Vận dụng lý thuyết trường nghĩa dạy học đọc hiểu đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÂM THỊ HẢO

VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TRƢỜNG NGHĨA VÀO DẠY - HỌC ĐỌC
HIỂU ĐOẠN TRÍCH “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ?” CỦA
HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG (NGỮ VĂN LỚP 12, TẬP 1)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2013


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÂM THỊ HẢO

VẬN DỤNG LÍ THUYẾT TRƢỜNG NGHĨA VÀO DẠY - HỌC ĐỌC
HIỂU ĐOẠN TRÍCH “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ?” CỦA
HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG (NGỮ VĂN LỚP 12, TẬP 1)



i


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHSP:

Đại học sư phạm

ĐHQGHN:

Đại học quốc gia Hà Nội

GV:

Giáo viên

HS:

Học sinh

Nxb:


1.2.1. Thực tiễn dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở trường THPT Nguyễn Đăng
Đạo ..................................................................................................................... 30
1.2.2. Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” ở trường THPT ....................................................................................... 33
Chƣơng 2: TRƢỜNG NGHĨA VÀ VIỆC PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH “AI
ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC
TƢỜNG...............................................................................................................38
2.1. Khả năng phân tích đoạn trích dựa trên lý thuyết trường nghĩa ...................38
2.2. Khảo sát và thiết lập các trường nghĩa chính trong đoạn trích “Ai đã đặt tên
cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường .................................................. 41
2.2.1. Trường nghĩa về hình tượng sông Hương ................................................ 41
2.2.2. Trường nghĩa về hình tượng tác giả ......................................................... 56
2.3. Phân tích các hình tượng dựa trên cơ sở của trường nghĩa ......................... 57
2.3.1. Hình tượng sông Hương ........................................................................... 57
2.3.2. Hình tượng tác giả .................................................................................... 69

iii


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
2.4. Phương hướng dạy – học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường dựa trên lý thuyết trường nghĩa ............... 75
2.4.1. Yêu cầu khái quát về chuẩn bị kiến thức cho giờ đọc hiểu văn bản ........ 76
2.4.2. Hướng dẫn dạy học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

Bảng 2.10. Bảng khảo sát hệ thống từ ngữ thuộc trường nghĩa về văn hóa.........82
Bảng 2.11. Khảo sát hệ thống từ ngữ thuộc trường lịch sử..................................83
Bảng 3.1. Bảng điều tra lớp đối chứng.................................................................88
Bảng 3.2. Bảng điều tra kết quả thực nghiệm của lớp đối chứng......................107
Bảng 3.3. Bảng điều tra kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm..................107

v


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

vi


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Đã từ lâu, ngôn ngữ và văn bản văn học luôn có mối quan hệ mật thiết gắn
kết với nhau. Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản tạo nên văn bản văn học và ngược lại
văn bản văn học muốn tồn tại lâu dài trong kí ức người tiếp nhận thì phải nhờ
vào dấu ấn của hệ thống ngôn ngữ. PGS.Đinh Trọng Lạc trong bài viết “Về sự
phân tích ngôn ngữ tác phẩm văn học trong nhà trường” đã khẳng định: “Ngôn
ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên
những hình tượng diễn đạt tư tưởng, nghệ thuật. Nếu học sinh tri giác và nhận

trong một lớp, giữa các từ trong một nhóm. Khi đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa
từ vựng, trường nghĩa còn cho ta nhìn nhận một cách hệ thống về quá trình phát
triển nghĩa của từ và việc phân tích các hình tượng văn học. Đây là hướng
nghiên cứu rất có ích đối với việc tìm hiểu nghĩa của từ trong văn bản đặc biệt
giúp cho chúng ta có cơ sở vững vàng để lý giải các hiện tượng ngữ nghĩa trong
văn bản, nhanh chóng giải mã được những giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác
phẩm một cách hợp lí và logic. Đặc biệt, lý thuyết trường nghĩa giúp chúng ta
phát hiện ra những quy tắc chi phối sự vận động của từ trong lịch sử và trong
hoạt động thực tiễn chức năng.
Trường nghĩa là khái niệm được quan tâm nhiều trong truyền thống ngôn
ngữ học trong nước và nước ngoài, song hầu như ít được đề cập đến trong chương
trình dạy Ngữ văn nói chung và dạy Tiếng Việt nói riêng ở nhà trường phổ thông.
Từ sau những năm 2000, với những thay đổi nhất định trong chương trình dạy - học
Ngữ văn, khái niệm trường nghĩa và những vấn đề có liên quan mới được đưa vào
giảng dạy ở phổ thông và trực tiếp là ở Trung học cơ sở (lớp 8). Việc đưa trường
nghĩa vào dạy học ở nhà trường phổ thông là một biểu hiện quan trọng, hướng việc
dạy tiếng đến rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn mới được đưa vào chương trình phổ
thông (lớp 12). Đây là nhà văn lớn, với một trước tác đồ sộ, trong đó có thành
tựu đáng kể về thề kí. Ông là một cây bút viết kí thành công của văn học đương
đại, là thế hệ kế thừa rất sáng tạo của những cây đại thụ kí nghệ thuật Việt Nam
từ sự khởi đầu xuất sắc của Lê Hữu Trác đến Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Thạch
Lam... Bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” là một trong những áng văn xuất
sắc nhất của ông, từng được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là “một trong mấy
nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay”. Đây là một tác phẩm hay, tiêu
2


