dạy học đoạn trích người lái đò sông đà của nguyễn tuân và ai đã đặt tên cho dòng sông của hoàng phủ ngọc tường theo cá tính sáng tạo của nhà văn - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HỒNG LAM

DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”
CỦA NGUYỄN TUÂN VÀ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?”
CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
THEO CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN THANH HÙNG
THÁI NGUYÊN – 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Lời cảm ơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thanh Hùng- Ngƣời
đã hƣớng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại
học Trƣờng đại học sƣ phạm- Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn bạn bè, ngƣời thân đã tạo điều
kiện cho tôi trong suốt thời gian qua. Tác giả luận văn

NguyễnThị Hồng Lam


Chương 2. Tiếp cận đoạn trích “Người lái đò sông Đà”
và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” theo cá tính sáng tạo
của nhà văn. 23
2.1. Cá tính sáng tạo của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường 23
2.1.1. Nguyễn Tuân – Cây bút tài hoa và độc đáo 23
2.1.2. Hoàng Phủ Ngọc Tường – ngòi bút suy tư đầy
chất thơ 42
2.2. Tiếp cận đoạn trích “Người lái đò sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” theo cá tính sáng tạo của nhà văn 53
2.2.1. Nguyên tắc, cách thức, nội dung tiếp cận 53
2.2.2. Tiếp cận đoạn trích “Người lái đò sông Đà” 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

2.2.3. Tiếp cận đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” 61
2.3. So sánh hai đoạn trích “Người lái đò sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho
dòng sông?” 68
Chương 3. Thiết kế giáo án và thể nghiệm sư phạm 72
3.1. Thực tế dạy học hai tác phẩm kí ở trường phổ thông 72
3.2. Thiết kế giáo án hai đoạn trích 76
3.2.1. Mục đích thiết kế 76
3.2.2. Nội dung thiết kế 76
3.2.3. Soạn giáo án 76
3.2.3.1. Giáo án “Người lái đò sông Đà” 76
3.2.3.2. Giáo án “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” 89
3.3. Thể nghiệm sư phạm 102
KẾT LUẬN 104
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109

2
Cận, quê mùa nhƣ Nguyễn Bính, kỳ dị nhƣ Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực,
băn khoăn nhƣ Xuân Diệu”[38,Tr 37]. Có thể nói cá tính sáng tạo của nhà văn
không chỉ có ý nghĩa quan trọng với bản thân nhà văn mà còn góp một viên gạch
quý xây nên lâu đài văn học của một quốc gia dân tộc.
Cá tính sáng tạo của nhà văn thể hiện trong mọi loại hình văn học. Ở thể
loại ký, các tác giả không xây dựng cốt truyện hư cấu. Yếu tố hư cấu tuy có
nhưng được sử dụng với liều lượng phù hợp nhằm đảm bảo tính khách quan có
thật của đối tượng phản ánh. Do vậy, ở thể loại văn học này, cái tôi tác giả thể
hiện trực tiếp nhất, từ ngôn ngữ, giọng điệu đến thế giới quan, nhân sinh quan.
Cho nên, cá tính sáng tạo của nhà văn cũng được thể hiện trực tiếp nhất. Đấy
chính là điểm độc đáo của các tác phẩm kí. Cá tính sáng tạo của nhà văn thể hiện
trước hết ở cái nhìn độc đáo mới mẻ của nhà văn về con người và các hiện tượng
đời sống. Đó không phải chỉ là phát hiện ra vấn đề mới mà còn là cái nhìn mới
về một vấn đề đã cũ, hoặc là sự lý giải cuộc sống từ một khía cạnh khác. Bởi vậy
trước cùng một đối tượng, mỗi kí giả có thể phát hiện ra những ý nghĩa mới mẻ
khác nhau. Trong quá trình dạy học tác phẩm, giáo viên và học sinh không chỉ
tìm hiểu đối tượng được phản ánh mà còn tìm ra cái riêng của mỗi tác giả, phát
hiện ra cá tính sáng tạo của người viết.
Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều là những tác giả thành danh
từ loại thể kí. Đây cũng là hai kí giả xuất sắc uyên bác, tài hoa và độc đáo. Cả hai
đều có tác phẩm trong sách giáo khoa trung học phổ thông: Người lái đò sông
Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc
Tường. Hai bài kí vừa có điểm tương đồng vừa có những nét khác biệt. Khi dạy
học nên có sự so sánh để làm rõ cái chung và cái riêng. Từ đó làm nổi bật cá tính
sáng tạo của từng nhà văn. Dạy học theo hướng này phù hợp với tính tích hợp
của sách giáo khoa, đúng đặc trưng loại thể, đồng thời giúp học sinh khắc sâu ấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


