1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Võ Trường Toản
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài
ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH LỚP 12
TIẾP NHẬN ĐOẠN TRÍCH “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG
SÔNG?” THEO HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA
Người thực hiện: Lê Thái Huyền Trân
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2013 - 2014
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Thái Huyền Trân
2. Ngày tháng năm sinh: 09/10/1978
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Số 112, ấp Bể Bạc, xã Xuân Đông, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
5. Điện thoại: : 061 3749688 (Cơ quan); ĐTDĐ: 0906 393343.
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Tổ trưởng tổ ngữ văn.
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy ngữ văn và quản lí chuyên môn tổ Ngữ văn.
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Võ Trường Toản.
1.2.3. Nguyên nhân của thực trạng dạy - học đoạn trích AĐĐTCDS?
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu yếu tố văn hóa liên quan đến đoạn trích
AĐĐTCDS? trong phần tiểu dẫn.
2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu yếu tố văn hóa qua phần chú thích (GV cung
cấp thêm) và quá trình đọc đoạn trích AĐĐTCDS?
3. Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề để khai thác yếu tố văn hóa trong
đoạn trích AĐĐTCDS?
4. Tổ chức học sinh hợp tác, trao đổi, thảo luận nhóm để cắt nghĩa và phân tích
bình giá những yếu tố văn hóa trong đoạn trích AĐĐTCDS?
5. Sử dụng các phương tiện trực quan để minh họa các yếu tố văn hóa trong
đoạn trích AĐĐTCDS?
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục đích thực nghiệm
2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3. Miêu tả quá trình thực nghiệm
4. Kết quả thực nghiệm
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AĐĐTCDS? : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
CM : Cách mạng
CMT8 : Cách mạng tháng 8
ĐC : Đối chứng
ĐHH : Đại học Huế
ĐHSPH : Đại học sư phạm Huế
ĐHSPHN : Đại học sư phạm Hà Nội
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
giá trị để đưa vào nhà trường.
Theo quan điểm đổi mới dạy học Văn hiện nay, sách giáo khoa Ngữ văn được
xây dựng như một chương trình “văn hóa mở”. Những vấn đề đang diễn ra trong đời
sống như tìm hiểu về văn hóa truyền thống, bảo vệ và duy trì truyền thống văn hóa
dân tộc trong đời sống hiện đại, vấn đề an toàn giao thông, vấn đề bảo vệ môi
trường… cũng cần phải gắn với chương trình học. Nhìn vào sách giáo khoa Ngữ văn
12, chương trình văn học đã mở rộng đến sau 1975 với một số tác phẩm tác giả tiêu
biểu như Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa, Ma Văn Kháng với Mùa lá
rụng trong vườn, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, Hoàng Phủ Ngọc Tường với
Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Thanh Thảo với Đàn ghi ta của Lorca, Lưu Quang Vũ
với Hồn Trương Ba da hàng thịt, cùng với những văn bản nhật dụng được đưa vào
chương trình cũng góp phần làm cho chương trình văn học trong nhà trường gần với
cuộc sống hơn.
5
Tuy nhiên, hiện nay, việc giảng dạy những tác phẩm văn học mới trong chương
trình Ngữ văn nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều bỡ ngỡ và rập khuôn. Giáo viên
chỉ tập trung khai thác những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà
chưa chú ý nhiều đến yếu tố văn hóa thể hiện trong tác phẩm. Nhưng trước yêu cầu
mới của xã hội, tác phẩm văn chương không chỉ đơn thuần là câu chuyện văn chương
mà đó còn là câu chuyện tiềm ẩn nhiều tri thức nhân loại, có nhiều tri thức được
chuyển tải trong một văn bản văn học và có thể khẳng định tri thức góp phần làm nổi
rõ yếu tố thẩm mỹ của văn học hơn cả chính là tri thức văn hóa. Vậy nên “không có lí
do gì, chúng ta lại làm nghèo đi một văn bản văn học, làm hạn hẹp tầm nhìn của học
sinh về xã hội, con người và chính bản thân mình” [6]. Do đó cần chú ý đến yếu tố
văn hóa trong văn học, dạy văn không chỉ chú trọng đến tri thức văn chương mà cũng
cần hướng dẫn cho học sinh quan tâm nhiều đến tri thức văn hóa, tự hào, yêu quí và
có ý thức giữ gìn bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc.