biểu cho phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Về phương pháp
giảng dạy tác phẩm này đã được tìm hiểu trong một số công trình nghiên cứu.

kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Meyer đã xuất bản một công trình nghiên cứu và đi đến kết luận rằng mỗi thuật
ngữ chỉ xác định được giá trị theo vị trí trong toàn hệ thống của nó. Và sau này,
những nguyên lý của F.De Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”
– xuất bản năm 1973 mới chính là cơ sở hình thành nên lý thuyết các trường, ông
cho rằng “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy
định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra
những yếu tố mà nó chứa đựng” [4, tr.244].
Ở Đức, lí thuyết về trường nghĩa gắn với tên tuổi của J. Trier và L.
Weisgerber. Hai ông là đại diện của phái Humboldt mới trong ngữ nghĩa học, là
phái chủ trương phân chia từ vựng của ngôn ngữ bị quy định bởi hình thái bên
trong của ngôn ngữ. Trier đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa
học trong việc thử nghiệm quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa.
Ở Việt Nam, lí thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây, nhà
ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên vận dụng lí thuyết này vào việc
nghiên cứu tiếng Việt. Dựa trên cơ sở của những người đi trước, ông đã đưa ra
những vấn đề cơ bản về trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng. Các công
trình nghiên cứu về ngôn ngữ của ông, phải kể đến như “Cơ sở ngữ nghĩa từ
vựng – NxbGD,1998), “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt – NxbGD, 1999)…ngoài
ra, còn một số tạp chí như: “trường từ vựng – ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ
trong tác phầm nghệ thuật”, “Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ
vựng”, “nhận xét về tính loại biệt và khái quát của từ tiếng Việt”…Sau này, tiếp
nối thành tựu đó, một số nhà ngôn ngữ lại tiếp tục phát triển và nghiên cứu sâu
hơn, cụ thể hơn như : Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Bùi Minh Toán,
Đỗ Việt Hùng…Đặc biệt, năm 2010 nhà ngôn ngữ học PGS.TS. Đỗ Việt Hùng,
đã đưa ra “Một số khía cạnh ứng dụng trường nghĩa trong hoạt động giao tiếp”;

Phủ Ngọc Tường để chỉ ra giá trị của hệ thống trường nghĩa trong việc thể hiện
tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
5


