1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ HỒNG THẮM
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
(QUA BA TÁC PHẨM: HỒ QUÝ LY, MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ
ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ HỒNG THẮM
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI
(QUA BA TÁC PHẨM: HỒ QUÝ LY, MẪU THƯỢNG NGÀN
VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
tầm thường, vừa cao cả, vừa buồn cười, vừa nghiêm túc”. Nhà văn Thạch Lam khi bàn về
nhân vật tiểu thuyết đã phủ nhận quan niệm “vai chính hoàn toàn” của tiểu thuyết: “Cái hoàn
toàn tốt hay cái hoàn toàn xấu không có ở trên đời, đó là một điều ai cũng biết. Người ta là
một động vật rất phiền phức…Người ta là người với những sự cao quý và hèn hạ của người”.
Tuy nhiên, tuỳ vào từng thời kì nhất định mà cái nhìn đời tư có thể kết hợp với các chủ đề thế
sự hoặc lịch sử dân tộc. Khi yếu tố đời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng và
ngược lại, khi yếu tố lịch sử càng phát triển thì chất sử thi càng đậm nét................................10
1.1.2.2. Chất văn xuôi...............................................................................................................10
Đây là thuật ngữ vận dụng ý tưởng của Bakhtin nhằm chỉ những nhân vật phải chịu rất nhiều
những trải nghiệm trong cuộc đời với bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, suy nghĩ, dằn vặt đau
khổ và có sự lớn lên, trưởng thành trong ý thức, tư duy. Nếu nhân vật sử thi tương đối đơn
4
giản và thường là nhân vật hành động thì nhân vật tiểu thuyết là “con người trong con người”,
“con người không trùng khít với chính nó” (Bakhtin). Nghĩa là nhân cách con người tiểu
thuyết phức tạp hơn nhiều so với những lược đồ đơn giản về vị thế, giới tính, giai cấp của
chính họ. Chính vì thế, khác với sử thi cổ đại và truyện trung đại, tiểu thuyết thường tìm mọi
cách thâm nhập, khám phá thế giới bên trong của con người để phát hiện ra những bí ẩn trong
chiều sâu tâm hồn họ, kể cả đường biên mong manh giữa tốt - xấu, cao cả - thấp hèn............11
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiểu thuyết là thể loại dài hơi, luôn vận động, biến đổi và chưa hoàn tất. M.
Bathtin xem đối tượng ưu tiên của tiểu thuyết là cái “hiện tại chưa hoàn thành” bởi
Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006) và Đội gạo lên chùa
(2011) ngay thời điểm mới ra đời đã nhanh chóng trở thành “hiện tượng” trên văn đàn.
Nhiều cuộc toạ đàm, hội thảo được tổ chức, liên tục những lần tái bản và lần lượt các
bài nghiên cứu phê bình “mổ xẻ” tác phẩm từ nhiều phương diện là minh chứng cho
sức lan toả của hiện tượng Nguyễn Xuân Khánh.
Trình làng năm 2000, tiểu thuyết Hồ Quý Ly ngay lập tức thu hút sự quan tâm
của dư luận, đặc biệt khi cuốn tiểu thuyết giành được nhiều giải thưởng danh giá từ
Hội Nhà văn. Vấn đề được giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm là nội dung
lịch sử và những nét nổi bật về nghệ thuật của tác phẩm như kết cấu, cốt truyện, nghệ
thuật xây dựng nhân vật, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu…
Xếp tiểu thuyết Hồ Quý Ly vào khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử luận giải,
Nguyễn Văn Dân đã phát hiện ra “cái luận đề” xuyên suốt tác phẩm Hồ Quý Ly chính
là luận đề về ý nghĩa “thời thế” của nhân vật này trong thời đại suy tàn của nhà Trần,
khi mà số phận của nhà Trần không còn cho phép nó đảm đương trọng trách của lịch
sử [14].
