BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Nguyễn Hạnh Thảo TÍNH CHẤT TRIẾT LUẬN
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẢI,
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
mâu thuẫn, xung đột và giằng xé của thời đại và trong tâm tư tình cảm con người.
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải là một công cuộc khám phá những vấn đề của cuộc sống
và con người Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc v
ĩ đại và trong công cuộc xây dựng, kiến tạo
một xã hội mới. Nguyễn Khải đã kiên trì mở đường khám phá, giải quyết những vấn đề xã hội chính trị
và càng về sau càng hướng tới vấn đề của đời sống nhân sinh với giọng văn ngày càng nghiêng về suy
ngẫm, triết luận. Tác phẩm của ông luôn đạt tới một tầm tư tưởng, khái quát cao thông qua hình thức
nghệ thuật đặc sắ
c, biến hóa. Mục đích của đề tài là nghiên cứu các đặc điểm triết luận trong văn xuôi
của nhà văn Nguyễn Khải. Những đặc điểm này giúp nhận thức, đánh giá đúng hơn về phong cách
nghệ thuật, nhìn nhận thỏa đáng hơn về sở trường sở đoản của ngòi bút Nguyễn Khải. Thêm vào đó nó
còn cho thấy quá trình phát triển của một tài năng từ chặ
ng đường đầu của sự nghiệp đến sự trưởng
thành chín chắn của một cây bút hiện thực cách mạng sắc sảo. Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài góp phần tìm
hiểu toàn diện hơn cảm hứng triết luận được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình sáng tác của
nhà văn như một phong cách độc đáo riêng. Tư tưởng triết luận ấy cũng liên tục vận độ
ng, vượt qua
những lối mòn, hạn chế của chính mình rất đáng để chúng ta nghiên cứu, bàn luận. Ngoài ra việc
nghiên cứu chất triết luận trong các sáng tác của ông cũng giúp ta có những định hướng trong việc dạy-
học tác phẩm của ông trong nhà trường tốt hơn. Vì vậy, đề tài luận văn sẽ góp phần tìm hiểu những tư
tưởng triết luận trong các tác phẩm của Nguyễn Khải để thấu hiểu chân dung con ng
ười thời hiện đại.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thạch Lam từng đánh giá về nền văn học Việt Nam là "Cái mà chúng ta thiếu nhất, ấy là sự sâu
sắc". Đó là chiều sâu cảm hứng triết luận trong văn học. Năm 1977 với bài Nhìn lại một chặng đường
tiểu thuyết, Nguyễn Văn Long đã phát hiện ra Nguyễn Khải là người mở ra một khuynh hướng mới –
đó là khuynh hướng tiểu thuyết triết luận. Ông nêu lên các tiêu chí để nh
ận diện. Một là căn cứ vào nội
dung có thể đặt tên cho các sáng tác của Nguyễn Khải là thể loại thời sự luận đề. Hai là để phục vụ mục
đích luận đề, nhà văn không chú trọng khắc họa tính cách nhân vật mà thường phân tích nhân vật của
ận, triết luận trong
sáng tác Nguyễn Khải đã đem lại những khoái cảm trí tuệ thẩm mĩ cho người đọc. Với Nguyễn Khải
chính luận thường gắn liền với triết luận.
Các bài phê bình, nghiên cứu về tác giả, tác phẩm Nguyễn Khải đã nhận định, lí giải về chất triết
luận trong sáng tác và quá trình hình thành khuynh hướng này của ông một cách sâu sắc. Các ý kiến
thường tập trung vào hai trọng tâm: sáng tác củ
a Nguyễn Khải có sự song hành với thời hiện tại – “cái
hôm nay” và chuyển hóa dần từ chính luận sang triết luận.
2.1. Những tác phẩm song hành cùng “cái hôm nay” của cuộc sống
Lịch sử văn học đã in đậm dấu ấn của nhà văn vì tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp,
trăn trở của số phận đất nước và nhân dân sẽ được tìm thấy và đọc lại nhiều nhất, sâu nhất trong
Nguyễn Khải. Trong cuốn Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại (từ sau 1945) của Chu Nga, bà đ
ã đánh
giá rất cao tính hiện thực trong những tác phẩm của Nguyễn Khải viết về nông thôn, đồng thời khẳng
định ngòi bút của tác giả "thông minh, sâu sắc, giàu tính chiến đấu, (...), luôn có sự đòi hỏi cao với bản
thân và đối với mọi người" [14].
Sáu năm sau đó, Phan Cự Đệ tiếp tục viết về Nguyễn Khải trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975
(tập 2). Bài viết bao quát một khối l
ượng tác phẩm lớn của nhà văn sáng tác trong vòng 30 năm và 20
bài nghiên cứu có giá trị về tác phẩm Nguyễn Khải. Ông nhấn mạnh: "Với một ngòi bút hiện thực tỉnh
táo, Nguyễn Khải luôn luôn xông thẳng vào những mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội bộ nhân dân
trong xã hội, những xung đột giữa các tính cách, những đấu tranh giằng xé trong tâm tư tình cảm của
mỗi con người"... Đấy là phong cách độc đáo của tác giả khác xa với "những phong cách hi
ện thực tỉnh
táo trong văn học hiện thực phê phán"[14].