Từ mục tiêu của việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay,
cùng với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức
văn hóa được kết tinh trong những tác phẩm văn học và xuất phát từ yêu cầu đổi mới
phẩm văn học không chỉ toát lên vẻ đẹp ngôn từ mà còn cả vẻ đẹp tâm hồn qua cách
ứng xử và cách tiếp cận, xử lí cuộc sống của một dân tộc hay một cộng đồng nhất
định”[3].
Tác giả Trần Hữu Sơn trong cuốn: “Quan niệm con người và tiến trình phát
triển của văn học Trung Đại” đã viết: “Văn học đã là và mãi mãi sẽ là đại lượng tích
hợp văn hóa, một phương thức biểu trưng văn hóa cho mọi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi
vùng văn hóa. Và đến lượt nó những giá trị văn hóa được thử thách qua thời gian lại
trở thành thành tố văn hóa góp phần làm nên bảng màu văn hóa và di sản cho muôn
đời sau” [23]. Từ đó, trong bài viết: “Đặc điểm bài dạy văn học Trung đại Việt Nam”,
tác giả khẳng định: “cần nắm bối cảnh lịch sử-văn hóa tác phẩm, tác giả…đây là đặc
điểm bên ngoài tương đối gián cách với văn bản song lại là tiền đề hết sức quan trọng
để chúng ta tìm hiểu tác phẩm”.
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn: “Phương pháp dạy học tác phẩm văn
chương trong nhà trường” cho rằng: việc dạy văn học nước ngoài của giáo viên ít
thành công vì “phông văn hóa có những độ vênh nhất định”. Tác giả đề nghị: “tăng
cường kiến thức lịch sử và văn hóa cho giáo viên” hoặc “đặt tác phẩm trong mối
tương quan văn hóa của hai dân tộc” [4].
Trong bài viết: “Một tiền đề quan trọng cho đổi mới phương pháp”, giáo sư
Phan Trọng Luận cho rằng: “Trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ngoài giá trị
thẩm mỹ, ý nghĩa nhân văn còn có giá trị văn hóa truyền thống… giữ gìn cái thiêng
liêng trong sáng cũng là nét văn hóa cần được khai thác và giáo dục tình cảm thẩm
mỹ…Thiếu vốn văn hóa cần thiết thì việc cảm thụ văn thơ cũng dễ bị sai lệch hoặc
thiếu sâu sắc”. Và trong bài viết: “Văn học với văn học nhà trường không phải là
một”, giáo sư một lần nữa khẳng định: “Một văn bản văn chương không phải chỉ có
thông tin thẩm mỹ mà còn là một văn bản văn hóa. Học một bài văn, một tác phẩm
văn chương ngoài sự rung cảm còn biết bao nhiêu điều cần khai thác và khám phá về
con người, về cuộc đời, về xã hội, về cuộc sống, về tư tưởng, về văn hóa… ”
Những cơ sở lí luận trên là nền tảng để một số luận văn thạc sĩ thuộc nhiều
trường đại học lựa chọn hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa như:
7
phẩm văn học ra đời là kết quả của sự khúc xạ, chưng cất các giá trị văn hóa.
Từ thuở xa xưa, dân tộc Việt nam đã gắn bó với nền sản xuất nông ghiệp. chính
nền nông nghiệp tự nhiên với nền kinh tế tự cấp, tự túc đã để lại dấu khá đậm trong
tâm lí của người Việt, ảnh hưởng đến đời sống, tâm lí, quan hệ ứng xử. Con người
trong nền văn hóa nông nghiệp là con người làng xã, con người cộng đồng. Chính cơ
8
sở văn minh của văn hóa qui định đối tượng thẩm mỹ của văn học. Vì vậy, nhìn vào
hầu hết những tác phẩm văn học truyền miệng đều không ra ngoài phạm vi làng xã,
đều bắt nguồn từ lao động của người dân quê:
Trâu ơi! ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì con ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. (Ca dao)
Những phong tục tập quán, nếp sống, cách nghĩ, tâm hồn người Việt là nguồn
cảm hứng vô tận trong các tác phẩm văn học dân gian:
Tháng hai chi chí tháng mười,
Năm mười hai tháng em ngồi em suy:
Vụ chiêm em cấy lúa di,
Vụ mùa lúa ré, sớm thì ba trăng.
Thú quê rau cá đã từng,
Gạo thơm, cơm trắng chi bằng tám xoan.