Quan tâm đến số phận và sự vận động của hình tượng nhân vật, Hoà Vang đã
nhận xét về nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác phẩm: “Lực hấp
dẫn của tiểu thuyết Hồ Quý Ly còn nằm trong sự phân thân, sự vận động của các hình
tượng nhân vật… mỗi người một số phận, một tính cách, một dạng nổi trôi và vùng
vẫy, một kết cục, để mỗi người một nét cùng vẽ nên sinh động, rõ ràng và bi hùng một
hoàn cảnh lịch sử cụ thể…” [ 66 ].
Nguyễn Diệu Cầm trong bài Tiểu thuyết lịch sử đang hấp dẫn trở lại đã phân
tích thành công của cấu trúc vòng tròn trong tác phẩm và sự đa dạng điểm nhìn trần
thuật khi miêu tả nhân vật Hồ Quý Ly.
Trong tham luận Đọc Hồ Quý Ly, nghĩ về tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Xuân
Khánh, Phạm Phú Phong trên cơ sở soi chiếu đặc trưng thể loại và đối chiếu với một
số tiểu thuyết lịch sử trước Hồ Quý Ly đã chỉ ra đóng góp của tác phẩm trên các
Nguyễn Xuân Khánh.
Về nghệ thuật tự sự, các bài viết ghi nhận những đổi mới trong kĩ thuật tự sự
trên cơ sở lối viết cổ điển đã tạo nên lực hấp dẫn cho Mẫu Thượng Ngàn. Đặc biệt, soi
chiếu từ lí thuyết hậu thực dân và lí thuyết tự sự học, Đoàn Ánh Dương trong bài
nghiên cứu Tự sự hậu thực dân: Lịch sử và huyền thoại trong Mẫu Thượng Ngàn (Tạp
4
chí Nghiên cứu văn học, số 9/2010) đã đề cập tới hệ thống các nhân vật / các tiếng nói,
hệ thống các biểu tượng và cách thức tổ chức ngôi kể như là các kĩ thuật tự sự phục vụ
mục đích diễn giải lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh. Các bài nghiên cứu đã gợi mở
cho người đọc nhiều hướng tiếp cận Mẫu Thượng Ngàn và các tác phẩm khác của
Nguyễn Xuân Khánh.
Đội gạo lên chùa (2011) lại khuấy động làng văn khi được vinh danh ở vị trí
cao nhất giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2011 - 2012. Tác phẩm thu hút sự quan
tâm của đông đảo giới nghiên cứu, phê bình văn học, nhà văn và độc giả trong cả
nước, nhất là khi Hội Nhà văn Hà Nội kết hợp với Nhà xuất bản Phụ nữ tổ chức Giới
thiệu và toạ đàm về Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh (vào ngày 20/6/2011).
Theo QĐND online, hầu hết tham luận trong toạ đàm đều dành những lời tốt đẹp cho
đứa con út của nhà văn sát vách tuổi 80. Nhà văn Hoàng Quốc Hải tâm đắc: “Anh luôn
đụng đến những vấn đề bản chất của văn hoá Việt… và bây giờ là đạo Phật - hiện
tượng văn hoá du nhập nhưng đã được Việt hoá”. Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng
trong Đội gạo lên chùa, đạo Phật được Việt Nam hoá ở cái “lõi” tuỳ duyên, hoàn toàn
nhập thế. Phạm Xuân Thạch đánh giá đóng góp độc đáo của cuốn tiểu thuyết “Đội gạo
lên chùa”: “Trong một thời đại khi mà mọi hình thức kĩ thuật đã trở nên bão hoà, nhà
văn trở về với hình thức sơ khai nhất của tiểu thuyết. Chính xác hơn, ông đưa tiểu
thuyết về lại với cội nguồn của thể loại: những câu chuyện kể.” Trong bài Văn xuôi
Việt Nam năm 2011 gừng già mới cay? (Báo An ninh thế giới giữa tháng, số 50/2012),
Hoài Nam nói đến sức hấp dẫn của văn phong Nguyễn Xuân Khánh cùng khả năng
chuyển tải tư tưởng trong Đội gạo lên chùa. Tác giả viết: “Đơn giản ông chỉ kể
lịch sử được tái hiện.