Lê Thanh Nghị thì thích thú với cái hiện thực đầy sắc bén được Nguyễn Khải thể hiện rất độc
đáo trong các tác phẩm:“Một số lượng trang viết ít, hướng vào một vấn đề sâu sắc của cuộc sống, có
khi lại trở thành thứ vũ khí sắc bén hơn cả trong tay người đọc.” [102].
Khi lí giải về chất chính luậ
n, triết luận đậm đặc trong sáng tác mà về sau thực sự trở thành
ủa chuyển động văn học ta suốt một thời kì lịch sử dài và không hề đơn giản, dễ dàng, tiêu biểu
nhất là ở Nguyễn Khải, chính vì đấy đúng là cái tạng của anh và cũng vì anh là người tài năng nhất,
cũng trung thực nhất với chính mình.” [86].
2.2 Chuyển hóa từ chính luận sang triết luận
Đầu những năm 80 đánh dấu bước chuyển mạnh của văn xuôi nói chung từ việc ph
ản ánh những
năm tháng chiến tranh sang cuộc sống thời bình với những vấn đề nổi lên là gia đình, tình yêu, những
vấn đề thế sự - đạo đức hướng vào các giá trị nhân bản, mạnh dạn đề xuất những chuẩn mực đạo đức
mới phù hợp với thời đại. Là một trong những nhà văn tiên phong của phong trào đổi mới, Nguyễn
Khải viết rất sung sức và dườ
ng như văn ông càng có duyên và thu hút người đọc hơn trước. Tác phẩm
của ông lúc đầu giàu tính chính luận thời sự, khám phá những vấn đề xã hội - chính trị nổi lên trong
từng thời điểm cụ thể của đời sống, càng về sau (nhất là các sáng tác sau 1978 của ông) càng có thiên
hướng vươn tới những khái quát triết lí về đời sống. Rất nhiều cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Khải thu
hút sự chú ý trong các năm này nh
ư Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Thượng đế thì cười. Sự
vận động trong khuynh hướng sáng tác của Nguyễn Khải chuyển dịch từ chính luận tới triết luận: giai
đoạn đầu nó mới dừng lại ở những vấn đề cấp thiết của lợi ích Cách mạng, lợi ích cộng đồng mà chưa
vươn tới những vấn đề
có tính quy luật cuộc sống vĩnh cửu. Sự phát hiện vấn đề của tác giả cũng xuất
phát chủ yếu từ yêu cầu công tác tư tưởng mang đậm tinh thần giáo huấn (đánh giá các hiện tượng đời
sống theo lập trường quan điểm chính trị - đạo đức Cách mạng). Đến giai đoạn sau tuy vẫn gắn bó với
thời sự chính trị nhưng nó còn gắn với cá nhân, nó hướng vào nhữ
ng cuộc đối thoại tư tưởng để giải
quyết những vấn đề vĩnh cửu của đời sống con người. Từ Cha và con và... đến Một cõi nhân gian bé
tí: sáu cuốn tiểu thuyết ra đời liên tiếp trong một thập kỉ đã chứng minh cho kết luận của A.Guluga:
"Nghệ thuật trong thời đại khoa học đặc biệt quan tâm đến triết học, nó sáp gần và đôi khi hòa lẫn với
triết học" [1].
Cùng chung những suy nghĩ ấy, năm 1998 Nguyễn Thị Bình khẳng định:“Nguyễn Khải ngày
càng định hình một phong cách văn xuôi triết luận. Trước đây ông thiên v
pháp sau:
Phương pháp miêu tả là dùng cách thức miêu tả, kể chuyện để tái hiện lại những sự kiện. tình
tiết mang ý nghĩa triết luận trong tác phẩm. Phương pháp nghiên cứu hệ thống sẽ
được sử dụng để xác
lập các nguyên tắc tư duy nghệ thuật mang phong cách triết luận của nhà văn Nguyễn Khải. Dùng
phương pháp so sánh văn học để đặt nhà văn trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại để vấn đề được
xem xét, đánh giá khách quan. Luận văn cũng sử dụng phương pháp loại hình (loại hình thể loại, loại
hình người kể chuyện,…), còn gọi là loại hình hóa nhằ
m xác lập đặc trưng loại hình tư duy nghệ thuật
và phong cách tự sự của nhà văn từ đó có thể tìm ra những đóng góp thuộc về cá nhân nhà văn.
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
DẪN NHẬP
1. Lí do lựa chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nhiên cứu
5. Cấu trúc luận văn
Chương 1: Nguyễn Khải – triết nhân trong địa hạt văn chương
1.1 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Khải
1.2 Nguyễn Khải và hành trình đi tìm bản thể
Chương 2: Nguyễn Khải – cuộc tìm kiếm một thế giới nghệ thuật giàu tính triế
t luận
2.1. Nhà văn – con đường của một triết nhân cô độc
2.2. Kiểu nhân vật thấp thoáng dáng dấp của một triết nhân cô đơn
2.3. Đi tìm con đường của con người tự do
2.4 Những người đàn bà trong sáng tác của Nguyễn Khải – một âm bản của cuộc sống ngọt ngào
Chương 3: Nguyễn Khải – những tìm tòi thể nghiệm trong kĩ thuật triết luận
3.1 Khai thác những thế mạnh triết luận trong kĩ thuật kết cấu, kĩ thuật trần thuật, lời văn nghệ thuật
3.2 Khai thác những thế mạnh triết luận trong kĩ thuật xây dựng nhân vật
KẾT LUẬN
là khoa học thể hiện lòng người, nhà văn đã trực tiếp tham gia vào đời sống như một nhà tư tưởng, m
ột
nhà khoa học về đời sống. Đối với nhà văn, thì sự thật là không khí. Vấn đề là cái nhìn, điểm nhìn.