Việc nhà em liệu lo toan,
Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà. (Ca dao)
Xã hội phong kiến phương Đông theo chế độ quân chủ, làng xóm sống theo
một tổ chức có thứ bậc và quan hệ giữa người và người là quan hệ tình nghĩa “Bán
anh em xa mua láng giềng gần”, “Tối lửa tắt đèn có nhau”. Chính điều đó chi phối
quan hệ ứng xử của người nông dân Việt Nam. Thời phong kiến, hệ tư tưởng của dân
tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo, thuộc văn hóa
nghề in, nghề xuất bản, nghề báo phát triển khá mạnh. Đây là những nhân tố đã tạo
điều kiện cho văn học Việt Nam đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Văn học Việt Nam
giai đoạn đầu của thế kỉ XX do tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã có những chuyển
biến mạnh theo hướng canh tân trên cơ sở bản lĩnh của truyền thống văn hóa dân tộc.
Sự thay đổi của nền kinh tế, đời sống văn hóa xã hội đã đem đến cho văn học những
lĩnh vực hoạt động mới, xuất hiện nhiều trào lưu, khuynh hướng văn học mới… Cùng
với sự chuyển biến của tình hình văn hóa, xã hội và những chuyển đổi về hình thái ý
thức xã hội dẫn đến sự thay đổi tư tưởng sáng tạo văn học, văn học từ thời kì đầu thế
kỉ XX đến 1945, đặc biệt là từ đầu những năm 30 trở đi phát triển với tốc độ khẩn
trương, mau lẹ. Biết bao vấn đề về đất nước, về cuộc sống, con người và nghệ thuật
đòi hỏi văn học thời kì mới phải giải quyết mà ở thời kì trước đó chưa từng có. Cái
cao nhã của văn chương truyền thống không còn thích ứng với xã hội hiện tại. Thể
chế xã hội, văn hóa chuyển đổi mạnh theo hướng duy tân. Văn chương tất yếu phải
chuyển đổi để phù hợp với văn hóa. Một thời trong thơ ca trung đại chỉ tồn tại con
người – lí tưởng, con người – cộng đồng… Khi cơ sở văn hóa thay đổi, văn hóa đô thị
len lỏi vào tận tâm hồn con người, ý thức cá nhân bùng dậy với những khám phá mới
mẻ về các tầng sâu tiềm thức, vô thức trong con người. Và sự ra đời của Thơ mới,
những truyện ngắn, tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực, lãng mạn,… giai đoạn này
như là một minh chứng cho sự thay đổi tất yếu của văn học trên nền tảng của sự thay
đổi văn hóa xã hội.
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công. Từ đây, một nền văn văn học mới
gắn liền với lí tưởng độc lập, tự do, văn học vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng Sản, văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ
chức và về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ. Từ năm 1945 đến năm
1975, trên đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, công cuộc xây dựng cuộc sông mới, con
người mới ở miền Bắc,… những sự kiện đó đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ
đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật. Đáp ứng yêu
10
cầu của lịch sử, vì mục tiêu chung của toàn dân tộc, văn học Việt Nam từ năm1945
1986 trở đi là chặng đường văn học đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và khá toàn diện. Văn
học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú và mới hơn về bút pháp nghệ
thuật. Văn học giai đoạn này đề đã cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách
nhìn nhận, cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người
trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương
diện của đời sống, kể cả đời sống tâm linh. Cái mới của văn học giai đoạn này là tính
chất hướng nội, quan tâm nhiều tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp,
đời thường. Kinh tế thị trường cũng đã tác động tích cực tới văn học: kích thích các
tài năng sáng tác đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi nhiều mặt của người đọc.