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra mối quan hệ giữa văn bản văn học và hệ thống từ ngữ xét từ góc độ
trường nghĩa. Góp phần khẳng định hiệu quả dạy học đọc hiểu văn bản văn học
từ góc độ trường nghĩa. Đồng thời kết hợp với các phương pháp khác giúp cho
việc nghiên cứu dạy học đọc hiểu văn bản được chỉnh thể và hoàn thiện hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hệ thống trường nghĩa.
- Nghiên cứu cụ thể các trường nghĩa có trong tác phẩm.
- Xây dựng giáo án cụ thể, chi tiết.
- Thực nghiệm tại hai lớp – 12A4 và 12A7 trường THPT Nguyễn Đăng Đạo –
Tiên Du – Bắc Ninh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dạy học đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” (Hoàng Phủ Ngọc
Tường) từ lý thuyết trường nghĩa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Trường nghĩa
Trong hệ thống ở trạng thái tĩnh, các đơn vị từ vựng không tồn tại tách biệt,
rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định. Điều đó làm cho từ vựng
không thuần túy chỉ là tập hợp ngẫu nhiên các từ và đơn vị tương đương với từ,
mà còn là một hệ thống với những mối quan hệ nhất định. Một trong những mối
quan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về nghĩa giữa
các đơn vị từ vựng. Các từ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm
được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng, hoặc trường từ vựng – ngữ
nghĩa) [10, tr.187].
1.1.1.1. Quan niệm trường nghĩa
Lý thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây. Tư tưởng cơ
bản của lý thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống. Do vậy, có rất
nhiều cách hiểu khác nhau về trường nghĩa, trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” của
Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) cho rằng có hai khuynh hướng chủ yếu:
Khuynh hướng thứ nhất quan niệm “Trường nghĩa là toàn bộ các khái
niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện” [20, tr.109]. Đại diện cho khuynh
hướng này là L. Weisgerber và J. Trier.
Lý thuyết trường nghĩa của J. Trier phù hợp với luận điểm của Weisgerber
về sự tồn tại trong ngôn ngữ những phạm vi khái niệm được tổ chức một cách hệ
thống. Lý thuyết trường nghĩa xuất phát từ những tiền đề của trường phái W.
Humbold mới và phần nào từ những tư tưởng của F.Sausure về tính hệ thống của
ngôn ngữ và những phương pháp kết cấu trong việc nghiên cứu mối quan hệ
giữa các yếu tố ngôn ngữ. Theo quan niệm của J. Trier và những người kế tục
ông, mặt nghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ, được phân chia ra thành
8



Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
người biên soạn từ điển. Đặc biệt người ta cũng coi là trường nghĩa cả những kết
cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa
nghĩa thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa.
Toàn bộ các nghĩa khác nhâu của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất.
Tuy nhiên, lý thuyết trường nghĩa này lại xuất phát từ những tư tưởng của
F. de. Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ đặc biệt là về quan hệ liên tưởng
và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ. Chính ông đã phát hiện ra “Hầu hết các
đơn vị của ngôn ngữ đều dựa vào những cái bao quanh nó” [27, tr.245]. Và “ Cái
toàn thể có giá trị là do cái bộ phận của nó và cái bộ phận cũng có giá trị cũng lại
nhờ vị trí của nó trong toàn thể. Mỗi đơn vị có thể ví như một cái cột trong một
ngôi nhà” [27, tr.245].
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, lý thuyết này bắt đầu được giới thiệu
vào Việt Nam mà người khởi đầu là GS. Đỗ Hữu Châu. Trên cơ sở tiếp thu các
thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài , các nhà nghiên cứu Việt Nam
đã đưa ra những quan điểm về khái niệm trường nghĩa. GS. Đỗ Hữu Châu cho
rằng: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét
đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” [5, tr.35]. Có thể nói cách hiểu này đã khái quát
được nét chung nhất tiêu biểu về đặc điểm của trường nghĩa.
1.1.1.2. Phân loại trường nghĩa
Để chỉ ra tính hệ thông của ngôn ngữ, F. De Sausure trong “Giáo trình
ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng
loại của ngôn ngữ, đó là – quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến
tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình).

tính nhiều nghĩa biểu vật, dó đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác
nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu
vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phân biệt các trường
biểu vật chính và trường biêu vật phụ của từ. Nếu nghĩa chính của từ nằm trong
11


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của nó. Các trường biểu vật có
thể thẩm thấu vào nhau giao thoa với nhau. Hai trường biểu vật giao thoa với
nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia. Căn cứ vào số
lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít mà chúng ta nói đến tính độc lập,
tương đối nhiều hay ít giữa hai trường.
+ Trường nghĩa biểu niệm:
Trường biểu niệm chính là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm.
Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành
các trường nhỏ và cũng có các miền với mật độ khác nhau. Các trường biểu niệm
có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các
từ điển hình cà những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi.
Để xác lập trường biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ
sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó.
Khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm,
song khi phân nhỏ chúng ra phải sử dụng đến nét nghĩa biêu vật.
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường. Nhưng,

Cơ sở của sự chuyển biến ý nghĩa của từ chính là quy luật tiết kiệm của
ngôn ngữ. Ngôn ngữ có một quy luật tiết kiệm vô cùng kì diệu: dùng cái hữu hạn
để nói cái vô hạn. Quy luật này thể hiện ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp. Ở ngữ âm, với vài chục âm vị, bằng cách kết hợp khác nhau có thể tạo nên
một số từ vựng rất lớn các âm tiết. Trong ngữ pháp, với một số từ hữu hạn, có
thể tạo ra các câu biểu niệm toàn bộ thế giới tư tưởng phong phú và đa dạng của
con người. Về mặt từ vựng, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ.
Cùng một hình thức ngữ âm có thể diễn đạt những nội dung khác nhau. Vì vậy
hiện tượng đa nghĩa được xem là một trong những quy luật có tính phổ quát của
ngôn ngữ.

