LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Nguyễn Văn Long, người thầy
đã nhiệt tình, tận tâm trong quá trình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô giáo khoa
Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, phòng sau đại học đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã khích
lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn.!.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Nhiệm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975, đặc biệt là từ cao trào Đổi mới 1986
đến nay đã có sự biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện góp phần làm nên diện mạo
của một giai đoạn văn học mới. Trong dòng mạch đó, mỗi nhà tiểu thuyết lại lựa
chọn cho mình một lối đi riêng. Có người tìm đến những cách tân mang dấu ấn hậu
hiện đại khiến người đọc sững sờ với những cuộc chơi kết cấu, chơi nhân vật đầy ấn
tượng, người khác lại tìm về để làm mới cái khung truyền thống với quan niệm
“mới về tư tưởng quan trọng hơn”… Nhưng tất cả đều hướng tới sự kiếm tìm
những giá trị văn chương khác lạ để đưa nền văn học nước nhà tiến lên một tầm cao
mới. Công cuộc đổi mới văn chương ấy đã và đang tiếp tục diễn ra với sự tiếp nối
của nhiều thế hệ nhà văn từ những người đóng vai trò tiên phong, mở đường như
Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khải đến những người từng gây sóng gió văn
đàn như Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp… và
một lớp nhà văn đương đại vẫn đang mở cho mình những lối đi riêng để khẳng định
bản thân với khao khát vượt qua những gì người đi trước đã tạo dựng như Tạ Duy
Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Võ Thị Hảo, Đặng Thân… Trong
văn học này quả thực là một thách thức không nhỏ đối với người cầm bút bởi triết
luận thế nào cho sâu sắc, sử dụng các phương thức nghệ thuật nào để tác phẩm vẫn
giàu chất văn chương chứ không sa vào sự luận giải khô khan không phải là dễ
dàng. Nó đòi hỏi ở nhà văn một sự “thông thái”, một bản lĩnh nghệ thuật vững
vàng – những yếu tố cơ bản của một nhà văn lớn.
Nhận thấy, việc tìm hiểu chất triết luận trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh là một hướng tìm tòi có triển vọng hứa hẹn đem đến nhiều khám phá thú vị
về chiều sâu tư duy tiểu thuyết của nhà văn - cái mạch ngầm chi phối cách kết cấu
tác phẩm, cách tổ chức, sắp xếp các sự kiện, cách lựa chọn và xây dựng nhân vật,
giọng điệu tác phẩm nên người viết mạnh dạn lựa chọn đây là nội dung nghiên
cứu của đề tài.
2
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Khuynh hướng triết luận trong văn học Việt Nam đã có sự phát triển khá
mạnh mẽ trong văn xuôi từ thời kì đổi mới đến nay. Do đó, tìm hiểu về chất triết
luận trong các tác phẩm văn chương đã trở thành một hướng tìm tòi, nghiên cứu của
nhiều bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ khác nhau. Cuốn khảo cứu Triết lý
văn hóa và triết luận văn chương của Hoàng Ngọc Hiến có thể coi như sự tìm hiểu
một cách khái quát về mối quan hệ song hành giữa văn học và triết học. Còn các
luận văn như Triết luận trong truyện ngắn Nguyễn Khải (Nguyễn Thị Huấn – Luận
văn thạc sĩ Ngữ văn – ĐHSPHN 2002), Yếu tố triết luận trong thơ Nguyễn Duy (Lê
Trâm Anh - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn – ĐHSPHN 2007), Chất triết luận trong
trường ca Thanh Thảo (Hoàng Thị Thu Hương - Luận văn thạc sĩ Ngữ văn –
ĐHSPHN 2009), Từ cảm hứng triết luận – tôn giáo đến thế giới nhân vật trong Đội
gạo lên chùa (Nguyễn Thị Mai Hương – Luận văn thạc sĩ Ngữ văn – ĐHSPHN
2012) chính là những công trình mà người viết đã đi sâu tìm hiểu sự thể hiện của
chất triết luận trong sáng tác của các tác giả cụ thể để làm rõ những tư tưởng mới
mẻ của những nghệ sĩ ngôn từ trong việc khái quát các vấn đề của cuộc sống. Luận
văn Chất triết luận trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh của chúng tôi chính là
sự tiếp nối mạch nghiên cứu nhiều triển vọng nói trên.