1.1.3. Văn học phản ánh, lưu giữ và sáng tạo văn hóa
11
Thực tế đã cho thấy: văn học của bất kì dân tộc nào, thời đại nào cũng đều phản
ánh và lưu giữ văn hóa của dân tộc đó, thời đại đó. Văn học Việt Nam trong trường kì
phát triển của ngàn năm lịch sử, luôn thể hiện những đặc trưng đầy đủ của văn hóa
con người Việt Nam. Tục thách cưới có từ thời Hùng Vương trong truyện “Sơn Tinh
Thủy Tinh”. Tục ăn trầu trong “Sự tích trầu cau”, tục ăn bánh chưng, bánh dày vào
ngày lễ tết, tục xăm mình… đều được chuyển tải trong những câu chuyện cảm động
trong các tác phẩm văn học. Văn học Việt Nam luôn biểu hiện sâu sắc giá trị nhân văn
cao đẹp của văn hóa Việt Nam: tình yêu đất nước và tình yêu thương trân trọng con
người. Đối với người Việt Nam, yêu nước là yêu thiên nhiên cảnh trí non sông gấm
vóc, là lòng tự hào dân tộc, là tinh .thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm, là sẳn sàng
xả thân vì quê hương đất nước… Tất cả những nét đẹp văn hóa ấy in đậm trong văn
học dân gian và văn học viết. Dân tộc Việt Nam sống trong nền văn hóa mang đậm
tính nhân văn, do đó tình yêu thương trân trọng con người dễ dàng trở thành một
trong những nội dung chủ đạo của nền văn học Việt Nam. Những câu chuyện cổ tích,
những câu ca dao, dân ca như những dòng sông chở nặng phù sa của tình yêu thương
con người. Cuộc sống của con người càng đau khổ cay cực bao nhiêu văn học càng
thấm sâu nỗi đau, càng đấu tranh cho con người, càng bảo vệ cho con người bấy
nhiêu. Xuyên suốt chiều dài phát triển của văn học, dấu ấn của nền văn hóa nhân văn
luôn rõ nét trong các tác phẩm. Ngay cả khi văn học mang nội dung yêu nước thì tư
của đời sống con người của nhà văn. Tư tưởng ấy, nhận thức ấy được truyền tải dưới
những hình tượng thẩm mĩ, tác động trực tiếp đến người đọc, hình thành nên những
cách ứng xử thẩm mĩ của con người trong các mối quan hệ: Quan hệ với môi trường
thiên nhiên, quan hệ với môi trường xã hội, quan hệ với quốc gia dân tộc, quan hệ với
chính bản thân. Tư tưởng văn hóa của nhà văn thể hiện trong tác phẩm văn học là sự
phê phán, lên án tố cáo cái ác, cái xấu, cái phản văn hóa, hoặc sự ngợi ca, tôn vinh giá
trị tinh thần nào đó trong cuộc sống con người. Qua những thái độ như vậy, nhà văn
hướng tới cái Chân - Thiện – Mĩ của văn hóa. Những nhà văn lớn với những tác phẩm
nổi tiếng có tác động rất lớn đối với văn hóa của thời đại. Tác phẩm văn học mang ý
nghĩa văn hóa khi nó đi vào trong cuộc sống, nghĩa là nó phải đến được với độc giả.
Do đó yếu tố bạn đọc là vô cùng quan trọng và thiết yếu để tác phẩm gia nhập vào
cuộc sống. Bạn đọc thâm nhập vào tác phẩm cũng có nghĩa là hiểu được các biểu
tượng, hiểu được thái độ, quan điểm tình cảm của nhà văn đối với hiện thực cuộc
sống. Sự ghi nhớ về những điều đã hiểu, đã cảm trong tác phẩm dần dần cấp cho
người đọc cách nhìn nhận, cách xử lí, vốn từ ngữ cùng với sự hiểu biết để người đọc
ứng xử với môi trường văn hóa của họ. Và thực tế đã cho thấy, những tác phẩm ra đời
đã gây một tiếng vang lớn tạo thành những trào lưu thay đổi cách nhìn nhận của con
người đương thời, hoặc tiếp thêm sức mạnh nội lực kì diệu cho cả một thế hệ để họ có
thể vượt qua hoàn cảnh khốc liệt.
Tóm lại, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của
văn hoá. Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hoá, tác phẩm văn
học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là một người thụ hưởng văn hoá. Trong
thời đại ngày nay, đa số quốc gia đều là xã hội đa văn hoá, văn học vì vậy cũng đa
dạng như văn hoá. Chính sách đối với văn học là một phần của chính sách văn hoá mà
tiêu điểm là con người với những nhu cầu tinh thần ngày càng phát triển. Và Bản sắc
dân tộc trong các loại hình văn học nghệ thuật không phải nhất thành, bất biến.
1.1.4. Tiếp cận văn hóa và Bản chất hướng tiếp cận văn hóa đoạn trích “Ai
đã đặt tên cho dòng sông?”
1.1.4.1. Tiếp cận văn hóa
Tiếp cận văn hóa (Cultueral Approach) không phải là một thuật ngữ xa lạ với
sông?”