Ở tham luận Tính đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, Thái
Phan Vàng Anh trên cơ sở tìm hiểu tính đối thoại - nét bản chất của tiểu thuyết
hiện đại đã phân tích sâu sắc những dạng thức đối thoại trong tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh. Đặc biệt, bài viết đã có những nhận định xác đáng về đóng góp của
nhà văn khi vận dụng kĩ thuật tự sự hiện đại. Về điểm nhìn trần thuật: “ Nguyễn
Xuân Khánh đã khước từ lối tự sự tiêu cự Zero với một điểm nhìn duy nhất. Liên
tục chuyển đổi điểm nhìn, chuyển đổi vai kể, ở cả ba tiểu thuyết, tác giả đã xử lí
khá ổn thoả mối quan hệ giữa hư cấu và sự thực lịch sử” [22, 76]. Về ngôn ngữ
và giọng điệu:“ Nhờ sự phối kết hợp lí giữa ngôn ngữ và giọng điệu, Nguyễn
Xuân Khánh đã làm bật nên tính đa thanh cùng với những xung đột tư tưởng của
tiểu thuyết” [22, 80]. Giọng tự thuật và biện giải, chất vấn và hoài nghi cũng góp
phần làm tăng tính đối thoại ở tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
6
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về đặc điểm tiểu thuyết lịch sử, về
thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
Hoàng Thị Thuý Hoà (2007) với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn
Xuân Khánh đã khẳng định đóng góp của nhà văn trong dòng văn học đương đại. Từ
việc khảo sát hai tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, luận văn đã phân tích,
luận giải hướng khai thác các vấn đề lịch sử, hư cấu lịch sử trong sáng tạo tiểu thuyết
và xác định những đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện của Nguyễn Xuân Khánh [31].
Lê Thị Thuý Hậu (2009) với đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Quý
Ly và Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh bước đầu đã tìm hiểu tác phẩm của
tiểu thuyết gia 80 tuổi trên các mặt: nhân vật, không gian - thời gian, giọng điệu, ngôn
từ, kết cấu, nghệ thuật trần thuật. Cuối cùng, tác giả đi đến kết luận về sự đa dạng và
phong phú trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh và đóng góp
của nhà văn cho nền văn học hiện đại [29]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Lý
tìm hiểu nhân vật trong hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn [42], …
6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bối cảnh tiểu thuyết Việt
Nam thời kì đổi mới
Chương 2. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ nội dung của thể loại
Chương 3. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn thi pháp thể loại
8
Chương 1
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1.1. Giới thuyết chung về tiểu thuyết
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại giữ vai trò then chốt trong đời sống văn học nhân loại bởi
khả năng riêng trong việc phản ánh hiện thực đời sống một cách khái quát, sinh động,
sâu sắc và dân chủ nhất. Thể loại này cũng được xem là “nhân vật chính” trên sân
khấu văn học hiện đại bởi tiểu thuyết gắn liền với quan niệm nhân bản về con người,
nhìn con người như bản ngã cá nhân có ý thức.
Xung quanh khái niệm tiểu thuyết còn có nhiều quan niệm khác nhau, vì “thể loại
văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình… nòng cốt thể loại của
tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng
uyển chuyển của nó” (M.Bakhtin) nên việc đi tìm một định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết
có thể thích ứng cho mọi trường hợp trong thực tế văn học là điều khó có thể làm
được. Các nhà lí luận, tuỳ theo góc nhìn và hoàn cảnh, phát biểu, khi thì nhấn mạnh
đặc điểm này khi nhấn mạnh đặc điểm kia mà đưa ra quan điểm khác nhau về tiểu
thuyết.