sử như Trung Trung Đỉnh ngay khi Hồ Quý Ly mới được công bố đã khẳng định
chắc chắn rằng đó là “một giải pháp mới cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà” [12], còn
nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình và Đỗ Hải Ninh lại thống nhất ý kiến coi Nguyễn
Xuân Khánh là “người tự do trên sân chơi tiểu thuyết lịch sử”[11;410] , “Trong Hồ
Quý Ly và Mẫu Thượng ngàn, cách xử lí lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh khá tự do
và đầy tính chủ quan”[11;91]… Có người lại đứng từ góc nhìn văn hóa để nhận ra
vẻ đẹp, giá trị văn chương Nguyễn Xuân Khánh. Bài viết của Trần Thị An Sức ám
ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn đã chỉ ra những
yếu tố tín ngưỡng dân gian trong tác phẩm như tục thờ cúng bách thần và vật linh,
tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ Mẫu, đồng thời cắt nghĩa các yếu tố đó như
những “nội lực cố kết cộng đồng”, “phản lực tự vệ của một dân tộc” hay “vô thức
4
cộng đồng cần khai phóng”, để từ đó đi đến nhận định “Tìm hằng số văn hóa người
Việt trong tín ngưỡng dân gian ở văn hóa làng và liên làng, Nguyễn Xuân Khánh đã
thực sự tìm cho mình một lối nẻo mới. Nếu Hồ Quý Ly là việc nhìn nhận vai trò của
cá nhân với lịch sử thì Mẫu Thượng ngàn nhìn nhận vai trò của cộng đồng như một
nền tảng mà từ đó, cá nhân mới có cơ hội để bứt phá. Nhưng cộng đồng, với sự
đồng thuận và mù quáng đặc trưng của tâm lí đám đông, lại dựa vào tín ngưỡng dân
gian với tất cả sức mạnh và sức ỳ của nó, với tác dụng cố kết cộng đồng cũng như
tác hại cản trở đối với sự phát triển của nó, quả là có nhiều giới hạn. Nhận diện để
khai phóng nguồn sức mạnh đó là một vấn đề quan thiết cho vận mệnh dân tộc hôm
nay”[11;353]. Ngoài ra, có những nhà nghiên cứu khác đi sâu tìm hiểu một hoặc
một vài yếu tố văn hóa nổi bật trong các tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh như các bài
viết Mẫu Thượng ngàn – Con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc
(Nguyễn Văn Long – Lê Thị Thủy), Tiểu thuyết như một tham khảo Phật giáo, Tiểu
thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa (Mai Anh Tuấn), Tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa – phong tục (Phạm Hoài
Nam), Đội gạo lên chùa – một cách hiểu về Phật tính (Nguyễn Thị Bình) hay Đội
gạo lên chùa – Sự đối đầu giữa các giá trị văn hóa (Phan Trọng Hoàng Linh), đi
sâu hơn cả là luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa
Điểm qua vài nét khái quát về tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh, chúng tôi thấy rằng vấn đề triết luận trong tiểu thuyết của nhà văn đã ít
nhiều thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có một
công trình nào mà người viết xem chất triết luận trong cả ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly,
Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa là đối tượng nghiên cứu chính để tìm hiểu
một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống xuyên suốt. Chúng tôi xem những ý kiến
của người đi trước là những gợi mở quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Sự biểu hiện của chất triết luận trong tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh trên cả hai phương diện nội dung và phương thức biểu đạt là
trọng tâm nghiên cứu của đề tài.
6
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ba tiểu
thuyết xuất bản từ năm 2000 đến nay của Nguyễn Xuân Khánh là Hồ Quý Ly, Mẫu
Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê được chúng tôi sử dụng để thống kê các
câu văn, câu thoại mang nội dung triết lí, chiêm nghiệm trong ba tiểu thuyết.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học, so sánh văn học: Chúng tôi vận
dụng phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại để làm nổi bật tư
tưởng triết luận của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thể hiện qua ba tác phẩm; sử
dụng phương pháp so sánh để làm nổi bật tư tưởng riêng thể hiện qua mỗi tác phẩm
của nhà văn, mặt khác so sánh với tư tưởng của một số nhà văn khác để thấy được
nét riêng trong quan niệm của Nguyễn Xuân Khánh.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Để làm rõ chất triết luận trong tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi đã vận dụng kết hợp phương pháp tiếp cận liên
ngành, kết hợp văn học với triết học, văn hóa học…
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu: Tìm ra những nét đặc sắc trong tư tưởng nhà văn
HỌC VIỆT NAM SAU 1975 VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CHẤT TRIẾT
LUẬN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH
1.1. Sơ lược về khuynh hướng triết luận trong văn học Việt Nam sau 1975
1.1.1. Triết luận trong văn chương
Xưa nay, văn học và triết học vốn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.
