Tiểu thuyết nguyễn xuân khánh từ hướng tiếp cận văn hóa học (qua mẫu thượng ngàn và đội gạo lên chùa) - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HUỆ

TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH TỪ HƢỚNG
TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC
(QUA MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA)

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2013


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một mối quan tâm lớn của xã hội là việc gìn giữ những giá trị văn
hoá, những nét độc đáo trong bản sắc dân tộc. Mà văn học vừa là một bộ phận
của văn hóa vừa là tấm gƣơng phản chiếu văn hóa dân tộc. Dễ nhận thấy, có
một con đƣờng đến với văn hóa của mỗi dân tộc thông qua các tác phẩm văn
chƣơng. Nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đi suốt chiều dài lịch sử của đất nƣớc
đã không ngừng khai thác những giá trị văn hóa dân tộc trong sáng tác của
mình. Việc nghiên cứu bản văn hóa dân tộc trong tác phẩm văn học là hết sức
cần thiết. Bởi vì bản sắc văn hóa của tác phẩm văn học là một thuộc tính
không thể tách rời của tác phẩm văn chƣơng, là một yếu tố quan trọng làm
nên giá trị muôn thuở của tác phẩm. Tiếp cận tác phẩm văn chƣơng không chỉ
dừng lại ở các cấp độ hình ảnh, hình tƣợng, cấu trúc… mà còn có thể tiếp cận
từ góc nhìn văn hóa. Có nhƣ vậy tác phẩm văn học mới hiện lên vẻ đẹp toàn

Mỗi tác phẩm đạt đến giá trị văn học khi nó mang đến những thông
điệp nhân sinh và thẩm mĩ hữu ích cho độc giả. Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo
lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh đã làm đƣợc điều đó. Nhà văn bằng ngôn
ngữ nghệ thuật đã nỗ lực kiếm tìm và kiến giải về sức sống của dân tộc trong
quá khứ - căn nguyên của mọi thắng lợi, trực diện là thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ và xa hơn là lịch sử đấu tranh trải dài suốt mấy ngàn năm. Nhƣng ngƣợc
lại, lịch sử luôn chuyển dịch, không thể hiện tồn một hằng số văn hóa trong
những biến đổi liên tục ấy của lịch sử-xã hội. Bởi thế, đằng sau những mô tả
mê mải về sự yên ổn, vững chãi của cộng đồng, tác giả hé mở những rạn nứt,
báo hiệu những đổi thay tất yếu xảy ra trƣớc xu thế không thể đảo ngƣợc của
lịch sử. Nếu vẫn “cố thủ” bằng hành trang là hằng số văn hóa làng với kiểu cố
kết cộng đồng và tâm lí đám đông thì cái giá phải trả e rằng không tránh khỏi
sự trì trệ, tụt hậu.

3


Luận văn chọn hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa
và sử dụng phƣơng pháp tiếp cận từ hƣớng văn hóa học, bởi ở đó quy tụ nhiều
vấn đề của đời sống văn hoá, ở đó bản sắc dân tộc đƣợc phản ánh dƣới những
bình diện khác nhau. Cùng viết về văn hoá Việt biểu hiện nét sinh hoạt qua
hình thức cố kết cộng động làng với hệ thống tín ngƣỡng dân gian phong phú;
việc có mặt của thực dân Pháp với nghĩa là đại diện của sự xâm lấn, sự đan
xen của văn hoá ngoại lai ở đây là phƣơng Tây; việc tiếp nhận, tiếp biến
những luồng ý thức hệ và những tôn giáo một cách chủ ý hoặc ngẫu nhiên,…
Từ đây tác giả đặt những câu hỏi có tính thời cuộc, những mối trăn trở, cũng
đồng thời là những vấn đề về văn hoá cần đƣợc xã hội giải quyết trong thời
điểm hiện tại. Nói đúng hơn, một câu hỏi đặt ra có phần gay gắt và khẩn thiết
cho cả cộng đồng trong buổi giao lƣu hội nhập. Còn một lý do khác, chạm
đến các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh một phần vì sự “tò mò” của