Hêghen gọi tiểu thuyết là “Sử thi tư sản hiện đại” và nhấn mạnh tính chất “văn
xuôi”của tiểu thuyết. Đồng quan điểm với Hêghen, BanZac xem “Tiểu thuyết là những
phận cá nhân xoay quanh những góc khuất đời tư như tình yêu, hạnh phúc
hoặc bất hạnh trong cuộc sống riêng tư. Nếu sử thi thường quan tâm đến
những vấn đề của cộng đồng, ngợi ca những con người anh hùng, những cá
nhân tiêu biểu của cộng đồng thì tiểu thuyết cơ bản quan tâm đến những
vấn đề bình thường, những con người, cá nhân có hoàn cảnh và số phận
riêng. Mỗi cuốn tiểu thuyết không phải là “một cuộc đời” được nhà văn
“cưa” lấy một khoảnh khắc có ý nghĩa để thể hiện ý đồ nghệ thuật mà là
câu chuyện của nhiều cuộc đời với những thăng trầm của số phận, những
bi kịch cá nhân… Đó là số phận của Anđrây, Natasa, Pie, Mary (Chiến
tranh và hoà bình - L.Tônxtôi), Grigôri, Acxênhia, Natalia (Sông Đông êm
đềm - Sôlôkhôp), Thứ, Oanh, San (Sống mòn - Nam Cao), nghị Hách, Long,
Mịch, Tú Anh (Giông Tố - Vũ Trọng Phụng), Kiên, Phương (Nỗi buồn
chiến tranh - Bảo Ninh)… Mỗi cuộc đời là một ô cửa mà nhà văn dụng
10
công trổ ra để phản ánh thực tại đang biến đổi bằng cảm quan của riêng
mình.
Dưới góc độ đời tư, tiểu thuyết nhìn con người ở tính người, chất người
đích thực trong “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” với những góc khuất:
tốt - xấu, cao cả - thấp hèn… Bakhtin thật có lí khi cho rằng: “Nhân vật
tiểu thuyết không nên là “anh hùng” trong cái nghĩa sử thi và bi kịch của
từ đó, mà nên thống nhất trong bản thân các nét vừa chính diện vừa phản
diện, vừa tầm thường, vừa cao cả, vừa buồn cười, vừa nghiêm túc”. Nhà
văn Thạch Lam khi bàn về nhân vật tiểu thuyết đã phủ nhận quan niệm
“vai chính hoàn toàn” của tiểu thuyết: “Cái hoàn toàn tốt hay cái hoàn
toàn xấu không có ở trên đời, đó là một điều ai cũng biết. Người ta là một
động vật rất phiền phức…Người ta là người với những sự cao quý và hèn
hạ của người”. Tuy nhiên, tuỳ vào từng thời kì nhất định mà cái nhìn đời
tư có thể kết hợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc. Khi yếu tố đời
mong manh giữa tốt - xấu, cao cả - thấp hèn.
Để thực sự có được những “con người nếm trải” trong tiểu thuyết, nhà văn phải
nhìn thấy logic của tính cách và mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh. Trong tiểu
thuyết trung đại (và văn xuôi trung đại nói chung), tính cách nhân vật ổn định và nếu
có biến đổi thì cũng biến đổi trong khuôn khổ tính cách đã có từ trước. Tiểu thuyết
lãng mạn cũng chưa phát hiện ra tính logic của tính cách mà chủ yếu lí giải sự biến đổi
của con người dựa trên ý chí, nội lực bản thân, vì vậy nhân vật lãng mạn ít so đo tính
toán hay dằn vặt nội tâm. Phải đến chủ nghĩa hiện thực trở đi, tiểu thuyết mới thực sự
có những nhân vật lớn lên, trưởng thành trong ý thức, tư duy bởi chủ nghĩa hiện thực
phát hiện ra mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, tìm thấy tư duy phân tích xã
hội và “phép biện chứng của tâm hồn”. Những nhân vật như Juyliêng, Xoren (Đỏ và
Đen), Anđrây (Chiến tranh và hoà bình), Anna Karênina (Anna Karênina) Grigôri
Mêlêkhôv (Sông Đông êm đềm), Long (Giông tố), Thứ (Sống mòn)… đều là những
con người nếm trải và tư duy.