Thời trung đại, “văn – sử - triết”, “văn – triết” bất phân là một hiện tượng đặc thù
mà bản chất là sự đan xen trực tiếp của lối tư duy luận lý và lối tư duy hình tượng
trong một tác phẩm văn chương. Bước sang thời hiện đại, hiện tượng ấy đã cáo
chung, nhưng điều đó không có nghĩa là ý vị triết học đã hoàn toàn vắng bóng trong
những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Ngược lại, nó chuyển sang kiểu quan hệ gián
tiếp, tan biến vào hình tượng, cấu trúc tác phẩm. Văn học Việt Nam sau 1975, triết
luận nổi lên như một khuynh hướng văn học đang ngày càng thu hút sự chú ý của
nhiều cây bút muốn chiếm lĩnh hiện thực từ chiều sâu của sự nhận thức.
Nhìn từ góc độ chiết tự, “triết luận” là một từ ghép được hợp lại bởi hai
thành tố “triết” và “luận”. “Triết” là những gì liên quan đến triết học, triết lý.
“Luận” là bàn luận, lí giải, tranh biện. Như vậy, “triết luận” là bàn luận, lí giải để
đi đến kết quả là sự chiêm nghiệm về những vấn đề phổ quát của cuộc sống.
Từ đó, có thể hiểu, triết luận trong văn chương là khái niệm để chỉ khía cạnh
triết học tiềm ẩn và hiện diện trong một sáng tạo nghệ thuật nào đó. Nó gồm hai
thành tố cơ bản là “chủ đề triết luận” (nội dung) và “hình thức triết luận” (nghệ
thuật biểu hiện chất triết luận).
Triết luận trong văn chương chính là sự hòa quyện của tư tưởng triết học
trong hình thức và nội dung của tác phẩm văn chương; là sự giao thoa giữa lối tư
duy thiên về lí trí, trừu tượng của triết học và lối tư duy thiên về cảm xúc, hình
tượng của loại hình nghệ thuật ngôn từ. Triết luận nảy sinh từ nhu cầu gia tăng chất
trí tuệ, gia tăng lối tư duy lí tính cho mỗi tác phẩm văn chương. Điều đó có nghĩa là
nhà văn phải chuyển trung tâm chú ý từ “phản ánh hiện thực” sang “nghiền ngẫm
9
về hiện thực”, coi trọng sự xử lí chất liệu hiện thực ở bề sâu, gia tăng tính tư tưởng
cho tác phẩm, đem lại chiều sâu và giá trị phổ quát cho mỗi sinh thể nghệ thuật. Ở
lấy tính hiện thực làm thước đo nghệ thuật, lấy tiêu chí chính trị để đánh giá con
người, cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo trong văn học… Nhưng, sau 1975, từ
sự “nhận thức lại”, người ta đã nhận ra rằng phản ánh hiện thực không thể là mục
đích cuối cùng của văn học nghệ thuật mà hiện thực chỉ là phương tiện để nhà văn
diễn tả những suy nghĩ, chiêm nghiệm, công bố những tư tưởng riêng từ đó đề cao
cách đánh giá của nhà văn về hiện thực; đồng thời, quan niệm về hiện thực cũng
được mở rộng đến tính toàn vẹn của nó, bên cạnh một hiện thực lịch sử còn có
những hiện thực khác là cái phức tạp, chưa biết hết, không thể biết hết… Do đó,
cảm hứng sử thi mờ nhạt dần, cảm hứng thế sự - đời tư, cảm hứng nhận thức lại và
cảm hứng triết luận ngày càng nổi bật lên. Nói về cảm hứng triết luận trong văn học
giai đoạn này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã nhận định “cảm hứng chiêm
nghiệm, triết lí – nơi bộc lộ những kinh nghiệm từng trải và nhu cầu nhận thức đời