Văn học là văn học, chúng ta không thể biến tất cả những cái có trong tác phẩm
văn học thành văn hóa và ngược lại. Nội dung văn hóa và giá trị văn hóa chỉ là một
mặt bên cạnh mặt văn học của tác phẩm văn chương. Do đó không thể lấy việc tiếp
nhận văn hóa thay thế cho việc tiếp nhận văn học trong quá trình chiếm lĩnh tác phẩm
văn chương. Tiếp nhận văn hóa đối với đoạn trích AĐĐTCDS? nhằm mục đích kiếm
tìm những vẻ đẹp văn hóa, những giá trị văn hóa của tác phẩm chứ không phải biến
AĐĐTCDS? thành một công trình khảo cứu văn hóa. Có thể hiểu tiếp cận văn hóa
như là một con đường hiệu lực để khám phá tác phẩm văn chương thêm một phương
diện nữa bên cạnh phương diện văn học – một phương diện mà lâu nay trong dạy học
tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông chúng ta luôn luôn đề cập tới. Tiếp
14
nhận văn hóa không đi trệch mục tiêu tiếp nhận đoạn trích AĐĐTCDS? dưới góc độ
văn học mà là sự hỗ trợ, bổ sung cần thiết để việc tiếp nhận tác phẩm được trọn vẹn,
đầy đủ ý nghĩa hơn.
Có thể khẳng định rằng: mặt văn hóa và mặt văn học trong tác phẩm
AĐĐTCDS? luôn xuyên thấm trong nhau. Có lẽ ai hiểu lịch sử, văn hóa, con người,
thiên nhiên xứ Huế thì người ấy sẽ có nhiều năng lực hơn trong việc tiếp nhận đoạn
trích AĐĐTCDS? với chiều sâu văn hóa của nó Nếu không đi từ văn hóa mà chỉ tìm
hiểu trên phương diện văn bản thì sẽ chỉ nhận được giá trị của tác phẩm ở phương
diện thẩm mĩ. Xét ở phương diện nào đó, tác phẩm văn chương là sản phẩm của sự hư
cấu để tạo nên những giá trị thẩm mĩ, hướng con người đến cái Chân – Thiện – Mĩ.
Tuy nhiên, những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm không tách rời với vẻ đẹp văn hóa dân
tộc, văn hóa thời đại. Như vậy hình tượng nghệ thuật thể hiện sự vươn tới giá trị văn
hóa nhưng đồng thời chính văn hóa dân tộc, văn hóa thời đại có tác dụng soi sáng,
định hướng ý nghĩa thẩm mĩ của hình tượng nghệ thuật.
Thực chất, sự tiếp nhận được xem là trọn vẹn hơn khi người đọc chiếm lĩnh
được cả mặt văn học và mặt văn hóa của tác phẩm văn chương. Tiếp cận văn hóa
không thể đứng độc lập, không phải là cách tiếp cận độc tôn trong quá trình dạy học
tác phẩm văn chương nói chung và dạy học AĐĐTCDS? nói riêng. Bởi lẽ, tiếp cận
Đảng. Có thể gọi đây là Văn học thời kì đổi mới. Như vậy, so với chương trình và
Sách giáo khoa cũ, chương trình, Sách giáo khoa Ngữ văn 12 hiện nay có thay đổi
trong việc lựa chọn tác giả, tác phẩm mới được chia theo cụm thể loại. Về kí, Ai đã
đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) và hồi kí Những năm tháng không
thể nào quên (Võ Nguyên Giáp) là những tác phẩm mới đưa vào chương trình.
AĐĐTCDS? ban đầu có tên là Hương ơi, e phải mày chăng? là bài bút kí do nhà
văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ở Huế vào ngày 4 ngày 1 năm 1981, và được in trong tập sách
cùng tên vào năm 1984. Một phần bài bút kí
đã được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ văn 12, và được đánh giá là một đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về
sông Hương.
AĐĐTCDS? là một bút kí đặc sắc, thể hiện phong cách tài hoa, uyên bác, giàu
chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một
biểu tượng của Huế.