vấn đề của văn học Trung đại Việt Nam. Đến nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn
trong chuyên luận Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa đã tiến
sâu hơn một bƣớc trong vận dụng góc nhìn văn hóa để quan sát và giải thích
các hiện tƣợng văn học. Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều bài viết về vấn đề
này của các tác giả nhƣ Trần Ngọc Vƣơng, Đỗ Lai Thúy, Lê Nguyên Cẩn,
Huỳnh Nhƣ Phƣơng… rải rác trong nhiều cuốn sách, chuyên luận, tạp chí
chuyên ngành.
Có thể thấy, thời gian gần đây trên văn đàn lẫn chuyên mục văn hóa
nghệ thuật của các phƣơng tiện thông tin rộ lên nhiều buổi toạ đàm, nhiều ý
kiến, nhiều cuộc trao đổi, giao lƣu giới thiệu xoay quanh tiểu thuyết Đội gạo
lên chùa nói riêng và các tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói
chung. Điều đó nhƣ một gợi ý cho trí “tò mò” của chúng tôi. Và khi bắt tay
tìm hiểu, “xâm nhập” vào những tiêu đề “chứa” các từ khóa “Nguyễn Xuân
Khánh”, “Mẫu Thƣợng ngàn”, “Đội gạo lên chùa” lại gợi mở cho chúng tôi
hàng loạt vấn đề liên quan, nhất là khi đối sánh với thực trạng đời sống văn

5


hóa xã hội Việt Nam đƣơng thời. Hy vọng với một công trình ít nhiều có tính
khoa học, chúng tôi sẽ góp một tiếng nói, một cách nhìn của riêng mình về
vấn đề này, về các tác phẩm này.
Đầu tiên phải kể đến bài viết Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian
trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn trên Tạp chí nghiên cứu Văn học số 6 năm
2007 của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị An. Bài nghiên cứu khá công phu và
gần nhƣ khái quát đƣợc toàn bộ các vấn đề về nội dung lẫn nghệ thuật của
cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn. Đặc biệt, vấn đề bản sắc văn hóa đƣợc
tác giả khảo cứu một cách chi tiết. Và rồi đi đến khẳng định, văn hóa, lịch sử
đƣợc tiểu thuyết hóa một cách uyển chuyển, vấn đề vốn đƣợc xem là hằng số
văn hóa - vô thức tập thể cũng đƣợc “giải thiêng” nhƣng với cách biểu hiện

viết tiếp cận ở những góc độ khác nhau đã lần lƣợt xuất hiện trên các trang
thông tin nhƣ, Báo Lao động (10/7/2011),“Đội gạo lên chùa” - Tác phẩm và
dư luận; Sài Gòn Giải phóng online đăng bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:
Nhà văn phải là nhà tư tưởng”, tác Cao Minh (29/10/2011); nhà nghiên cứu
Hoài Nam viết “Đội gạo lên chùa - trong chùa và ngoài chùa,” đăng trên
(5/10/2011): “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:
Viết cũng “tùy duyên”” của Hồng Minh trên www.tuanvietnam.net
(15/10/2011). Tác giả Toan Toan với bài viết “Khi U80 đội gạo lên chùa”,
Tiền phong online (08/2/2012)… Những bài viết trên đây bƣớc đầu đã phân
tích, khẳng định những giá trị của Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa và
chỉ ra đƣợc một số đặc sắc văn hóa dân tộc đƣợc Nguyễn Xuân Khánh tái
diễn dịch trong hai tác phẩm. Đó là những thuận lợi, gợi mở cho chúng tôi khi
thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh cũng trở thành đề tài
nghiên cứu của học viên cao học, sinh viên tại các trƣờng Đại học xã hội,
Viện nghiên cứu chuyên ngành. Trong số các luận văn, khoá luận liên quan
tới tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh tại Trƣờng Đại học KHXHNV Hà Nội,

7


chúng tôi thống kê có các đề tài nhƣ: “Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết
lịch sử qua Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác”; “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh dưới góc nhìn thể
loại” (qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn); “Tiểu thuyết lịch
sử của Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Xuân Khánh”; “Hư cấu nghệ thuật trong
tiểu thuyết lịch sử” (qua khảo sát Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và
Giàn thiêu của Võ Thị Hảo); “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh”.vv… Một bản danh sách thống kê chƣa đầy đủ về
những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh đối với đời sống văn học đƣơng