1.1.2.4. Sự gia tăng vai trò của các yếu tố ngoài cốt truyện
Trong truyện cổ dân gian và văn xuôi trung đại, cốt truyện đóng vai trò quan trọng
nhất, cốt truyện lấn át nhân vật. Đến tiểu thuyết hiện đại, cốt truyện được đơn giản hoá,
nhiều khi rất khó kể lại… Vốn là thể loại dài hơi, quy mô phản ánh sâu rộng, tất yếu khi
vai trò cốt truyện giảm bớt thì vai trò của nhân vật, sự kiện, tình tiết … được gia tăng.
Chính vì thế, tiểu thuyết có rất nhiều yếu tố “thừa" như suy tư của nhân vật về thế giới, về
đời người, sự miêu tả môi trường, đồ vật, sự phân tích cặn kẽ diễn biến tình cảm, trình bày
12
tường tận tiểu sử nhân vật, bình luận của người trần thuật… Những yếu tố này nhiều khi
được miêu tả một cách tỉ mỉ, chi tiết nhằm hướng tới một mục đích nghệ thuật nhất định.
Đọc tiểu thuyết lãng mạn, người đọc thường bị hấp dẫn bởi những trang viết về thiên
nhiên, miêu tả nội tâm nhân vật. Tiểu thuyết hiện thực thiên về phân tích tâm lí nhân vật,
mô tả môi trường sống để lí giải, cắt nghĩa mối quan hệ biện chứng giữa hoàn cảnh và tính
cách. Tiểu thuyết sử thi quan tâm miêu tả môi trường cộng đồng, tập thể với tâm thế ngợi
1.2.1.1. Quan niệm nghệ thuật mới về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con
người được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người
trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nghệ thuật
trong đó. Một nền văn học mới bao giờ cũng được bắt đầu từ việc đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người.
Nếu con người trong tiểu thuyết 1945 - 1975 được nhìn nhận chủ yếu ở phương
diện công dân, trách nhiệm với cộng đồng thì con người trong tiểu thuyết sau 1986
được nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Đó là con người cá nhân, con người
đời thường tồn tại trong mối quan hệ với xã hội, với tự nhiên và với chính mình những quan hệ mà trước đây do nhu cầu của đời sống thời chiến đã không được chú ý
một cách thích đáng. Nhà văn đặt con người trong nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp,
nhìn nhận con người như là tổng hoà các mặt đối lập: sáng - tối, thiện - ác, cao cả thấp hèn ... Đặc biệt, không bị ám ảnh bởi cái nhìn sử thi, tiểu thuyết đi sâu phân tích
bi kịch cá nhân thời hậu chiến và khi đụng chạm mặt trái cơ chế thị trường phải đối
diện thường trực với nhiều con người trong một con người. Giang Minh Sài trong
Thời xa vắng, Hoan, Khiêm trong Ngược dòng nước lu, Bối trong Ba người khác, anh
Khải trong Thượng đế thì cười… là những con người bi kịch như thế.
Con người bản năng với những ham muốn, những dục vọng, thậm chí cả tình
dục cũng không còn là cấm kị trong văn học. Tiểu thuyết sau đổi mới, nhất là tiểu
thuyết những năm đầu thế kỉ XXI, yếu tố tình dục xuất hiện khá dày đặc. Không nhằm
“lạ hoá” để câu khách mà sex có ngôn ngữ và đời sống riêng của nó. Sex được nhìn
nhận như một phần cuộc sống, một nhu cầu tự nhiên và khát vọng chính đáng của con
người trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc đích thực. Khai thác các yếu tố tích cực của
con người tự nhiên, ứng xử với nó một cách văn hoá là khía cạnh nhân bản của tiểu
thuyết giai đoạn này.