Nguyễn Khải có thể “lúc thế này, lúc thế kia” là vì phải đuổi theo cái sự thật luôn luôn biến đổi đến
chóng mặt đó. Nhưng luôn luôn ông là người biết nghĩ. Và ông đã tự nguyện lấy chính nghệ thuật ra để
nghiên cứu những sự thật ấy. Vì vậy, tính triết luậ
n, ở đây, trở thành một nguyên tắc mỹ học trong kiến
tạo thế giới nghệ thuật cũng như định hướng sáng tạo ngôn ngữ văn chương trong tác phẩm của nhà
văn Nguyễn Khải. Đó là một thứ triết luận toát ra không phải từ đôi ba câu trữ tình ngoại đề của tác giả,
hay vài câu nói trứ danh của nhân vật, mà từ thể tài tiểu thuyết, từ sự tương tác thẩm mỹ giữa các yếu
tố, giữa nhiều cấp độ trong thế giới nghệ thuật của ông.
1.1.1 Sự kết hợp giữa tư duy hình tượng và phân tích khoa học trong việc phả
n ánh hiện thực
đời sống:
Nguyễn Khải bộc bạch: Tôi quan niệm nghệ thuật đơn giản như sau: là khoa học thể hiện lòng
người, là lịch sử của lòng người (...) Sự thật chỉ có thể viết về những tấm lòng, những tâm trạng của
các giai cấp trong xã hội và mọi sự phức tạp, tinh vi, ngoắt ngoéo có thực của nó, như thế mới là sự
chân thật theo quan niệ
m của tôi (...) Hãy nói về sự thật lòng người, sự chân thật, kết quả của sự
nghiên cứu thận trọng, tỉ mỉ của chúng ta [26].
Những ý kiến như thế cho thấy nhà văn có xu hướng muốn vươn tới một sự kết hợp giữa tư duy
hình tượng và phân tích khoa học trong việc phản ánh hiện thực đời sống. Ông muốn chiếm lĩnh hiện
thực đời số
ng cả "ở cái bề sâu, ở cái bề xa" với khát vọng thể hiện chân thật lòng người trong những
năm tháng lịch sử nhiều biến động. Ông chinh phục người đọc bằng những lập luận, lí lẽ, những cách
đặt vấn đề và cách giải đáp riêng và đáp ứng nhu cầu đánh thức trí tuệ của họ. Nhà văn đã cung cấp
một kinh nghiệm quý báu là muốn tìm ra được những nét că
n bản của cuộc sống, muốn có được những
hình tượng nghệ thuật chân thật và sinh động thì phải có sự hiểu biết chu đáo, sâu rộng, phong phú về
phạm vi hiện thực mà nhà văn đó phản ánh. Để có lòng tin cậy của bạn đọc, nhà văn không thể hiểu
bị hòa tan vào cái tầm thường của đám đông, đấy là một phát hiện của Nguyễn Khải.
Quan tâm đến cá nhân con người trong mối quan hệ "cái tôi" và "chúng ta" là một việc làm đạt đến
chiều sâu triết học và nhân bản. Vì lúc đó người ta hay nhấn mạnh đến sức mạnh, tinh thần tập thể mà
dè dặt khi nói đến ý thức trách nhiệm cá nhân đặc biệt là vấn đề khẳng định bản lĩnh cá nhân của con
người gi
ữa một hoàn cảnh sống mà cái "tôi" chưa được nhìn nhận công bằng, thoả đáng. Hay vấn đề
tôn giáo được nhìn theo hướng đấu tranh giữa những người cách mạng và phe đội lốt tôn giáo chống
phá cách mạng. Các sáng tác giai đoạn sau 1977 nghiên cứu quá trình diễn biến tư tưởng nhân vật
nhằm đi tới những khái quát lớn về tôn giáo và dân tộc, sự hòa hợp giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội,
tôn giáo với quá trình vận động để
tồn tại của chính nó. Tuy nhiên cái nhìn tôn giáo ở tác phẩm này vẫn
còn bị chi phối chủ yếu bởi nhãn quan chính trị. Vấn đề lựa chọn một nhân cách sống vẫn đang là vấn
đề còn đặt ra đối với người trí thức hôm nay. Gặp gỡ cuối năm là cuộc đối thoại giữa người "thắng
cuộc" với người "thua cuộc" để hòa nhập vào cuộc sống và thúc đẩy cuộc sống phát tri
ển. Thời gian
của người, Điều tra về một cái chết chạm đến vấn đề nhìn sâu vào bản thể để tự ý thức. Trong cái mịt
mờ đen tối của những mưu đồ, sự giả dối, tội lỗi và niềm tuyệt vọng, chợt lóe lên một ánh chớp soi
sáng tất cả để người đọc tự nhận ra "Ta là ai?". Đây là ý nghĩa triết luậ
n của cuốn sách được đút rút ra,
là một chữ tâm. Một cõi nhân gian bé tí là vấn đề mối quan hệ giữa con người và thời thế. Một cõi
nhân gian bé tí là những cái may, cái rủi, cái được, cái mất của kiếp người ở những lứa tuổi khác nhau.