sống từ các quy luật phổ quát… ý thức tự vấn thường trực góp phần làm cho cảm
hứng triết luận trở thành một nét phong cách quan trọng của văn xuôi đương đại”
[34; 243]. Đồng tình với ý kiến trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình khẳng định
“tăng cường tính triết luận là khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi thời kì đổi
mới”[7;116]. Khuynh hướng triết luận coi trọng sự nghiền ngẫm, lí giải về hiện
thực, đề xuất những ý tưởng mới, cách nhìn mới vì “cái nhìn triết học bao giờ cũng
giúp cho sự nhận thức nghệ thuật có chiều sâu và giá trị phổ quát” [34; 247], đáp
ứng điều mà nhiều nhà văn thế hệ trước đã trăn trở “cái mà chúng ta thiếu hiện nay
là sự sâu sắc”(Thạch Lam) hay nỗi lo “những nhà văn đánh mất cái đầu và những
tác phẩm văn học đánh mất tư tưởng – nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo
mang tính khái quát cuộc đời riêng của từng nhà văn” [33;296]. Khuynh hướng này
đề cao vai trò của nhà văn, bên cạnh tư cách một người nghệ sĩ thì nhà văn còn hiện
lên với tư cách của một nhà tư tưởng.
Khuynh hướng triết luận trong văn học sau 1975 là sự tiếp nối mạch cảm
hứng triết luận trong văn chương truyền thống. Thời trung đại, mỗi tác phẩm là sự
11
hòa quyện của cả ba yếu tố “văn - sử - triết” nhằm hướng tới mục đích “ngôn chí”,
“tải đạo”, nên đọc tác phẩm người xưa thấy rất nhiều triết lí. Này là triết lí về lẽ
Chế Lan Viên thể hiện cái tôi mang màu sắc cô đơn triết học trong khát vọng
chạy trốn vào mộng tưởng, vào vũ trụ, vào quá khứ và vào ngay bản thể của mình.
Càng trốn chạy lại càng hoang mang vì không hiểu nổi chính sự tồn tại của mình:
Ai bảo giùm: ta có, có ta không?
Ở dòng văn học hiện thực phê phán, những tên tuổi lớn cũng gửi gắm trong
các tác phẩm những triết lí sâu sắc về cuộc đời dưới nhiều sắc thái: có cái cười vừa
chua chát vừa xót xa, đau đớn trước bao giá trị đạo đức đẹp đẽ của con người bị
băng hoại bởi đồng tiền trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan;
có cái khắc khoải thường trực của con người luôn day dứt vì sự “sống mòn” vô
nghĩa của bản thân khi bao ước vọng đều bị tan vỡ bởi nỗi dày vò của áo cơm, sự
suy tư về nhân tính trong tác phẩm Nam Cao…
Giai đoạn 1945 – 1975, cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc đã khiến cái tôi
công dân, cái tôi cộng đồng ở mỗi nhà văn, nhà thơ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ
hết. Chế Lan Viên nêu triết lý sống của một thời đại hào hùng, khi mỗi con người
sẵn sàng từ bỏ những băn khoăn trăn trở mang tính cá nhân, cá thể để hướng tới lối
sống vì cộng đồng:
Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình
Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt…
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc
Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh
Hay:
Ôi, cái thuở lòng ta yêu Tổ quốc
Hạnh phúc nào chẳng hạnh phúc đầu tiên
Cả những câu thơ đúc kết quy luật nhân sinh có ý nghĩa phổ quát:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