Tiểu thuyết cũng không ngần ngại khám phá đời sống tâm linh để thâm nhập và
lí giải chiều sâu bí ẩn trong tâm hồn con người. Đó là thế giới của cõi vô thức, tiềm
thức, giấc mơ…Và xu hướng huyền thoại hoá con người để nhân vật hiện diện với sức
14
người. Mặt khác, đề cao chức năng giải trí của văn chương, tiểu thuyết quan tâm
15
nhiều đến khoái cảm thẩm mĩ và là “sân chơi” để nhà văn và độc giả cùng sáng
tạo, cùng đối thoại về các vấn đề đời sống.
Một thành tựu đáng chú ý của tiểu thuyết sau 1986 là sự xuất hiện của những
nhà văn và độc giả mới “không hề bị vướng mắc bởi cái nhìn sử thi” (Hoàng Ngọc
Hiến). Nhà văn tự do sáng tạo và lí giải những vấn đề đời sống bằng kinh nghiệm và ý
hướng cá nhân. Độc giả cũng tự do lựa chọn món ăn tinh thần, tự do bày tỏ quan điểm,
đòi hỏi được trải nghiệm, khám phá mình trên những trang sách, kể cả đối thoại với
nhà văn, với nhân vật để nhận thức về đời sống.
1.2.2. Đổi mới thi pháp
1.2.2.1. Sự đa dạng về bút pháp
Những đổi mới trong tư duy nghệ thuật đã tiếp sức cho nhà văn tìm kiếm những
phương thức biểu hiện mới trong việc khám phá đời sống vốn phong phú và đa dạng.
Có thể kể đến một số bút pháp nổi trội được nhiều nhà văn sử dụng trong tác phẩm
như bút pháp kì ảo, bút pháp giễu nhại, bút pháp tả thực mới…
Bút pháp kì ảo là một trong những cách thức chiếm lĩnh đời sống được nhiều
cây bút của văn học thời kì đổi mới sử dụng. Tác phẩm được xem có yếu tố kì ảo khi
“Có sự thâm nhập hợp lí của yếu tố “hư”, yếu tố “ảo” vào cái “thực” để tạo nên những
tác phẩm văn chương, vừa có tính hiện thực, nhân văn, vừa kích thích óc tưởng tượng
tích cực của người đọc, tạo ra những hình tượng đa nghĩa, có kết cấu mở, giúp người đọc
có thể đồng sáng tạo với nhà văn” [18, 169]. Bút pháp kì ảo vốn rất quen thuộc trong các
truyện cổ dân gian hay các tác phẩm văn học trung đại như Việt điện u linh, Lĩnh Nam
chích quái, Thanh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục … Đến văn học hiện đại, người đọc
biết đến một thế giới “liêu trai”, hoang đường, rùng rợn qua tác phẩm của những nhà văn
tài hoa có phong cách độc đáo như Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Nhất Linh. Ba mươi năm
chiến tranh, với nhiệm vụ trở thành vũ khí trên mặt trận văn hoá tư tưởng, yếu tố kì ảo
trở nên lạc lõng trong văn học. Văn học thời kì đổi mới đánh dấu sự hồi sinh mạnh mẽ
1.2.2.2. Đổi mới kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Tiểu thuyết truyền thống thường triển khai kết cấu theo trình tự thời gian. Kết
cấu này gắn chặt với cách tổ chức cốt truyện sự kiện, men theo dòng đời của nhân vật.