Từ đó hình thành hai lớp người: Lớp người lạc thời vì chọn lầm đường, vì ảo tưởng vào bản thân, vì
cái thời của họ đã hế
t (Mọ Vũ, ông Mọn, ông Định ), vì chịu oan do tội của tổ tông (Hải - cháu mọ Vũ
), vì không chịu được sự kiềm hãm của cơ chế lạc hậu, vì thời thế thay đổi (Chính, Tiến )... Lớp người
gặp thời nhờ "trúng quả", biết lợi dụng cơ chế, nhưng ít học, hãnh tiến, sống bát nháo... Các sáng tác
lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã vượt ra khỏi cái khung thời sự nhất
thời để gây ám ảnh lâu dài.
1.1.2 Niềm khao khát được hiện diện trong sự chuyển động của cuộc sống
Cái sự “gặp thời” mà nhà văn Nguyễn Khải vẫn thường tự nhận đó chính là môi trường lí tưởng
u hiện thực chiến đấu: Kí sự Họ sống và chiến đấu ra đời ở
Cồn Cỏ. Tiểu thuyết Đường trong mây ra đời ở Trường Sơn. Tiểu thuyết Ra đảo ở đất lửa Vĩnh Linh.
Tiểu thuyết Chiến sĩ trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Kí sự Tháng 3 ở Tây Nguyên trong chiến
dịch giải phóng miền Nam 1975. Rồi ông lại đặt chân tới Sài Gòn vào đ
úng năm 1975, khi chiến dịch
Hồ Chí Minh toàn thắng. Ông tập trung vào việc phát hiện những khía cạnh sâu hơn của hiện thực cách
mạng những năm tháng đầu hòa bình: sự xoay chuyển của ý thức, cách nhìn nhận và chấp nhận đời
sống mới trong tâm thức những con người của xã hội Sài Gòn cũ. Kịch Cách mạng, tiểu thuyết Gặp gỡ
cuối năm bàn về những thay đổi quyết liệt của đời số
ng xã hội chủ nghĩa mới trong những lớp người
cũ những năm đầu hòa bình lập lại ở miền Nam. Trong tác phẩm Gặp gỡ cuối năm, ông đã khéo léo
dựng lại được phần nào cái không khí của xã hội miền Nam. Chuyện Nguyễn Thế Uyển tát tai tổng đốc
Thái Bình tại bến phà Tân Đệ, chuyện những người làm nghề “xỉa răng cá sấu” ngoài Mã Đảo để
kiếm tiền, chuyện một cán bộ khoa học có tài bị thoái hóa mới trốn ra nước ngoài ở xí nghiệp Bình;
chuyện một thằng A cỡ bự được Quân tặng chó lại có liên quan đến “chú Phùng” tình báo (...) cũng
được bà Hoàng coi là ân nhân v.v... Rồi những chuyện về Thiền, về tử vi, tướng số, về sáng tác nghệ
thuật, về văn hóa ẩm thực, về chơi cờ tướng, thậm chí triết luận cả về một cái tên ng
ười. Chẳng hạn tên
ông Đại thêm một chấm ở vai thành Khuyển là chó. Thêm một chấm ở háng là Thái, thái quá thì bất
cập. Giáo chủ Cao đài mời ông ra làm việc với Pháp, ông đã từ chối khéo vì không muốn có thêm một
chấm trên vai thành chó săn (thành chuyện chính trị). Nói về Thiền: Thiền dạy con người ta biết sống
cho hợp lẽ tự nhiên:“Thượng thiện nhược thủy, Bậc thượng thiện sống như nước. Nước luôn luôn có
khuynh hướng nhập vào dòng lớn chảy ra đại dương. Mà tự nhiên, mà thanh thản” [32, tr.98]. Chuyện
nào cũng cô đọng, hàm súc mà lung linh, đa nghĩa, chỉ cốt lấy cái thần để rút ra những triết lí thâm
trầm, sâu sắc bằng những chính kiến, những trải nghiệm cá nhân khác nhau. Thời kì đất nước tiến hành
đổi mới với sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa kéo theo nhiều xáo trộn trong nếp sống nếp nghĩ người
Việt Nam, ông l
ại tập trung viết về "văn hóa sống", về cuộc đấu tranh âm thầm nhưng quyết liệt để giữ
gìn đạo đức và nhân cách của mỗi con người (Một người Hà Nội, Sống ở đời...). Với ý thức đi thẳng
vào đời sống hiện tại, theo sát thời sự, tác phẩm Nguyễn Khải nói chung thường gắn với những chuyến
thế giới tinh thần, đời sống tình cảm, tâm lí, đời sống tư tưởng và toàn bộ tâm hồn con người. Nó bao
hàm cả sự cần thiết phải phanh phui những thói hư, nhược điểm của con ngườ
i để giúp con người nhận
thức được chính mình và đời sống xung quanh. Nhưng mục đích cuối cùng của văn học không gì khác
hơn là hướng con người đến Chân-Thiện-Mĩ, hướng đến một cuộc sống hoàn hảo cho nên nhà văn
"không chỉ miêu tả cái xấu xa, cái ghê tởm, cái hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là
cái cao cả, cái tốt đẹp, cái thủy chung" [25]. Từ quan niệm đó, Nguyễn Khải đã hình thành cảm hứ
ng
nghiên cứu đời sống và những con người đương thời một cách nhất quán, rõ rệt. Nguyễn Khải hầu như
chỉ viết về hiện tại và những trang viết về quá khứ chiếm phần khiêm tốn trong những sáng tác của
ông. Ông gọi đó là "cái hôm nay": "Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối
và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, đầy bất ngờ mới th
ật là mảnh đất phì
nhiêu cho các tay bút tiểu thuyết thả sức khai vỡ" [32]. "Cái hôm nay" luôn luôn ở "thì hiện tại", ở
trạng thái "chưa hoàn kết" (M.Bakhtin). "Nếu không đi, chỉ ngồi tĩnh lặng mà nhớ lại thì nhạt lắm.