13
Nếu kể một nhà văn ưa triết luận nhất của giai đoạn này thì phải khẳng định
ngay rằng đó chính là Nguyễn Khải. Những vấn đề mà nhà văn quan tâm phân tích,
lí giải là các vấn đề về đời sống cách mạng, tư tưởng chính trị, thể hiện qua các tác
Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư… Nội dung triết luận cũng được mở rộng tới những
vấn đề về nhân sinh, thế sự, lịch sử, niềm tin, tôn giáo Hình thức thể hiện rất
phong phú: qua các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp văn
1.1.3. Một vài đặc điểm của chất triết luận trong văn xuôi sau 1975
1.1.3.1. Nội dung triết luận phong phú
Trong văn xuôi giai đoạn 1945 – 1975, một số nhà văn (tiêu biểu là Nguyễn
Khải) đã có ý thức đưa chất triết luận vào tác phẩm, nhưng nội dung triết luận vẫn
còn bị giới hạn trong các vấn đề về đời sống cách mạng và tư tưởng chính trị. Từ
sau 1975 đến nay, cùng với sự nới rộng biên độ của hiện thực đến mức tưởng như
không có giới hạn nào chi phối thì nội dung triết luận được mở rộng đến tất cả các
vấn đề về nhân sinh, thế sự, lịch sử, niềm tin, tôn giáo
Cảm hứng nghiên cứu, phân tích về con người được coi trọng. Các nhà văn
đã có những phát hiện mới mẻ về con người. Vẫn tiếp tục mạch cảm hứng đi tìm
“hạt ngọc” tâm hồn ẩn giấu trong tâm hồn mỗi người, nhưng Nguyễn Minh Châu
sớm giã từ lối viết “minh họa”, từ chối những hình tượng nhân vật đẹp toàn vẹn của
một thời để đi đến khái quát sâu hơn về bản chất con người theo cảm quan triết học,
hướng con người tới sự thức tỉnh, tự nhận thức để hoàn thiện nhân cách qua rất
nhiều tác phẩm như Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Khải
chiêm nghiệm, đúc kết về các quy luật nhân sinh thường hằng của con người như ý
nghĩa tồn tại của con người, mối quan hệ giữa con người với thời thế, về lối sống
văn hóa của con người qua rất nhiều truyện ngắn như Một người Hà Nội, Sống ở
đời, Danh dự, Một thời gió bụi, Nắng chiều, Má đào… Còn Lê Lựu, qua hình tượng
Giang Minh Sài trong Thời xa vắng, đã thể hiện một chiêm nghiệm rất sâu về bi
kịch của con người đánh mất mình vì luôn phải sống theo cách người khác muốn,
yêu cái mà người khác yêu, bị những qui chuẩn của cộng đồng đè bẹp… Hòa Vang
trong Nhân sứ đã triết luận sâu sắc về con người qua hình tượng Sa Tăng “nhạt
15
nhẽo là thuộc tính thứ nhất của con người”, “gồng gánh suốt đời là thuộc tính thứ
hai của con người”, biết ước mơ “về lại sông Lưu Sa xưa, làm một người thường
chài lưới trên sóng nước, chiều chiều thổi một ống tiêu, nhấp một ngụm rượu,
hội cũng được nhiều nhà văn quan tâm. Có thể nhận thấy điều này trong nhiều sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu, Không có vua…), Phạm Thị Hoài
(Thiên sứ, Tiệm may Sài Gòn…)…
Có thể nói rằng nội dung triết luận trong văn xuôi sau 1975, nhất là từ nửa
cuối những năm 1980 đến nay đã và đang tiếp tục mở rộng tới muôn mặt của đời
sống hiện thực phức tạp, đa chiều.