Chƣơng 1
HƢỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ MỐI QUAN HỆ
VĂN HÓA - VĂN HỌC
1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học
Tính văn hóa của tác phẩm văn học là tính chất đặc thù gắn liền với
mỗi một tác phẩm văn học, cho thấy tác phẩm văn học không chỉ toát
lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách ứng xử và cách
tiếp nhận, xử lý cuộc sống của một dân tộc hay một cộng đồng ngƣời
nhất định. Nó không chỉ là quan niệm về con ngƣời đƣợc thể hiện tinh
tế của nghệ thuật ngôn từ mà đồng thời là chuẩn mực ứng xử của một
cộng đồng, một dân tộc trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Mỗi một
tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trƣng của dân
tộc, của đất nƣớc mà nơi đó tác phẩm đƣợc sinh ra. Tính văn hóa trong
tác phẩm văn chƣơng cho phép hiểu rộng hơn giá trị của tác phẩm qua
hệ thống hình tƣợng, hình ảnh; tạo ra những suy tƣ liên hệ so sánh với
các loại hình nghệ thuật khác cũng nhƣ với các nền văn hóa khác. Tác
phẩm văn học nhƣ là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời
sống tinh thần của các dân tộc, nhƣ là một trong những sản phẩm kết tinh cao
nhất của văn hóa một cộng đồng dân tộc, một đất nƣớc. Tác phẩm văn học xét
từ góc độ này trở thành thế giới của lý tƣởng, thế giới của chân - thiện - mỹ,
tạo ra niềm tin hƣớng thiện cho con ngƣời.
Bản thân văn hóa còn là phƣơng thức, hình thức hoạt động. Từ góc độ
này, tác phẩm văn học miêu tả và mang trong nó các biểu hiện văn hóa qua
hành vi ứng xử với môi trƣờng và xã hội. Ứng xử với môi trƣờng thể hiện qua
quan niệm của con ngƣời đối với môi trƣờng và môi trƣờng trở thành thƣớc
đo quan hệ ứng xử, thế nên, cây đa - bến nƣớc - sân đình mới trở thành tình,

10



1.2 Tiếp cận tác phẩm văn học từ văn hóa học
Trong chuyên luận Phương pháp luận nghiên cứu văn học của PGS.TS
Đoàn Đức Phƣơng khẳng định, phƣơng pháp tiếp cận văn hóa học vận dụng
những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác
phẩm. Đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh truy nguyên các quan niệm văn hóa
của thời đại nơi tác phẩm đƣợc sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức
quan niệm về con ngƣời, về không - thời gian trong tác phẩm. Khi nghiên
cứu, xem xét, đánh giá một hiện tƣợng văn học, phƣơng pháp tiếp cận văn
hóa học có những tiêu chí tƣơng ứng nhƣ: quan niệm về xã hội và các kiểu
hình tƣợng xã hội trong văn học, đó là các kiểu không gian tồn tại của con
ngƣời; quan hệ của con ngƣời với thiên nhiên và các hình tƣợng thiên nhiên;
quan niệm về con ngƣời gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Có thể khái quát,
“phƣơng pháp tiếp cận văn hóa học thiên về giải mã các hình tƣợng nghệ
thuật, tìm ra nét thời đại của tác phẩm” [38, tr. 29].
Từ thành tựu của các nhà nghiên cứu, có thể thấy, việc tiếp cận tác
phẩm văn học từ hƣớng văn hóa học có hai lối tiếp cận chính, một là, lấy một
yếu tố nào đó của văn hóa nhƣ Nho giáo, Phật giáo, tín ngƣỡng... để lí giải
văn học. Ví dụ ở Việt Nam có Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
của tác giả Trần Đình Hƣợu. Hai là, lấy những hoàn cảnh văn hóa-xã hội,
hoặc văn hóa-lịch sử nào đó nhƣ một “ngọn nguồn” của sáng tạo văn học,
xem nhƣ một cái “khung” để nghiên cứu tác phẩm, tác giả, trào lƣu,… chẳng
hạn nhƣ công trình Văn học Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của tác giả Trần
Nho Thìn. Ở cách tiếp cận này, văn hóa nhƣ một tổng thể, một hệ thống bao
gồm những yếu tố nhƣ ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín
ngƣỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn... trong đó có văn học. Văn
hóa cũng nhƣ nhiều hệ thống khác là một hệ thống mở. Trong đó, bao giờ
cũng có một yếu tố năng động hơn các yếu tố khác và đóng vai trò là yếu tố