Ngay cả khi viết về cái xa xưa cũng cần có tia nhánh lửa của hôm nay, cái xôn xao của bây giờ."- nhà
văn Nguyễn Khải tâm sự [99]. "Nếu ngày hôm qua bao giờ cũng tốt đẹp h
ơn ngày hôm nay và cả ngày
mai thì sẽ không có lịch sử, không có khoa học về lịch sử, không có sự sống, không có gì hết" [27].
Cảm hứng nghiên cứu đời sống bắt rễ vào "cái hôm nay" thôi thúc Nguyễn Khải tự phải vươn lên
không ngừng, học hỏi không ngừng để theo kịp với những yêu cầu cuộc sống đặt ra như nhân vật của
ông từng nói:"Ngày qua tháng lại, một năm qua đi, một năm mới lạ
i tới, nhiều vấn đề mới xuất hiện
buộc ông phải đọc nhiều thứ, học thêm nhiều thứ để sự so sánh được rộng hơn, những kết luận đã xác
thực hơn và niềm tin cũ lại có thêm những căn cứ vững chắc" [34].
1.2 NGUYỄN KHẢI VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TÌM BẢN THỂ
Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Khải mang hai số phận khác nhau. Đó là một đứa trẻ chịu cảnh
thiệt thòi vì là con vợ lẽ. Cậu bé Nguyễn Khải bị giam cầm trong bóng tối của sự mặc cảm, sợ hãi và
bất khả nhận thức. Rồi trước bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc, cuộc đời của Nguyễn Khải đã bước
sang một trang mới. Cậu có cơ hội trở thành một con người mới, được học tập và tiếp cận chân lí.
bút mới thật rõ rệt và có chiều sâu [...]. Đại hội VI của Đảng với tinh thần dân chủ và nhìn thẳng sự
thật, nói đúng sự thật dường như đã đáp ứng nhu cầu tự thân của Nguyễn Khải" [95]. Về sau nhà văn
Nguyễn Khải cũng giải thích rõ hơn về các giai đoạn sáng tác của mình: “Trong 53 năm làm nghề, do
sự phát triển tự thân, tôi đã thay đổi ba lần những quan niệ
m về tiểu thuyết, những đề tài và nhân vật
cần phải quan tâm, nghệ thuật kết cấu và ngôn từ. Lần thứ nhất vào năm 1957 để có được cuốn tiểu
thuyết Xung đột, lần thứ hai vào năm 1978 thì viết được Cha và con và..., Gặp gỡ cuối năm, mở đầu
cho năm cuốn tiểu thuyết tiếp theo, có thể còn đọc được trong khoảng mươi năm nữ
a. Và lần cuối là
năm 1990 với một chuỗi truyện ngắn, khoảng sáu, bảy chục truyện, viết trong 10 năm, và tuổi thọ của
nó xem chừng cũng còn dài” [87]. Khuynh hướng sáng tác của nhà văn Nguyễn Khải chuyển dịch từ
chính luận sang triết luận. Giai đoạn đầu nó mới dừng lại ở những vấn đề cấp thiết của lợi ích cách
mạng, cộng đồng mang đậ
m tinh thần giáo huấn theo lập trường quan điểm chính trị - đạo đức cách
mạng. Nhà văn không cảm thấy tù túng bó buộc giữa yêu cầu của cách mạng với văn học, yêu cầu của
thời đại với nhà văn. Nhà văn luôn tìm được khoảng trống rộng rãi đủ để ông múa bút. Đối với quan
niệm chung chi phối sáng tác văn học sau năm 1945 là nhà văn phải gắn bó với đời sống những ngườ
i
bình thường thì ông hăng hái đi khắp vùng ven biển Nam Định và tái hiện những bức tranh cuộc sống
của con người nơi đây chân thật và tỉ mỉ đến bất ngờ. Nguyễn Khải thú thật đã từng lãng quên những
con người và những việc bình thường:“(…) chuyện hằng ngày, nhỏ nhặt và tầm thường có gì đáng để
phải viết. Chả là tôi rất thích viết những hoàn cảnh gay gắt, đơ
n biệt, những tính cách hoặc u tối hoặc
chói sáng.” [68]. Các truyện trước đây của Nguyễn Khải dù rất uyển chuyển, sinh động nhưng vẫn nổi
lên một sắc thái nhất định. Nguyễn Khải, "đi thực tế đấy mà thực chất là để tìm mình, để phát ngôn cho
chính mình [...]. Vì sự lựa chọn của họ rút cục đều do ông mách nước cả". Các sáng tác của Nguyễn
Khải đầy ắp cả
m hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước và thường
lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Đến giai đoạn sau,
nhà văn đề cập đến vấn đề thời sự, chính trị nhưng nó gắn với cá nhân, hướng vào những cuộc đối thoại
văn học Vương Trí Nhàn từng nhận định:"Ngày nay đến với truyện của ông, người ta được đến với một
thế giới đa dạng hơn, nhiều sắc thái hơn, cái anh hùng xen với cái bình thường, cái đáng căm giận
đáng phỉ nhổ không thiếu, nhưng còn bao nhiêu cái đáng cảm động, đáng để tin yêu, nó góp phần làm
nên một cuộc sống thú vị có cả tiếng cười l
ẫn nước mắt". [110, tr.119]. Dường như trong văn chương
thì nỗi đau dễ còn lại với đời sau hơn là niềm hân hoan và những câu chúc tụng. Nhìn chung ta có thể
khái quát hai giai đoạn sáng tác lớn của Nguyễn Khải. Trước 1978, tác giả có cái nhìn tỉnh táo, sắc
lạnh, nghiêm ngặt, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, ta – địch, tốt – xấu
nhằm khẳng định xu thế
vận động (từ bóng tối ra ánh sáng) của cuộc sống mới, con người mới. Ngòi
bút văn xuôi có khuynh hướng chính luận với sức mạnh của lí trí tỉnh táo. Sau 1978, cái nhìn của ông
trở nên đầy trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy đổi thay và đặc biệt là
chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Tác giả nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ
với
lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ nhằm khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân
văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Lấy việc khám phá những con người trong cuộc
sống đời thường làm trung tâm. Các tác phẩm thể hiện cảm hứng triết luận với giọng văn đôn hậu, trầm
lắng, nhiều suy nghiệm.
Từ
sau Xung đột, những tác phẩm như Mùa lạc, Đứa con nuôi, Chuyện người tổ trưởng máy
kéo đều nhất quán trong cảm hứng lãng mạn. Những kiểu nhân vật như chị Đào, Thoa, Thi... đã khá
quen thuộc trong văn học của ta. Đó là những con người rất bình thường, nhỏ bé bị tơi bời trong sóng
gió cuộc đời. Nhưng họ vẫn đầy lạc quan với sức trỗi dậy bền bỉ, khả năng tự tái sinh mình đến kì lạ.
Trong những năm đầu tiên được hưởng thành quả của chế độ mới (sau 1945), nhà văn đã không tránh
khỏi cái cảm xúc quá hào hứng và thán phục đối vớ
i mọi việc và mọi người. Ông đã hăm hở đẩy mọi
thứ lên đến cực đoan rồi đi đến những tổng kết mang nặng tính lí thuyết. Tất nhiên cứ say sưa ca ngợi
cái này thì đương nhiên cũng hăm hở phê phán chế giễu cái kia. Nguyễn Khải từng thừa nhận:“Có một
thời mà thời ấy kéo hơi quá dài, những ba chục năm, chúng ta chỉ tôn trọng có ý chí có nghị lực có
chính trị tư tưởng.” [52]. Chỉ cần so sánh một chút cảm hứng khái quát đời sống khi nhà văn viết Mùa
thúc trong con người làm nghề viết lách này.
Ông đã tự hòa giải với chính mình bằng lòng khoan hòa,
đồng điệu. Và chính tấm lòng tự nguyện hòa giải ấy đã mở ra cho ông một con đường thênh thang
trong sáng tạo văn chương. Ông đã không ngần ngại nói lên những cảm nhận mới về đời sống của ngày
hôm nay:"Tôi chợt nhận ra sự sống đã trở lại, đã phá vỡ cái nền nếp khắc khổ của một thời nghiệt ngã,
để
được sống đến triệt để, đến thỏa thê, sống bằng hết sức mạnh vốn có, những thèm khát vốn có. Vì đã
từ lâu lắm rồi mỗi người chỉ còn sống với cái tối thiểu để tồn tại, tồn tại là trước hết" [47, tr.470].
Những cuộc đối thoại giữa ngòi bút Nguyễn Khải hôm nay và những trang viết mấy chục năm về trước
là cuộc
đối thoại dài với chính mình, với các nhân vật của mình và với chính các tác phẩm của mình.