1.1.3.2. Vài phương thức nghệ thuật trong triết luận
Khái quát những tác phẩm đậm đà chất triết luận, chúng tôi thấy nổi bật lên
một số phương thức nghệ thuật thường được sử dụng như sau:
* Tính chất đối thoại
Tính đối thoại là một trong những đổi mới quan trọng của văn học sau 1975
khi tinh thần dân chủ lên cao trong văn học. Ở nhưng tác phẩm được gia tăng chất
triết luận, tính chất đối thoại lại càng nổi lên như một nguyên tắc quan trọng hàng
đầu. Nó được thể hiện trên nhiều bình diện, nhiều cấp độ từ quan niệm, tư tưởng
chung của nhà văn đến từng chi tiết, từng lời thoại…
Nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu là những đối thoại giữa các nguyên tắc
cộng đồng với đời sống cá nhân muôn vẻ để từ đó nhà văn triết luận về con người bất
toàn như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành hoặc tạo ra sự va chạm
giữa các tiếng nói, các quan điểm khác nhau để thể hiện tư tưởng của nhà văn về mối
quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống như trong Chiếc thuyền ngoài xa… Những tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, tính đối thoại thấm tới cả nghệ thuật với việc tạo dựng
hình tượng người kể chuyện không biết hết, không nói hết, không phán truyền chân
lí… Tính chất đa thanh cũng thể hiện rất rõ trong sáng tác của các nhà văn Phạm Thị
Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà… để triết luận về nhiều
vấn đề của cuộc sống
17
* Giọng trần thuật hướng nội, tự phân tích, tự phán xét
Đề cao kinh nghiệm cá nhân trong phát hiện, lí giải các vấn đề của hiện thực
nên có một điều dễ nhận thấy ở các tác phẩm giàu chất triết luận là nghệ thuật trần
thuật hướng nội. Các nhà văn thường tạo dựng những nhân vật xưng “tôi” để tự
Đỗ tú tài Toán học xong, Nguyễn Xuân Khánh học Đại học Y khoa Hà Nội
hai năm (đến hết năm 1952) rồi ra vùng tự do tham gia cách mạng. Ông được phân
vào một đơn vị pháo binh đến 1954 dạy văn hóa tại trường Sĩ quan Lục quân rồi
chuyển về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ 1966, ông là phóng viên báo
Thiếu niên Tiền phong cho đến khi phải về hưu non vào năm 1973. Các tác phẩm:
Rừng sâu (1962 – tập truyện ngắn), và các tiểu thuyết: Miền hoang tưởng – 1990
(sau bị thu hồi và cấm xuất bản), Trư cuồng (công bố trên talawas), Hồ Quý Ly
(2000), Mẫu Thượng ngàn (2006), Đội gạo lên chùa (2011).
Nguyễn Xuân Khánh chính thức bước chân vào làng văn từ đầu năm 1959
với truyện ngắn Một đêm, đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 2/1959, là tác
phẩm đạt giải Nhì (đợt 1, 1958, không có giải Nhất) cuộc thi viết về “đời sống bộ
đội trong hòa bình” của tạp chí. Những năm đầu trong chặng đường viết văn,
Nguyễn Xuân Khánh là một cây bút trẻ hăm hở, xông xáo với những môtip đề tài
quen thuộc về cuộc sống mới, anh bộ đội cụ Hồ… góp một thanh âm trong dàn
đồng ca của văn chương một thuở. Sau đó, những truyện ngắn nhà văn viết trong
giai đoạn 1958 – 1962 được tập hợp trong cuốn Rừng sâu. Vì tập truyện ngắn này
mà nhà văn bị kỉ luật về tư tưởng, bị quy là ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại ở Liên
Xô, làm thô thiển hóa chiến tranh rồi bị cấm bút. Bị coi là có vấn đề về tư tưởng
như vậy nên Nguyễn Xuân Khánh không thể tiếp tục làm công tác giáo dục tư
tưởng trong quân đội, ông giải ngũ và trở thành phóng viên báo Thiếu niên Tiền
phong. Một vài khác biệt về tư tưởng đã khiến nhà văn bước vào con đường nhiều
giông tố, nếm trải bao cay đắng của đời: mất việc làm, mất đảng tịch, về hưu non
khi mới khoảng bốn mươi tuổi (1973); nhà văn đã phải vật lộn với cuộc sống bằng
cách làm nhiều nghề để mưu sinh, từ những công việc “sang trọng” như dịch thuật
đến những việc bình dân như thợ may, thậm chí cả những việc bị coi là “mạt hạng”
19
như bán máu, nuôi lợn, gác nhà… Song niềm đam mê với văn chương chưa bao giờ
ngừng lại “Trong căn nhà lụp xụp lợp lốp cao su lẫn lá gồi lẫn giấy dầu, ông ngồi
viết. Trong căn nhà ẩm thấp bên hồ nước trong làng Thanh Nhàn phía Chợ Mơ, ông
ngồi viết. Trong ngôi nhà nghèo rỗng, tháng tháng phải cùng Dương Tường, Mạc
sự lí giải về nhiều vấn đề của đời sống nhân sinh trong tác phẩm của ông.