Trong sách Tuyển chọn & giới thiệu Ngữ văn
có đoạn phân tích, tóm tắt như:
Vẻ đẹp dòng sông được phát hiện rất đa dạng. Có lúc trữ tình êm ả, hiền hòa như
“một thiếu nữ dịu dàng, duyên dáng”; có lúc phóng khoáng và man dại, rầm rộ và
mãnh liệt như một “bản trường ca của rừng già”. Có khi dịu dàng và trí tuệ như
“người mẹ phù sa”; có khi biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”; hoặc khi thì
vui tươi, khi thì như một mặt hồ yên tĩnh v.v Tất cả được miêu tả bằng một tình cảm
thiết tha với Huế, với một vốn văn hóa phong phú và một vốn ngôn từ giàu có và đậm
chất thơ của tác giả.
Đọc những trang viết về Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường (trong đó có bài
AĐĐTCDS?), nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, đã nhận xét: Nói rằng
Hoàng Phủ Ngọc Tường yêu Huế và hiểu Huế, thì đó là một lẽ đương nhiên. Tôi
muốn đi xa hơn, tìm một căn nguyên thấm kín để cắt nghĩa cho sự thành công mỹ mãn
của những trang viết ấy: phải chăng ở đây đã có một sự hòa hợp, tương giao, linh
luôn biết ngạc nhiên về cái bí ẩn, phong phú vô tận của tạo vật. Và chúng ta sẽ thiếu
sót với xứ Huế, với học sinh nếu không đưa AĐĐTCDS? vào chương trình, sách giáo
khoa Ngữ văn để giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Bởi đây là một bút ký đặc sắc,
mà qua đó học sinh sẽ vừa được làm quen với một thể loại văn học, vừa được biết đến
một phong cách bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường tinh tế tài hoa kết hợp nhuần nhuyễn
chất trí tuệ và tính trữ tình, chất nghị luận sắc sảo và sự hiểu biết uyên bác được tổng
hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, địa lý, lịch sử, hội hoạ, âm
nhạc, thơ ca và một xứ Huế thơ mộng với bề dày lịch sử, văn hóa thâm sâu…
1.2.2. Thực trạng của dạy học đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
trong chương trình Ngữ văn 12
1.2.2.1. Khảo sát Sách giáo khoa
- Phần “kết quả cần đạt”:
Theo định hướng trong Sách giáo khoa, giáo viên và học sinh cần đạt được
những kết quả sau khi dạy học đoạn trích AĐĐTCDS?:
17
Giáo viên tổ chức giảng dạy để giúp học sinh hiểu được tình yêu, niềm tự hào
tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và
cũng là cho đất nước.
Giáo viên phải giúp học sinh nắm được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ
thuật viết bút kí trong bài AĐĐTCDS?.
- Phần “Tiểu dẫn”:
Ở phần tiểu dẫn, các chuyên gia soạn sách cung cấp tương đối đầy đủ những
thông tin cơ bản, cần thiết về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Hoàng Phủ Ngọc
Tường.
Khi đánh giá về phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường, các
chuyên gia soạn sách đã nhận định: Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những nhà
văn chuyên về bút kí. Nét đặc sắc trong các sáng tác của ông là ở sự kết hợp nhuần
nhuyễn giũa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều
được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí,…Tất
cả thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. AĐĐTCDS? là
Những hình ảnh, chi tiết, những liên tưởng và thủ pháp nghệ thuật nào cho thấy nét
riêng trong lối viết kí của tác giả?
Câu hỏi 2: Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố
bộc lộ những phẩm chất nào trong ngòi bút của tác giả? Hiệu quả thẩm mĩ của lối viết
đó?
Câu hỏi 3: Sông Hương khi chảy vào thành phố Huế có nét đặc trưng gì? Phát
hiện của tác giả về nét riêng biệt của dòng sông cho thấy những điều gì trong tình cảm
của tác giả với xứ Huế và với dòng sông?
Câu hỏi 4: Tác giả đã tô đậm những phẩm chất gì của sông Hương trong lịch sử
và thơ ca? Phân tích cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện của tác giả.
Câu hỏi 5: Qua đoạn trích, anh (chị) có nhận xét gì về nét riêng trong văn
phong của tác giả?
Có thể nhận thấy, 5 câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài chỉ tập trung giúp
học sinh nắm được bố cục của đoạn trích. Từ đó, tìm hiểu trong từng phần của đoạn
trích nét đặc sắc về nội dung của bài bút kí và phong cách tác giả trên các bình diện:
Cảm xúc và suy tư, giọng điệu, hình ảnh và ngôn ngữ. Các tri thức văn hóa kết tinh
trong đoạn trích chưa được xem trọng và nhấn mạnh.