Tiểu thuyết thời kì đổi mới, bên cạnh những nhà văn vẫn trung thành với kiểu kết cấu
truyền thống thì nhiều tác giả đã tìm tòi, thử nghiệm kiểu kết cấu lắp ghép, phân mảnh,
đồng hiện. Kiểu kết cấu này dựa trên kĩ thuật lắp ghép (collage) của điện ảnh. Ở đó, cấu
trúc truyện có vẻ rời rạc, lỏng lẻo, nội dung được kể không tuân theo logic nhân quả,
thường triển khai theo mạch vận động của dòng ý thức, cái ảo và thực đan xen nhau, các
đoạn hội thoại không đặt nặng tính hô ứng rõ rệt, câu chuyện thường hình thành theo
17
kiểu chuyện nọ xọ chuyện kia… Cốt truyện, vì thế ít theo mạch tuyến tính, lỏng lẻo và
rất khó tóm tắt. Cốt truyện “truyện lồng trong truyện”, “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” rất
được các nhà văn đương đại yêu thích như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Cơ hội
của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình
Phương… Những hình thức kĩ thuật tạo dựng kết cấu này góp phần thể hiện các tính
sáng tạo của nhà văn. Họ đang chơi trò chơi kết cấu trong lãnh địa tiểu thuyết của mình.
Xây dựng nhân vật theo lối ẩn danh, có có nghĩa là thông tin cá nhân của nhân
vật bị mờ hoá đang là xu hướng chủ yếu của tiểu thuyết sau thời kì đổi mới. Nhân vật
không nhất thiết phải có một bộ hồ sơ đầy đủ về bản thân như tiểu thuyết truyền thống
mà chỉ là những “mảnh vỡ” về ngoại hình, về tính cách, thậm chí cả cái tên của nó
cũng không có, hoặc có nhưng không rõ ràng, không ám ảnh. Chẳng hạn, nhân vật T
trong T mất tích của Thuận, tiến sĩ N trong Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh hoặc nhân
vật được mô hình hoá trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. Thiên sứ chỉ đánh số 2 mô
hình I (Quang lùn) và II (Hùng), nhưng người đọc cũng có thể tăng con số đó lên
thành mô hình III (người đàn bà công dân), mô hình IV (người không mặt)… Mỗi mô
hình cũng được coi là một lời cảnh báo đối với con người đang dần đi vào quá trình xơ
cứng hoá, lược đồ hoá bởi những ảo tưởng về văn minh và bị trói chặt trong những
thiết chế của nó. Nhân vật Khẩn trong Ngồi của Nguyễn Bình Phương lúc đầu không
đứt nối. Người sông Mê của Châu Diên miêu tả dòng ý thức phân lập, lẫn lộn, kì quặc
của người sống trong trạng thái mê mê tỉnh tỉnh không phân biệt được mình là Hương
hay Hoa, sống hay đã chết.
Đồng hiện vốn là kĩ thuật của điện ảnh nhưng được nhà văn sử dụng như một
bút pháp để đào sâu vào thế giới tâm linh của con người. Kĩ thuật đồng hiện có khả
năng xoá bỏ sự ngăn cách của các thời quá khứ - hiện tại - tương lai. Ở đó, hiện tại,
hồi tưởng, ảo giác, giấc mơ được xáo trộn theo chủ đích nghệ thuật của nhà văn và từ
khoảnh khắc tâm lí dó, các vỉa tầng hiện thực và tâm thức nhân vật được đào xới. Có
thể đồng hiện về không gian, thời gian và các bình diện tâm lí nhân vật. Cùng với kĩ
thuật dòng ý thức, thủ pháp đồng hiện có khả năng dịch chuyển điểm nhìn từ bên
ngoài vào bên trong và như thế độc giả dễ dàng nắm bắt những trạng thái tâm lí phức
tạp, tinh vi của nhân vật. Nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh luôn có những
tạt ngang về thời gian, không gian nhất là khi anh một lúc mộng mị về tình yêu với
Phương và mộng mị về chiến tranh. Trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo để cho nhân vật
Thần Tông luôn đi về giữa hai tầng vô thức và hữu thức khi chứng kiến lễ hành hình
cung nữ Ngạn La. Kĩ thuật đồng hiện giúp nhà văn miêu tả những chuyển động thẳm
sâu trong tâm hồn nhân vật.