13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Từ nhiều nghĩa được xem là một quy luật khách quan của quá trình ngôn
ngữ, nó là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ.
Trong quá trình chuyển nghĩa có những biến đổi ngữ nghĩa mang tính lâm
thời, tức là chỉ sử dụng một lần trong một bối cảnh giao tiếp nhất định. Song
cũng có những sự biến đổi ngữ nghĩa có tính chất ổn định. Trong nhiều trường
hợp, chúng ta có thể lý giải được quan hệ giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ.
Theo GS. Đỗ Hữu Châu: “Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo lối
tỏa ra nghĩa là các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện” [3,
tr.147]. Sự chuyển biến ý nghĩa trong mọi lĩnh vực đặc biệt là trong ngôn ngữ

trưng tư duy văn hóa khác nhau của mỗi dân tộc.
Như vậy có thể khẳng định sự chuyển nghĩa của từ không chỉ đáp ứng
được nhu cầu phong phú của hoạt động giao tiếp mà còn làm tăng khả năng diễn
đạt, tăng sức biểu cảm của ngôn ngữ. Việc dùng từ ngữ theo lối chuyển nghĩa
một cách hợp lý cũng góp phần chứng tỏ vốn ngôn ngữ dồi dào, khả năng vận
dụng vốn từ vựng chung một cách linh hoạt và năng lực sáng tạo của từng nhà
văn.
1.1.1.3. Các phương thức chuyển nghĩa
Phương thức chuyển nghĩa là phương pháp và cách thức mà dựa vào đó ta
có thể thực hiện việc chuyển nghĩa cho từ, tăng thêm cho từ ý nghĩa mới hay đơn
giản hơn đó là cách làm cho từ vốn dùng với nghĩa này chuyển sang dùng với
nghĩa khác. Từ vựng là một hệ thống bị chi phối bởi những quy luật chung và
riêng cho nên ý nghĩa của từ có thể chuyển biến do tác động của nhiều quy luật
đan xen.
Trong cuốn „Từ vựng học tiếng Việt” (Nxb ĐHSP. 2004), GS. Đỗ Hữu
Châu, và “Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ” của PGS.TS. Đỗ Việt Hùng đã đưa ra
hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong mọi ngôn ngữ đó là ẩn dụ và hoán
dụ. Các ẩn dụ, hoán dụ ngôn ngữ là các phương thức để tạo ra nghĩa mới, nghĩa
15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
cố định của đơn vị từ vựng, tức là các phương thức tạo ra hiện tượng nhiều nghĩa
ngôn ngữ. Trong khi đó, các ẩn dụ, hoán dụ tu từ cũng tạo ra nghĩa mới cho các

chứa đựng được dùng để gọi những cái nằm trong nó.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từ nguyên liệu.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng dụ với người sử dụng
- Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và chất lượng được chứa đựng.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng tên gọi của cơ quan
đực dùng để gọi cho các chức năng.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế: tên gọi tư
thế được dùng để chỉ hành động hoặc tình trạng tâm lí, sinh lí đi kèm.
- Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: tiếng động do hoạt động gây ra
được dùng để gọi tên động tác.
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ: tên gọi của hoạt động
được dùng để gọi tên công cụ.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất.
Trong trường hợp này cả hai đều là động từ.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên liệu đó.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ sự vật và màu sắc.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật.
Như vậy, xét về bản chất, ẩn dụ và hoán dụ đều là chuyển tên gọi của sự
vật, hiện tượng hoặc tính chất, khái niệm này bằng tên một sự vật hiện tượng,
tính chất, khái niệm khác dựa trên mối quan hệ nhất định giữa các sự vật, hiện
tượng và tính chất ấy. Tuy nhiên, ẩn dụ khác hoán dụ là ở chỗ ẩn dụ dựa trên sự
tương đồng nào đó giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng. Còn hoán dụ là dựa trên
những nét gần gũi với nhau giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status