- Phần ghi nhớ:
Sau khi dạy học đoạn trích AĐĐTCDS?, giáo viên cần khắc sâu các kiến thức
quan trọng trong phần ghi nhớ cho học sinh:
Đoạn trích bài bút kí AĐĐTCDS? là đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về
sông Hương.
19
Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của đoạn văn là những xúc cảm sâu lắng được
tổng hợp từ một vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương
cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa.
1.2.2.2. Khảo sát thực trạng dạy đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
của giáo viên (khảo sát 10 giáo viên dạy văn 12)
Câu 1: Thầy cô đã từng đọc toàn bộ tác phẩm AĐĐTCDS? của Hoàng Phủ
Ngọc Tường chưa?
A. Quan trọng: 2/10 phiếu, chiếm 20%
B. Bình thường: 6/10 phiếu, chiếm 60%
C. Ít quan trọng: 2/10 phiếu, chiếm 20%
D. Không quan trọng: 0/10 phiếu, 0%
Câu 7: Thầy cô được đánh giá như thế nào về bài giảng của mình khi dạy đoạn
trích AĐĐTCDS??
A. Tốt: 2/10 phiếu, chiếm 20%
B. Khá: 4/10 phiếu, chiếm 40%
C. Trung bình: 6/10 phiếu, chiếm 60 %
D. Yếu: 0/10 phiếu, chiếm 0%
Câu 8: Nếu cần khắc sâu vẻ đẹp văn hóa trong đoạn trích AĐĐTCDS?, thầy cô
chú ý đến yếu tố văn hóa nào?
A. Các địa danh văn hóa của Huế: 2/10 phiếu, chiếm 20%
B. Các vẻ đẹp văn hóa truyền thống của Huế: 3/10 phiếu, chiếm 30 %
C. Hình ảnh con người xứ Huế: 2/10 phiếu, chiếm 20 %
D. Thiên nhiên Huế: 5/10 phiếu, chiếm 50%
Qua 8 câu hỏi trong phiếu khảo sát thực tế dạy học đoạn trích AĐĐTCDS? của
giáo viên dạy lớp 12 ở trường THPT Võ Trường Toản, THPT Sông Ray, THPT Xuân
21
Mỹ, chúng tôi nhận thấy phần lớn quí thầy cô đều có tinh thần tốt trong việc soạn
giảng; 100% giáo viên đã có tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau nhằm mục đích
làm cho bài giảng của mình sâu sắc hơn; 50% giáo viên có sử dụng các phương tiện
trực quan nhằm làm phong phú hơn cho bài giảng của mình; 70% chú ý đến mục tiêu
cần đạt khi giảng dạy đoạn trích AĐĐTCDS?; 20% giáo viên có cố gắng trong việc
khắc sâu các tri thức văn hóa được kết tinh trong đoạn trích. Tuy nhiên, bên cạnh
những giáo viên tâm huyết, có sự đầu tư cao trong bài dạy của mình, vẫn còn một số
giáo viên chưa thật sự đầu tư nhiều cho việc soạn giảng và tổ chức giảng dạy đoạn
trích AĐĐTCDS?: 20% giáo viên chưa từng đọc hết tác phẩm AĐĐTCDS? vì cho là
không cần thiết; 70% giáo viên không đầu tư nhiều cho soạn giáo án, sao chép giáo án
trên mạng hoặc của các đồng nghiệp khác để đối phó với tổ trưởng, Ban giám hiệu, và
D. Không lưu ý gì: 15/ 150 phiếu, chiếm 10%
Câu 5: Khi học đoạn trích AĐĐTCDS?, em chú ý đến yếu tố văn hóa nào?
A. Các địa danh văn hóa của Huế: 20/150 phiếu, chiếm 13,3%
B. Vẻ đẹp của người con gái Huế: 10/150 phiếu, chiếm 6,7%
C. Vẻ đẹp của lễ hội, âm nhạc Huế: 10/ 150 phiếu, chiếm 6,7 %
D. Không chú ý: 110/150 phiếu, chiếm 73,3%
Câu 6: Đánh giá của em khi học đoạn trích AĐĐTCDS??
A. Đặc sắc: 20/150 phiếu, chiếm 13,4 %
B. Hay: 30/ 150 phiếu, chiếm 20%
C. Bình thường: 50/150 phiếu, chiếm 33,3%
D. Dài : 50/150 phiếu, chiếm 33,3%
Câu 7: Khi học đoạn trích này em có thích cách dạy của thầy cô không?