12

13


giao tiếp về văn hóa càng diễn ra mạnh mẽ. Mà văn học là loại sản phẩm
đƣợc tạo ra từ những “ngƣời thợ” thƣờng nhạy cảm nhất trong một cộng
đồng, họ sớm thức nhận và đƣa vào tác phẩm của mình những biến động từ
môi trƣờng văn hóa xung quanh, thế nên, bỗng nhiên hàm lƣợng văn hóa
trong các tác phẩm văn chƣơng trở nên “đậm đặc” hơn…
Bỏ ra ngoài đặc trƣng hƣ cấu, hơn nữa dù hƣ cấu vẫn phải dựa trên
nền tảng của thực tiễn, văn học dƣới mọi thời đại đều luôn đảm đƣơng sứ
mệnh là “đại sứ” kết nối hiểu biết của con ngƣời với tri thức, đặc biệt là tri
thức văn hóa. Không thể phủ nhận tri thức văn hóa trong tác phẩm văn học có
khả năng “lƣu hành” không biên giới. Cùng với những yếu tố làm nên giá trị
tác phẩm văn chƣơng nói chung, tác phẩm văn xuôi nói riêng, các nhà văn
đƣơng đại Việt Nam đã khai thác và tái sử dụng triệt để các giá trị văn hóa
dân tộc khi đƣa vào tác phẩm của mình nhƣ một phần sức mạnh làm nên
chiều sâu, cũng nhƣ sức sống dồi dào cho những văn phẩm ấy.
Giá trị đích thực của văn học thể hiện ở chỗ nó phản ánh trong đó tất
cả các vấn đề văn hóa, xã hội, vận mệnh, tiền đồ của dân tộc, tinh thần của
thời đại. Văn hóa ở mặt biểu hiện, đƣợc thông qua các biểu tƣợng văn hóa,
tức hình thức biểu đạt các giá trị, ý nghĩa mà con ngƣời đã tìm kiếm và chọn
lựa theo một kiểu ứng xử nào đó, một quan hệ nào đó trong quá trình tiếp ứng
với tự nhiên và xã hội. Nhận thức các hệ thống biểu tƣợng và “giải mã” nó là
để hiểu về những giá trị, những tƣ tƣởng đƣợc ẩn chìm bên trong thế giới của
các biểu tƣợng ấy. Đó cũng là một cách thức để chấp nhận, để khám phá tâm
lý, tính cách cũng nhƣ tinh thần của một dân tộc. Và đó cũng là phƣơng thức
để nhận biết về “bản sắc dân tộc”.
Tái hiện không gian văn hóa với những biểu tƣợng “sống” trong lòng
cộng đồng và mỗi thành viên của cộng đồng ấy là nhiệm vụ quan thiết của
mỗi tác phẩm văn học. Nhất là các thể loại tự sự. Cũng vậy, không gian văn