1.2.2. Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng, học thuyết triết học phương Đông và
phương Tây
Việc gia tăng chất triết luận trong tác phẩm văn chương đòi hỏi nhà văn
không chỉ có sự phong phú về vốn sống, dày dạn trong trải nghiệm mà còn phải có
tư tưởng riêng được soi rọi bởi ánh sáng của triết học. Nói về điều này, nhà nghiên
cứu Nguyễn Văn Long cho rằng “Trong xu hướng gia tăng chất triết luận của văn
xuôi từ thời kì đổi mới đến nay, có ảnh hưởng của nhiều nguồn tư tưởng, từ phương
Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, nhưng nền tảng cơ bản của những
triết lý mang ý nghĩa tích cực vẫn là tư tưởng nhân bản” [33,65]. Với trường hợp
Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi thấy rằng, tư tưởng triết luận của nhà văn có cội
nguồn sâu xa từ những hiểu biết về Nho – Phật – Đạo của phương Đông và nhiều
học thuyết triết học phương Tây.
Nhìn về lịch sử, tư tưởng Nho – Phật – Đạo đã có ảnh hưởng sâu sắc tới đời
sống văn hóa dân tộc Việt hàng ngàn năm trước. Nho giáo là công cụ trị nước của
nhiều triều đại phong kiến, Phật giáo từng là quốc giáo ở thời Lý – Trần, còn Đạo
giáo, tuy vị thế khiêm nhường hơn nhưng triết lý “vô vi”, tư tưởng con người hòa
đồng với thiên nhiên cũng in đậm nét trong thơ văn của nhiều bậc đại nho như
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Vì vậy, những dấu ấn của các hệ tư tưởng lớn
đó đã thẩm thấu rất sâu vào tâm hồn của đại bộ phận người Việt. Với Nguyễn Xuân
Khánh, ảnh hưởng của Phật giáo đến rất tự nhiên như ông đã từng tâm sự “Mẹ tôi
một năm có đi hầu đồng một hai lần. Tôi được cảm nhận không khí của đạo Mẫu,
đạo Phật từ thuở bé vì thường hay đi theo mẹ đến khắp các đình, chùa, miếu, mạo
Việt Nam”. Còn Nho học tuy đã tàn hơn trăm năm nhưng nhiều quan niệm của
Khổng giáo vẫn ăn sâu vào nếp nghĩ, cách hành xử của nhiều thế hệ người Việt,
21
nhất là lớp người thời Nguyễn Xuân Khánh. Hơn nữa, tìm về với đề tài lịch sử dân
tộc, nếu không am hiểu sâu sắc về các hệ tư tưởng này thì nhà văn sẽ không thể nào
dựng được sống động chân dung, tư tưởng của các nhân vật đã từng sống trong quá
khứ. Vì thế, việc tiếp nhận những ảnh hưởng của Nho – Phật – Đạo vừa rất tự nhiên
còn khơi gợi suy nghĩ của họ, để cùng bàn bạc, đối thoại về mọi vấn đề của cuộc
sống mà nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình là “Người đọc mong chờ ở nhà
văn những kiến giải độc đáo, những ý tưởng mới mẻ giúp họ mở rộng tầm nhìn,
cách nghĩ”[7;31]. Hòa vào xu thế dân chủ hóa, Nguyễn Xuân Khánh đã bộc lộ tư
tưởng riêng của nhà văn như một tham khảo với bạn đọc đương đại về các vấn đề
về dân tộc, nhân sinh. Trong cuộc hội thảo về Lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh do Viện văn học tổ chức vào tháng 10 năm 2012, nhà văn đã
bày tỏ một cách khiêm nhường rằng "Cho tôi phát biểu dưới ánh mặt trời một ý
nghĩ của tôi", "Hãy cho mọi người có quyền khác anh để mỗi người đều có chỗ
đứng dưới ánh mặt trời. Đó chính là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ".
Xu thế dân chủ hóa, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân và ảnh hưởng của
khuynh hướng triết luận trong văn học từ sau 1975 đến nay kết hợp với tài năng,
vốn sống, vốn tri thức, văn hóa là những yếu tố căn bản hình thành chất triết luận
trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Không trội về những cách tân trên
phương diện hình thức, nhưng ba tiểu thuyết gần đây của Nguyễn Xuân Khánh vẫn
thu hút sự chú ý của người đọc bởi sự hấp dẫn của những tư tưởng, kiến giải riêng
của nhà văn. Mà tư tưởng nghệ thuật mới là cái giá trị đích thực của một nhà văn,
làm nên gương mặt riêng, phong cách riêng của tác giả.
23