Kháng, thì mỗi ngƣời có một nét
riêng, khá đặc sắc. Ở những tác phẩm của Ma Văn Kháng, cốt truyện sự kiện
biến cố ít với những "Heo may gió lộng, ngẫu sự". Còn với Nguyễn Khải nổi
bật với kiểu cốt truyện nhiều sự kiện. Khi nhà văn muốn khắc hoạ một nhân
vật nào đó thì ngƣời kể tập trung các sự kiện, tình tiết rồi kể lại liên tiếp làm
nổi bật một kiểu ngƣời, một lối sống mà không đặt nhân vật vào những biến
cố gay cấn để nhân vật tự bộc lộ hết tính cách, hành vi của mình. Trong tác
phẩm của Nguyễn Khải, ta thƣờng không tìm thấy những bƣớc ngoặt, những
"thắt nút", "cởi nút" của truyện. Tiêu biểu cho loại cốt truyện này là: “Gặp
gỡ cuối năm”, “ Điều tra về một cái chết”
Ở tiểu thuyết "Gặp gỡ cuối năm" thì tất cả các sự kiện đều đƣợc diễn
ra trong bàn tiệc cuối năm nhằm bàn luận, triết lý và khẳng định xu hƣớng
tất yếu của cuộc sống. Ngoài bà Hoàng là nhân vật chính thì còn bao là
ngƣời cả chiến thắng hay chiến bại dù cố chấp hay chấp nhận cũng không
thể ngăn cản bánh xe của lịch sử. Đó là vấn đề chính mà tác giả muốn đƣa
ra và tất cả các sự kiện trong tác phẩm là nhằm minh chứng cho điều đó. Bên
cạnh đó là các truyện “Nắng chiều”, “Lạc thời” đều có cùng một kiểu cốt
truyện nhƣ vậy. Kiểu cốt truyện nhiều tình tiết, sự kiện mà ít có biến cố,
thức câu chuyện mà chỉ tập trung chú ý làm nổi bật vấn đề mà ngƣời kể quan
tâm. Đó là xu hƣớng ngày càng nới lỏng cốt truyện để ngƣời kể đƣợc trình
bày những vấn đề về đời tƣ, thế sự. Nhiều chuyện đƣợc nới lỏng đến mức tối
đa, truyện chỉ còn là những mảnh vụn sự kiện đƣợc đƣa ra để minh chứng
cho một vấn đề mà ngƣời kể quan tâm. Với cốt truyện đƣợc nới lỏng nhƣ
vậy, truyện của Nguyễn Khải khá hấp dẫn ngƣời đọc bởi ở đó là một phong
cách riêng, góp phần làm cho văn học ngày càng đổi mới.
Trong số các tiểu thuyết sau 1978, có thể nhắc đến ba tiểu thuyết tiêu
biểu mà Nguyễn Khải đã thể hiện cái tài viết những truyện không có chuyện
Nhà văn chỉ đi sâu vào quá trình biến đổi tâm lý của nhân vật để thể hiện
20
tƣ tƣởng của tác phẩm cho nên cốt truyện là cốt truyện tâm lý, cốt truyện
luận đề chứ không phải cốt truyện sự kiện. Nhà nghiên cứu Vƣơng Trí Nhàn
đã nhận xét: "Một điều có thể nhận xét ngay là trong tác phẩm cuối này
của Nguyễn Khải cũng như trong Gặp gỡ cuối năm in ra ba năm trước, cấu
trúc truyện, cái hình của truyện rất đơn giản, chỉ xoay quanh một cuộc gặp
gỡ, mọi người nói qua nói lại từ chuyện quá khứ đến chuyện hiện tại.
Nguyễn Khải không dựng người, dựng cảnh, cũng không tính việc thuật lại
đầy đủ mọi lời trò chuyện - làm thế hẳn tác phẩm sẽ kéo ra rất dài. Ngược
lại anh dùng bút pháp kế toán thuật. Toàn truyện là một giọng kể, mọi cuộc
trò chuyện khi liên tục, khi đứt nối đều được hoà lẫn trong giọng điệu đó
của tác giả. Mạch truyện lại thật đơn giản, có thể hình dung nó như một
đường thẳng đều, đều từ đầu đến cuối, không có đỉnh điểm, cao trào, thắt nút,
cởi nút gì hết, tác giả hầu như gặp đâu kể đấy, chỉ dùng một ít liên tưởng
đơn giản để chuyển mạch truyện " [42,tr.210 – 217].
“Gặp gỡ cuối năm” là cuốn tiểu thuyết không có cốt truyện gì đặc
biệt. Tiểu thuyết kể về cuộc gặp gỡ chỉ trong năm tiếng đồng hồ trƣớc
giao thừa của: "Những thành viên tiêu biểu trong một gia đình tiêu biểu,
những nhân vật tiêu biểu trong xã hội miền Nam sau ngày giải phóng đang
bàn luận, tranh cãi, tự bộc lộ để đi đến sự gặp gỡ cuối cùng về tƣ tƣởng:
Chấp nhận chủ nghĩa xã hội, chấp nhận cái mới nhƣ một điều tất yếu.
Nhƣ vậy, với cốt truyện đơn giản và những tình tiết ngẫu nhiên, nhà
văn có thể tập trung vào cảm hứng chủ đạo để làm nổi bật tƣ tƣởng tác phẩm.