những tác phẩm văn học đƣợc sản sinh trong cùng một thời đại văn hóa, mang

15


những nét tƣơng đồng về phƣơng thức biểu hiện thì tiếp cận từ hƣớng văn hóa
học chính là tìm ra đƣợc những cái riêng trong cái chung ấy. Có thể hình dung
cách tiếp cận này giống nhƣ việc tạo ra cái “neo” để lƣu giữ con thuyền trên
dòng nƣớc. Đối với Luận văn này, cả hai lối tiếp cận nêu trên sẽ đƣợc chúng
tôi vận dụng trong giải quyết các vấn đề của tác phẩm để tƣơng thích với từng
luận điểm.
1.3 Nguyễn Xuân Khánh, nhà văn tâm huyết với văn hóa dân tộc
Nhà văn sinh năm 1933, còn có bút danh Đào Nguyễn, sinh ra và lớn
lên tại một vùng quê ngoại thành Hà Nội. Các tác phẩm chính: Rừng sâu (Tập
truyện ngắn, 1963), Miền hoang tưởng (Tiểu thuyết, 1990), George Sand nhà văn của tình yêu (Chân dung văn học, 1993), Hồ Quý Ly (Tiểu thuyết,
2000. Tác phẩm đƣợc tặng Giải thƣởng cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn
Việt Nam, 1998 - 2000; Giải thƣởng Thăng Long của Ủy ban Nhân dân
Thành phố Hà Nội, 2002; Giải thƣởng của Hội Nhà văn Hà Nội), Hai đứa trẻ
và con chó Mèo xóm núi (Truyện vừa thiếu nhi, 2002), Mưa quê (Tập truyện
ngắn thiếu nhi, 2003), Mẫu Thượng ngàn (Tiểu thuyết, 2006; Giải thƣởng của
Hội Nhà văn Hà Nội), Đội gạo lên chùa (Tiểu thuyết 2010; Giải thƣởng của
Hội Nhà văn Việt Nam 2011)…
Sau một thời gian lao đao về những chuyện “lệch lạc tƣ tƣởng”,
Nguyễn Xuân Khánh nhập cuộc trở lại làng văn bằng tiểu thuyết Miền hoang
tưởng với bút danh Đào Nguyễn. Tuy chịu không ít búa rìu dƣ luận song Miền
hoang tưởng vẫn trụ vững trong không khí sáng tạo thời đổi mới, đƣa đến cho
độc giả những cách nhìn, cảm nhận và đánh giá cuộc sống mới mẻ, đa chiều.
Với tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh đã vƣơn tới một đỉnh
cao trong hành trình sáng tạo của mình. Cuốn tiểu thuyết này đƣợc ngƣời đọc
nồng nhiệt đón nhận, đánh giá cao. Tiếp đó, với tiểu thuyết Mẫu Thượng

kiếm tìm, những kiến giải về sức sống con ngƣời trong một cộng đồng dƣới
tác động và chịu chi phối bởi một tôn giáo không thuần dân tộc, ở đó khuyến

17


khích con ngƣời ta “diệt dục”, hay đúng hơn, những cá thể trong cộng đồng
ấy đƣợc tắm qua bể nƣớc Phật đạo và sự có mặt của họ trở thành một khía
cạnh nào đó có tính biểu tƣợng nhất định làm nên chỉnh thể chữ Tâm với giáo
lý “từ bi hỷ xả”. Tuy nhiên, điểm gặp gỡ của cả hai lại chính là việc lấy bối
cảnh khá nhạy cảm là điểm giao thời của sự tiếp xúc Đông-Tây xảy ra trên đất
nƣớc Việt Nam để làm “bệ đỡ” cho việc khám phá quá khứ dân tộc. Sự tiếp
xúc ấy biểu hiện ở nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, đời sống sinh hoạt
của con ngƣời, nhƣng nổi lên và rõ ràng hơn cả là sự tiếp xúc, mối giao thoa
văn hóa của những cộng đồng ngƣời trong những biên độ không gian khác
nhau.
Tiểu kết:
Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hoá.
Thực tiễn cuộc sống và nền văn hoá dân tộc là mảnh đất màu mở làm nảy sinh
và nuôi dƣỡng văn học nghệ thuật, đến lƣợt mình, văn học nghệ thuật làm
phong phú thêm bản sắc dân tộc của văn hoá. Nhƣng nếu đứng từ góc độ văn
hóa - xã hội, văn học có một chức năng bao trùm khác, đó là “chức năng văn
hóa” của văn học. Tuy nhiên, trong vô vàn biểu hiện văn hoá ngoài đời, nhà
văn cũng chỉ chú trọng tới những giá trị văn hoá tiêu biểu nhất, góp phần định
hƣớng phát triển văn hoá. Chẳng hạn, viết về đề tài nông thôn, sẽ nói đến tính
cộng đồng, tình làng nghĩa xóm…
Là nhà văn tự điều chỉnh, Nguyễn Xuân Khánh tiêu biểu, hay nói đúng
hơn trở nên thích hợp với ngữ cảnh văn hóa, xã hội thời đổi mới. Có thể tìm
thấy ở tác phẩm Nguyễn Xuân Khánh tiếng nói trực hiện, tinh tế và chân
thành, bên cạnh những khao khát ẩn ngầm của thời đại. Nhƣ phẩm tính thiện

lý tƣ biện, cũng có khi trình bày suy nghĩ qua cảm nhận cảm tính. Văn hóa
với biểu hiện đa dạng của nó trong tác phẩm văn học là một yếu tố làm nên
giá trị cho tác phẩm. Tính văn hóa trong tác phẩm văn học tạo ra sự tƣơng