19
Lắp ghép vốn là thuật ngữ điện ảnh nhưng được sử dụng rộng rãi trong tự sự
hiện đại. Kĩ thuật lắp ghép là sự pha trộn, sắp xếp các hiện tượng xa nhau nhưng
được đặt cạnh nhau để tạo ra những lớp nghĩa mới. Tiểu thuyết đương đại thường
pha trộn các biểu tượng, các yếu tố kì ảo và giấc mơ khiến cho hiện thực thấm đẫm
chất siêu thực. Xuyên qua biểu tượng, huyền thoại và giấc mơ đó, người đọc sẽ “lọc”
ra chất hiện thực được phản ánh và nắm bắt được ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Bé
Hon trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, nhân vật bào thai trong Thiên thần sám hối
của Tạ Duy Anh là những biểu tượng huyền thoại sinh động, là hiện thân của cái đẹp
trong sáng giữa cuộc đời lạnh lùng, ô trọc. Tiểu thuyết Người sông Mê của Châu Diên,
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ngồi của Nguyễn Bình Phương… cũng dày đặc
có sự dịch chuyển từ bên ngoài vào bên trong. Nghĩa là người kể chuyện đã nhập thân
vào nhân vật, nhìn thế giới và trình bày cảm nhận bằng chính cảm nhận của nhân vật
chứ không đứng ở vị trí bên ngoài để quan sát và miêu tả đối tượng. Trong các tiểu
thuyết Cơ hội của Chúa, Nỗi buồn chiến tranh, Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Giã
biệt bóng tối, Khải huyền muộn, Phiên bản… điểm nhìn trần thuật có sự dịch chuyển
linh hoạt như thế. Chính điều này tạo nên tính phức điệu, đa âm và gia tăng tính đối
thoại ở tiểu thuyết đương đại.
Thứ hai là đổi mới ngôn ngữ trần thuật. Từ chối thứ ngôn ngữ diễm lệ, mượt
mà của chủ nghĩa lãng mạn, ngôn ngữ giàu chất thơ của văn học cách mạng, tiểu
thuyết đương đại đã có những bước chuyển mình, bứt phá khi tạo ra thứ ngôn ngữ đa
thanh vừa giàu sắc thái đời thường vừa giàu chất triết lí, suy tư. Đó là thứ ngôn ngữ
góc cạnh, thô ráp, thậm chí thô tục. Không còn bị ràng buộc bởi những tín điều đạo
đức luân lí, khát vọng diễn đạt chân thật cái đời sống “đa sự”, con người “đa đoan”,
nhà văn thẳng thắn trong cách định danh, định tính, suồng sã trong giọng điệu, thành
phần khẩu ngữ gia tăng và cú pháp cũng linh hoạt mềm mại hơn. Không khó để tìm
thấy những lời trần thuật như: “chúng ta chỉ thu nhận những đức tin đã đóng gói và
chế biến sẵn”, “nền âm nhạc thiếu tự tin của chúng ta”(Thiên sứ), “Con này dáng
người tạm được nhưng răng hơi lộ và thối mồm” (Cõi người rung chuông tận thế)...
hoặc “lạ hoá” ngôn ngữ: “Tóc tôi lên cơn sốt”, “ngôi sao lùn”, “bán đứng V.Hugo cho
nền kinh doanh nước đá”, “các phụ tùng đời sống” (Thiên sứ)… Thứ ngôn ngữ này có
khả năng kéo văn chương gần cuộc sống và diễn đạt chân thực trạng thái xô bồ, hỗn
loạn của đời sống hiện đại.
Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm giàu tính hướng nội,
đậm chất trữ tình là phương tiện hữu hiệu để nhà văn đi sâu vào trạng thái tâm lí chập
chờn, đứt nối, mong manh, mơ hồ và hư ảo của tâm thức con người. Có thể coi Nỗi
21
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tấm ván phóng đao của Mạc Can, Người sông mê của
Châu Diên, Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phương… là những tác phẩm thành công