1.2.2.1. Nhìn nhận vấn đề cũ dưới một cái nhìn mới
Với Nguyễn Khải đặt vấn đề thường đồng nghĩa với việc đặt lại vấn đề, nghĩa là phát hiện lại,
nghiên cứu lại những vấn đề của hiện thực tưởng đã xong xuôi. Nhân vật chính trong các tác phẩm của
Nguyễn Khải ở thời kì đầu đều là những người tốt, dẫu có "vẫy vùng" đến đâu thì "cái riêng của từng
người" c
ũng phải "hòa tan trong sự nghiệp kháng chiến" [35, tr.124]. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp
không phát huy tính cần cù sáng tạo của từng cá thể nông dân, nhưng đây là chủ trương lớn nên như
nhiều nhà văn đương thời, Nguyễn Khải cũng phải "tuyên truyền qua đường lối Xung đột". 45 năm
sau, qua Thượng đế thì cười, Nguyễn Khải mới có thể nói được những cảm nhận về người nông dân
khi đ
i vào hợp tác hóa nông nghiệp:"Đang làm chủ trở thành người làm công ăn lương, không thể tính
toán cho riêng mình bất cứ việc gì, họ không còn đất đai, không còn nông cụ, không còn cả lao động
và thời gian, tất cả đã thuộc về hợp tác xã thì còn gì để tính nữa. Vì không tính được nên cái lo của
người già và những người chủ gia đình là cái lo kéo dài suốt mấy chục năm, từ đời này qua đời nọ, lo
quá thì không còn lo nữa cho xong, đã lụt thì lụt cả làng, cả làng
đói thì đã có nhà nước lo, sự bình
đẳng gần như hoàn toàn, không còn giàu và nghèo thì cũng không còn lười và chăm, ngu và sáng, may
động, dâm ác, ngay các nữ tu trong
nhà dòng "khấn vái từ sáng đến tối nhưng vẫn tằng tịu với người khác giới, có người uống thuốc thôi
thai, có người đi đẻ giấu, có người còn đang tay bóp chết con nhỏ", tất cả những hành động hoặc u mê,
hoặc hủ bại, chống phá Cách mạng được đẩy lên tới mức có thể gây ngộ nhận đó là bản chất của linh
mục, tu sĩ, giáo hữu Công giáo thì có ph
ần bất công. Tác giả cũng đặt Công giáo và Cách mạng vào thế
mâu thuẫn gần chạm mức đối kháng, khả năng hòa hợp hòa giải trở nên mong manh. Môn gay gắt,
quyết liệt: "...Ý chừng linh mục muốn chống đối với chúng tôi mãi mãi chăng? ... Nếu vậy chúng tôi sẽ
có cách"... "muốn đạo gì thì đạo, đã là công dân thì phải theo đúng pháp luật nhà nước" [80, tr.97]. 15
năm sau (1974) ông viết Cha và con và... đến năm 1984 ông lại cho ra đời Thờ
i gian của người và sau
đó hai năm là Điều tra về một cái chết cho thấy sự vận động trong quan niệm về tôn giáo và con người
tôn giáo của nhà văn. Nếu Xung đột đi vào tố cáo sự lỗi thời, bất lực của các thế lực Thiên Chúa giáo
thì đến Cha và Con và... nhân vật cha đạo không bị bôi nhọ, không bị hạ thấp về mặt nhân cách. Ngược
lại đó là một người tr
ẻ trung, tự trọng, tỉnh táo luôn muốn thay đổi những thứ cũ kĩ, trì trệ. Trong Xung
đột, các tu sĩ Thiên chúa giáo và lực lượng cách mạng hiện lên như một mâu thuẫn mang tính đối
kháng, những người Kitô hữu vừa muốn giữ đạo vừa muốn đến với cách mạng phải trải qua bao giằng
xé, vật vã thì trong hai tác phẩm sau này, Nguyễn Khải có những lí giải lí tình hơn: giáo hữu cũng là tế
bào trong cơ thể dân tộc. Cảm nhận của nhà văn về các tu sĩ không nặng nề, ít nhiều phiến diện ở góc
độ quan sát địch - ta, các thôn xóm Thiên Chúa giáo toàn tòng không mụ mị trong đám mây cuồng tín.
Điều cha Thư (Cha và con và...) chiêm nghiệm: "Đi với giáo hữu, tuân theo ý muốn của giáo hữu sẽ
hoà hợp được với tất cả
, vì giáo hữu là nền tảng, là cội nguồn. Cách mạng cũng từ đấy mà có. Hội
Thánh cũng từ đấy mà có, không có gì trái ngược" [76, tr.746]. Tất cả những gì nhà văn viết trong Cha
và con và..., Thời gian của người là hết sức mới mẻ, khẳng định cái hôm nay của năm 1978,1983 (khi
viết hai tiểu thuyết trên) đã khác xa cái hôm nay của năm 1959,1960 (khi viết Xung đột). Điều đó nói
lên khả năng phát hiện, ý thứ
c tôn trọng lịch sử khách quan và dũng lực của ngòi bút Nguyễn Khải -
nói như Hà Minh Đức - nhà văn đã "miêu tả quá khứ để có cách nhìn đánh giá thỏa đáng với những
đã khác rất nhiều với Nguyễn Khải của Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm, Khoảnh khắc đang sống.
Nguyễn Khải sau này thuyết phục người ta không chỉ bằng cái lí mà phầ
n nhiều là sự trải nghiệm,
khoáng đạt, độ lượng. Những câu chuyện Nguyễn Khải viết về Hà Nội, chuyện nào cũng tràn đầy yêu
thương, trân trọng và kính phục, từ "bà cô tôi" trong Nếp nhà, cô Hiền trong Nắng chiều, đến các danh
sĩ Bắc Hà thời nay như Hồ Dzếnh, Kim Lân... Người nào cũng đẹp, cũng có một nhân cách vững vàng
trước sự thay đổi bể dâu của cuộc đời. Ông tìm thấy bà Hiền - “h
ạt bụi vàng” của đất kinh kì giữa bao
nhiêu bụi bặm xô bồ nhốn nháo trong buổi giao thời để mà ước ao “Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu
đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng” [85,
tr.339].