19


đồng trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học ở những cộng đồng ngƣời không
cùng một không gian nào đó. Sự hình thành của những khái niệm văn hóa nhƣ
văn hóa phƣơng Đông, văn hóa phƣơng Tây, văn hóa dân tộc, văn hóa vùng…
từ trong bản thân có khác nhau về mặt phạm vi, đó là do sự liên đới xa hay
gần trong việc thừa hƣởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn
hóa nhất định. Đƣơng nhiên cũng đồng thời tạo nên hệ thống hình tƣợng, biểu
tƣợng khác nhau trong đời sống nói chung, các loại hình văn học nghệ thuật
nói riêng trong đó có văn học.
Trong vấn đề này, cần thiết phải tìm hiểu một khái niệm khác, đó là
bản sắc văn hóa. Có nhiều cách trả lời khác nhau về bản sắc văn hóa dân tộc,
ngƣời ta cũng mặc nhiên công nhận rằng bản sắc dân tộc là cái có thật, nên rất
nhiều công trình gắng công tìm hiểu. Nhƣng truy tìm theo hƣớng nào và bằng
cách nào là điều cần bàn đến. Bởi một lẽ, ngay trong bản thân khái niệm văn
hoá đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi do đứng ở những góc độ khoa học khác
nhau để nghiên cứu. Văn hoá xét về mặt biểu hiện là một hiện tƣợng xã hội
mà không phải hiện tƣợng tự nhiên, nó thuộc về giá trị tinh thần. Theo nghĩa
chung nhất, văn hoá đƣợc xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạo của con
ngƣời trong quá khứ cũng nhƣ trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực hay
giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ “giá trị - xã hội”, cũng đồng
thời là một thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc.
Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự thể hiện của tâm lý dân
tộc, đƣợc biểu hiện ra ở lối sống, nếp sống, ở phong tục tập quán, ở sự ƣa
thích, cách suy nghĩ, ở thang bảng giá trị xã hội... Tất cả cùng hiện ra những

việc khai thác tác phẩm văn chƣơng không thể không đề cập tới tính văn hóa
của hệ thống biểu tƣợng ấy. Đồng thời, thông qua các hình tƣợng, hình ảnh,
biểu tƣợng, ý nghĩa tƣợng trƣng… đƣợc tổng kết lại trong kho tàng văn học
dân gian, trong văn học viết chung cho cả dân tộc, hoặc có khi trở thành các
cổ mẫu của nhiều nền văn học lớn, mang tính phổ quát nhân loại nếu nhƣ các

21


hình ảnh, biểu tƣợng đó gắn với thần thoại, đƣợc chuyển tải vào văn hóa tôn
giáo, vào Kinh Thánh…
Trong khi nghiên cứu tác phẩm văn học, nếu chú ý phân tích ý nghĩa
văn hóa của một số biểu tƣợng, môtip, có thể tìm thấy những lớp nghĩa phong
phú bên trong tác phẩm. Thực tế, biểu tƣợng đƣợc các nhà nghiên cứu văn
hóa, cũng nhƣ văn học rất coi trọng vì nó là “đơn vị cơ bản” của văn hóa, là
“hạt nhân di truyền xã hội” và bởi nó đƣợc sinh ra nhờ năng lực biểu tƣợng
hóa của con ngƣời. Con ngƣời tƣ duy bằng biểu tƣợng, giao tiếp bằng biểu
tƣợng, thể hiện tâm tƣ tình cảm sâu kín nhất cũng nhƣ thăng hoa những khát
vọng đều bằng biểu tƣợng. Chính vì vậy mới có nhà nghiên cứu văn hóa cho
rằng “văn hóa là dòng thác biểu tƣợng đi từ ngƣời này sang ngƣời khác”.
2.1.2 Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa - nơi gặp gỡ của biểu
tượng văn hóa làng
Với hai tiểu thuyết đang nhắc tới, có thể thấy nổi lên một số biểu hiện
của bản sắc văn hoá nhƣ hiện tƣợng “vô thức tập thể” hay tâm lí đám đông.
Đây là hiện tƣợng văn hoá truyền thống từ ngàn xƣa, ứng hợp với quan hệ
ứng xử của một nền văn hoá nông nghiệp lúa nƣớc, với kiểu quan hệ cộng
đồng làng xã. Hiện tƣợng này thƣờng có sự gắn kết chặt chẽ với hình tƣợng
ngôi làng. Nhà văn tìm thấy sự tƣơng đồng ở tính bất biến tâm lý đám đông
và cộng đồng làng, rộng hơn là “liên làng” thông qua sự đồng chất của đám
đông với làng ở “sự biến mất cá tính có ý thức và việc định hƣớng những tình