Tuy nhiên Nguyễn Khải đã khéo đan xen sự kiện vào lời kể, phát biểu của
nhân vật trong những truyện tƣởng nhƣ không có chuyện. Vì vậy, lối kể ấy
làm sinh động thêm lời kể. Qua một lời kể của nhân vật, ngƣời đọc thấy
đƣợc rất nhiều sự việc, sự tình với diễn biến sinh động của nó. Chất tƣ liệu
đời sống ở những lời kể này rất phong phú tạo nên sức hấp dẫn của câu
chuyện. Bên cạnh đó, cốt truyện đại thể có vẻ đơn giản chỉ có luận đề nhƣng
luận đề lớn ấy đƣợc thâu tóm từ rất nhiều sự kiện đời sống nên lại rất sinh
động. Cộng với lối kể chuyện có duyên của tác giả, tác phẩm của ông ngày
càng thu hút sự chú ý của ngƣời đọc.
3) Yếu tố tự truyện trong cốt truyện của Nguyễn Khải:
Xuất phát từ hai khái niệm tự truyện và cốt truyện nhƣ trên, chúng ta
đều có thể nhất trí rằng: Những biến cố, sự việc, nhân vật làm nên cốt
truyện trong tác phẩm tự truyện đều đƣợc lấy từ cuộc đời thực của tác giả. Và
tiểu thuyết Nguyễn Khải cũng không nằm ngoài nhận định này. Chúng ta có
thể thấy rằng mỗi tiểu thuyết của ông là một cuốn nhật ký nhỏ ghi lại những
22
diễn biến trong tâm tƣ, tình cảm của ông. Chúng ta sẽ nhận thấy rất rõ điều
này trong tâm sự sau đây của ông:
“Trong mấy năm tôi đã thu thập được rất nhiều tư liệu quý hiếm, đã
hiểu thêm nhiều người, nhiều việc nhưng cái giây phút hoá thân để
bắt đầu lia ngòi bút lên trang giấy vẫn chưa tới ( ), không biết bắt
đầu từ đâu. Bắt đầu từ chuyện chị Hoàng chăng? Nhưng cách vào
chuyện sẽ phải như thế nào, cái lõi cái hồn của nó ở đâu? Chịu! Bắt
đầu từ chuyện vợ chồng bà Đại chăng? Không thể phát triển được,
sẽ bị cuốn tròn trong cái lẩn quẩn. Hoặc từ chính gia đình của tôi
nhƣ thật hay không. Nhƣng khi nghiên cứu về yếu tố tự truyện trong cốt
truyện của Nguyễn Khải thì ta thấy đƣợc nó phản ảnh rất rõ nét về cuộc đời
của tác giả cũng nhƣ những câu chuyện về họ hàng, gia tộc, bạn bè và cả
những ngƣời mà Nguyễn Khải gặp gỡ. Chẳng hạn nhƣ cuốn tiểu thuyết
“Thượng đế thì cười” là câu chuyện của chính cuộc đời tác giả. Ở đó, có
những dằn vặt suy tƣ của con ngƣời mà ở độ tuổi 70 đang phải đối diện với
hiện thực của tuổi già, nay có thời gian nhìn nhận lại bản thân trong chiều sâu
quá khứ để cảm nhận thấm thía những đƣợc – mất, những điều làm đƣợc và
chƣa làm đƣợc trong cuộc đời, theo từng nấc thời gian: từ nhỏ sống khổ cực
trong cảnh bố nhiều vợ lắm con, khi lớn lên sống thế nào; thậm chí Nguyễn
Khải còn nói rõ từng mốc thời gian cụ thể trong cuộc đời mình nhƣ năm 30
tuổi ra sao, đến năm 50 tuổi thế nào? Trong câu chuyện còn có sự hiện diện
của gia đình (vợ, con), của bạn bè, đồng nghiệp. Truyện còn có cả tiếng nói
của hôm nay cùng với những dằn vặt, suy nghĩ và hoài niệm về ngày hôm
qua. Câu chuyện mang yếu tố tự truyện rõ nét vì câu chuyện không những kể
về cuộc đời tác giả mà tác giả còn không ngừng bày tỏ quan điểm chủ quan
của mình khi nhìn nhận, đánh giá vấn đề hơn là miêu tả sự việc một cách
khách quan.
Tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm” kể về những ngƣời họ hàng của
Nguyễn Khải. Câu chuyện kể lại một cuộc gặp mặt gia đình vào một buổi tối
cuối năm, trƣớc khoảnh khắc giao thừa của năm mới và năm cũ, cuộc gặp mặt
của những trí thức trong cùng dòng họ nhƣng nhiều năm qua có hai hƣớng đi
khác nhau. Bữa cơm do bà Hoàng – một ngƣời thuộc tầng lớp trên của chế độ
cũ làm chủ. Câu chuyện khề khà quanh bàn nƣớc, đôi lúc lan man của những
trí thức về già nhƣ một cuộc tƣ vấn bản thân về những gì họ đã trải qua. Dù
trƣớc kia có thế nào đi chăng nữa, trƣớc vận mệnh của dân tộc, ngƣời trí thức
phải nhận ra đâu là chân lý của cuộc sống mới. Đó là điều mà họ đã gặp gỡ
vào buổi tối cuối năm trƣớc lúc giao thừa.
24
kênh rạch chằng chịt ở vùng đồng Tháp Mƣời đã lại thấy ông xuất bản “Hà
Nội trong mắt tôi” và những tác phẩm viết về chuyện xảy ra ở mãi đâu Phú
Thọ, ở vùng Thiên Chúa giáo Nam Định, ở Hà Tây, Thanh Hoá, ở Thái Bình,