A. Có: 50/150 phiếu, chiếm 33,3 %
B. Có nhưng tùy phần: 30/150 phiếu, chiếm 20%
C. Không : 30/150 phiếu, chiếm 20%
D. Bình thường: 40/150 phiếu, chiếm 26,7%
23
Câu 8: Em mong muốn thầy cô thay đổi điều gì trong quá trình dạy học đoạn
trích AĐĐTCDS??
A. Không đọc chép quá nhiều: 30/150 phiếu, chiếm 20%
B. Sử dụng phương tiện trực quan: 50/150 phiếu, chiếm 33,3%
C. Tăng cường hoạt động của học sinh: 60/150 phiếu, chiếm 40%
D. Không cần thay đổi: 10/150 phiếu, chiếm 6,7 %
Qua 8 câu hỏi khảo sát thực tế việc học đoạn trích AĐĐTCDS? của học sinh 12
ở trường THPT Võ Trường Toản, chúng tôi nhận thấy: hầu hết các em học sinh đều
có tinh thần tốt trong việc soạn bài ở nhà. 67% học sinh tự giác soạn bài và tham khảo
các tài liệu mà giáo viên hướng dẫn, trong đó có 33% học sinh soạn bài kĩ và có ý
thức học tập tốt. Về kiến thức, 70% học sinh nắm được kiến thức cơ bản của bài học.
13% học sinh có lưu ý đến các tri thức văn hóa của đoạn trích. 50% học sinh có hứng
thú, yêu thích khi tiếp nhận đoạn trích. Tuy thế, còn nhiều học sinh chưa tích cực và ý
hiện nay, chúng tôi nhận thấy cần phải tổ chức cho học sinh tiếp nhận đoạn trích theo
hướng tiếp cận văn hóa, nhằm giúp học sinh có thể khám phá vẻ đẹp đa chiều của tác
phẩm đồng thời, thông qua việc tiếp nhận đoạn trích, HS còn nắm bắt được nhiều tri
thức văn hóa bổ ích. Hơn thế nữa, giáo viên cũng phát huy được tính tích cực chủ
động sáng tạo của HS trong tiếp nhận tác phẩm văn học, nâng cao hiệu quả dạy và
học môn Ngữ văn.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Nó là cội nguồn,
là động lực phát triển của toàn thể cộng đồng, của bản thân mỗi cá nhân. Nơi nào
càng có bề dày văn hóa thì nơi đó càng có khả năng khẳng định vị thế, sức mạnh của
mình. Văn hóa tồn tại ở dạng hữu hình: đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm, danh lam
thắng cảnh,… hoặc vô hình: tình cảm, tâm hồn, cách nghĩ, lối sống,… của con người.
Nó có chức năng giáo dục nhằm hoàn thiện con người và xã hội theo chuẩn mực Chân
– Thiện – Mĩ.
Đoạn trích AĐĐTCDS? có rất nhiều yếu tố văn hóa. Đây chính là những yếu tố
làm nên hương sắc riêng, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. Nó giúp học sinh trau dồi
những kiến thức văn hóa cần thiết làm hành trang cho cuộc sống của mình. Vì vậy,
khi dạy đoạn trích AĐĐTCDS?, giáo viên phải định hướng cho học sinh tìm và giải
mã các yếu tố văn hóa có trong đoạn trích.
1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu yếu tố văn hóa liên quan đến đoạn trích
trong phần tiểu dẫn
Với công trình: “Nghĩ từ công việc dạy văn”, nhà giáo Đỗ Kim Hồi cho rằng:
“Trong Sách giáo khoa Văn, các phần tiểu dẫn, chú thích chỉ được in bằng chữ nhỏ.
Hẳn không mấy giáo viên có thể không nhờ cậy vào các chú dẫn trong sách mà vẫn
dạy nổi, dạy tốt mọi tiết giảng văn. Còn đối với học sinh, những hàng chữ nhỏ lại
chính là lời giảng giải của người hướng dẫn lớn, chúng làm cho các em có điều kiện
thân quen với những áng văn vốn xa lạ với bản thân nhiều mặt”[9].
Vì vậy, những tri thức ngoài văn bản trong phần tiểu dẫn là rất quan trọng và
cần thiết cho quá trình tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm văn chương.
25