chúng còn bám rễ, ăn sâu trong tâm thức mỗi ngƣời dân Việt khi ý thức về
văn hoá truyền thống, về cộng đồng làng xã của họ từ ngàn xƣa. Nếu ngôi
đình của làng Cổ Đình trong Mẫu Thượng ngàn là niềm kiêu hãnh của ngƣời
dân nơi đây, thì ngôi chùa Sọ trong Đội gạo lên chùa là nơi gửi gắm sự bình
yên cho tâm hồn của những con ngƣời bé mọn khi họ xa cơ lỡ bƣớc, khi họ
cần một chốn an ủi cho những mất mát, đau thƣơng mà số phận buộc phải

23


gánh chịu, thậm chí là nơi cất giấu sự tinh khiết, trong ngần khi ngƣời ta
không thể tiếp tục tồn sinh ở cái thế giới của bụi bặm, xô bồ chốn trần gian.
Nếu nhƣ trong Mẫu Thượng ngàn, tiếng kèn đƣa tiễn trở thành biểu
tƣợng của tình yêu, của sự trọn nghĩa vẹn tình và niềm tri ân sâu nặng của ông
trƣởng Kiên với vợ là bà Ngát. Cây mít trong vƣờn trở thành biểu tƣợng của
sự tiếp nối dòng họ, của sự lƣu truyền đối với ông Đồ Tiết. Cây đa đầu làng
hùng vĩ trở thành niềm kiêu hãnh của ngƣời dân Cổ Đình... thì ở Đội gạo lên
chùa đó là tiếng chuông ngân từ ngôi chùa Sọ mang theo tâm tình của ngƣời
làng Sọ, tiếng chuông ấy vang lên những âm thanh trầm - bổng, vui - buồn
khác nhau hòa vào nỗi niềm của con ngƣời nơi đây. Đó là cái giếng chùa tỏa
hƣơng thơm mát, nơi cô bé Rêu tinh khôi, hồn nhiên đã trẫm mình để trốn
khỏi cuộc đời của những toan tính, dối gian. Giếng nƣớc ấy nhƣ biểu tƣợng
về một loại “nƣớc thánh” để gột rửa những bụi trần, để cất giữ những thứ
hƣơng thơm linh diệu hiếm hoi cho đời mà cậu bé An những lúc buồn lòng,
những khi thất vọng, hoang mang thƣờng tìm đến…
Nƣơng theo cách hiểu này thì mẫu số chung của những tục thờ mà
Nguyễn Xuân Khánh miêu tả trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn từ tục thờ
thần cây đa, thần cẩu, đến lễ hội thờ ông Đùng, bà Đà, lễ hội đền Mẫu, tín
ngƣỡng vật linh… chính là sợi dây liên kết của hình thức văn hóa làng, cũng
nhƣ mối tƣơng đồng của nhiều ngôi làng trên khắp đất nƣớc, đặc biệt là vùng

khảo một cách ứng xử phù hợp.
Tâm linh là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hình tƣợng nghệ
thuật. Mối quan hệ giữa biểu tƣợng văn hóa và hình tƣợng văn học nhƣ một
tất yếu đƣợc thức nhận chủ yếu qua ý thức tâm linh. Tâm linh cũng gắn liền
với cái “siêu thức” - cái mà có khi vƣợt quá cảm nhận của tƣ duy thông thƣờng
và không dễ gì giải thích nổi với nhận thức của trí não. Đặc biệt, tâm linh luôn
gắn liền với niềm tin tâm thức - tức niềm tin vào bản thể mình và những giá trị
thiêng liêng mà mình đã thức nhận. Tâm linh hay niềm tin hiểu theo cách ấy rõ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status