Chính những thay đổi ấy nơi ông đã được mọi người tích cực ghi nhận. "Nguyễn Khải đã có một
sự điều chỉnh không ít trong cách nhìn con người "ở phía bên kia", những con ng
ười mà một thời
chúng ta quan niệm là những nhân vật tiêu cực, nhân vật phản diện. Trong khi miêu tả và thể hiện, đa
phần họ được vẽ bằng những nét bút biếm họa hoặc công thức giản đơn, sơ lược, như những cái máy
vô cảm, vô hồn" [24]. Nguyễn Khải bộc bạch: "Lắm ngày ngồi đọc lại hay nghĩ về những tác phẩm đã
viết trong mấy chụ
c năm qua, nhiều trang viết vẫn còn làm tôi hãnh diện và có nhiều trang viết làm tôi
xấu hổ và rất buồn. Những trang viết chủ quan, kiêu ngạo chỉ khẳng định một niềm tin, một lẽ sống, rồi
dạy dỗ, lên án, rồi chế giễu tất cả những gì khác biệt với mình, đọc lại thấy đáng sợ" [51, tr.428].
Nguyễn Khải đã chia sẻ trong Chuyện nghề: "Những trang viết hay t
ất nhiên rất dễ nhận ra là con đẻ
của mình. Nhưng những trang viết dở cũng vẫn là tôi viết cũng chả nên tự trách. Nhận thức là một quá
trình, năm ấy chỉ nghĩ được đến thế thì viết như thế. Còn bây giờ cuộc sống đã mở ra thêm những chân
trời mới, có những quan điểm mới nên cái sự hiểu việc hiểu người của tôi cũng khác trước. Ngh
ĩ khác
tất sẽ viết khác" [51, tr.428].
1.2.2.3 Kiểu nhân vật thích ứng:
ng lại không đủ tỉnh táo giữ vững ranh giới
giữa nguyên tắc và nhân nhượng. Bí thư đảng ủy xã Khang là người quá tốt nhưng lại thiếu năng lực.
Để có được cái kết luận tư tưởng mỗi con người cần phải vượt qua được chính mình tức là vượt qua cái
hạn chế của bản thân để đóng góp cho lợi ích chung thì mới mong đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của
cuộ
c sống trong điều kiện vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu. Trên con đường tìm đến cái lí tưởng đó
trong đầu Hiệp thường xuyên xảy ra cuộc tranh luận gay gắt giữa mình với mình, tự mình kết luận
những việc làm của mình. Ông luôn luôn tự vấn giữa đúng hoặc sai: thái độ thiếu kiên quyết của mình
đối với những lỗi lầm của mình với chủ tịch xã Đàm là
đúng hay sai? Việc mình ủng hộ, khuyến khích
những cách làm táo bạo của Chủ tịch xã An là đúng hay sai? Rồi ông “khắc khoải phác họa một kế
hoạch sửa chữa sai lầm” mặc dù chính ông “vẫn chưa nhận ra mình đã có sai lầm gì, mà chỉ có ấn
tượng chắc chắn đã mắc nhiều sai lầm”.
Hay trong tác phẩm Người trở về, con đường để tư tưởng được thay đổi và thích
ứng như đã được sắp
đặt sẵn. Các tình huống diễn ra như để phục vụ cho sự thay đổi cách nhìn của Khang – anh thanh niên
thuộc tầng lớp trung nông đi bộ đội về, đối với quê hương và con người nơi đây. Anh đã hình dung sẵn
về một quê hương hoàn hảo theo tưởng tượng của anh nên thấy bản danh sách ứng cử viên bầu cử hội
đồng nhân dân xã và huyện viết không theo thứ tự a, b, c rồi hô chào cờ khi chỉ có mười cử tri đến thì
lấy làm khó chịu. Rồi bà đội trưởng sản xuất tiên tiến có đôi môi thâm cứng vì ăn trầu, quần áo lại xộc
xệch khiến Khang nghi ngờ khả năng áp dụng kĩ thuật mới c
ủa bà. Anh lại cho rằng cô người yêu sắp
cưới của mình là người quá cũ. Cách nhìn một mặt, nặng về hình thức bên ngoài đã khiến anh rất khó
khăn nhận ra tính chất tốt đẹp của ý thức làm chủ đất nước của nhân dân lao động trong những buổi
đầu bầu cử, bà đội trưởng tuy có bề ngoài luộm thuộm ấy lại có rất nhiều kinh nghiệm quản lí, và người
vợ chưa cưới c
ủa Khang thì dám chủ động cắt đứt quan hệ với anh khi biết bị khinh rẻ. Anh lại bắt đầu
tuy khó khăn nhưng đầy ý thức để thấu hiểu bài học cuộc đời và sống thích ứng nhất với nó. Và như
thế Người trở về đã nêu lên được phải có một cái nhìn, thái độ đúng đắn thì mới hiểu được cuộc sống
nông thôn. Chỉ tiếc rằng cái nhìn đó hơ