gi i sõu vo c hiu on trớch theo 5 c trng: V phng thc th hin, v
i tng nhn thc thm m, v ni dung, v kt cu, v ngụn ng. ti ó
chỳ ý khai thỏc v p ca sụng Hng v ch ra nhng nột c sc v ngh thut
ca tỏc phm. Chuyờn dy hc ng vn 12 :Ai ó t tờn cho dũng sụng?
ca Thc s Lờ Th Hng ó cp khỏ ton din t c trng th loi kớ , c
im kớ Hong Ph Ngc Tng, cỏc vn v ni dung, ngh thut ca on
trớch n giỏo ỏn dy hc on trớch ny. c bit tỏc gi ó ch ra cỏi tụi
Hong Ph Ngc Tng. Tc l ó chỳ ý n cỏ tớnh sỏng to ca nh vn.Ngoài
ra còn có Về việc giảng dạy thể kí và kí của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng của Lê
Trà My, Dạy học tác phẩm kí trong SGK Ngữ văn mới THPT của Lê Sử. õy
l mt ti liu tham kho b ớch v thit thc vi mi giỏo viờn. Nh vy cựng
vi vic bỏm sỏt c trng th loi cỏc tỏc gi u chỳ ý nờu bt nhng nột c
sc ca tỏc phm v phong cỏch tỏc gi, õy cng l mc tiờu ca gi dy hc tỏc
phm trong nh trng. Tuy nhiờn hc sinh cn cú cỏi nhỡn so sỏnh liờn h
nhn thc sõu sc hn v hai tỏc phm, hai tỏc gi cựng ni danh v mt loi th
vn hc. Vi ti dy hc hai on trớch theo cỏ tớnh sỏng to ca nh vn
chỳng tụi hy vng giỳp hc sinh hiu rừ cỏ tớnh sỏng to ca tng nh vn, tỡm ra
nhng im tng ng v khỏc bit gia hai tỏc phm cng nh hai ngi cha
tinh thn ca chỳng.
3. i tng v phm vi ca ti.
3.1. i tng ca ti.
i tng nghiờn cu ca ti l dy hc hai on trớch Ngi lỏi ũ
sụng ca Nguyn Tuõn v Ai ó t tờn cho dũng sụng ? ca Hong Ph
Ngc Tng theo cỏ tớnh sỏng to ca nh vn .
3.2. Phm vi ca ti
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu và chỉ ra những biểu hiện cơ bản
của cá tính sáng tạo của từng nhà văn. Áp dụng vào dạy học hai đoạn trích.


B. NỘI DUNG
Chương 1
ĐẶC TRƯNG LOẠI THỂ KÍ VÀ CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ VĂN.
1.1. Đặc trưng loại thể kí
Loại hình kí được phân biệt thành kí báo chí và kí văn học. Cả hai loại kí
này đều có đặc trưng về tính xác thực của đối tượng phản ánh. Nguyễn Xuân
Nam trong Từ điển văn học khẳng định: “Tính chính xác tối đa là đặc trƣng
cơ bản của kí” . Tuy nhiên giữa chúng cũng có những điểm khác nhau. Nếu kí
báo chí nhằm thông tin về cái mới, cái thời sự thì kí văn học nhằm phản ánh cái
hay cái đẹp và những giá trị, những ý nghĩa xã hội thẩm mỹ của con người. Nếu
kí báo chí chú ý đến những thông tin có tính thời sự, có khi cập nhật đến từng
phút thì kí văn học lại hướng đến những thông tin mang tính thẩm mỹ (nhưng
cũng không bỏ qua tính thời sự của thông tin). Kí báo chí chọn phương thức diễn
đạt ngắn gọn, rõ ràng dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, ngôn từ thiên về thông báo và chú
ý đến sự chính xác cụ thể của thông tin về con người, sự việc, sự kiện, thời gian,
địa điểm. Kí văn học chú trọng chức năng thẩm mỹ. Từ chất liệu hiện thực, các
kí giả dùng ngôn từ giầu hình ảnh, cảm xúc xây dựng nên những hình tượng
nghệ thuật vừa mang đậm dấu ấn cuộc sống, vừa chứa đựng quan niệm thẩm mỹ
của nhà văn. Do vậy kí văn học có những đặc trưng riêng biệt của nó. Sau đây
chúng tôi xin đi sâu vào những đặc trưng của kí văn học.
1.1.1. Khái niệm.
“Kí là một lĩnh vực văn học, trong đó sự thực đời sống cùng suy nghĩ tình
cảm thực của tác giả đóng vai trò cơ sở, để trên đó nhà văn phát huy vai trò suy
nghĩ, tƣởng tƣợng, nghị luận, trữ tình một cách tự do, phóng khoáng”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
1.1.2. Đặc trưng loại thể kí.
1.1.2.1. Đối tƣợng phản ánh.

đạo nhưng nó làm cho sự kiện, sự việc, con người trong kí mang ý nghĩa tư
tưởng nghệ thuật nhiều hơn. Những người thật việc thật trong kí có ý nghĩa điển
hình, sự thật về chúng có ý nghĩa sâu rộng hơn tính thời sự của chúng, có thể tác
động nhiều mặt đến người đọc.
Thông thường, mỗi kí giả có mảnh đất riêng của mình. Đó là mảng hiện
thực mà họ am hiểu nhất. Do phải đảm bảo tính xác thực, ít được sử dụng hư cấu
nên người viết kí phải có vốn hiểu biết sâu rộng, chính xác về đối tượng phản
ánh. Kí giả hàng đầu của Việt Nam- Nguyễn Tuân, trước cách mạng thường viết
về những người tài hoa, tài tử, về chính mình và những thú vui tao nhã thanh
cao. Sau cách mạng ông dành hẳn tập tùy bút Sông Đà để viết về vùng đất Tây
Bắc. Tiếp đó là Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi chủ yếu nhằm vào giặc lái Hoa Kỳ .
Trong khi đó Hoàng Phủ Ngọc Tường lại viết nhiều về Huế và được coi là nhà
văn của xử Huế. Tiếp xúc với những trang kí là tiếp xúc với những trang tư liệu
trung thực, chính xác. Đó là kho tri thức của người viết.
Tóm lại: Đối tượng phản ánh trong kí luôn có tính xác thực và tính thẩm
mỹ. Đó không phải là bức ảnh nguyên dạng về nó mà trở thành biểu tượng nghệ
thuật. Sự kiện, con người trong kí chân thực, chính xác, có sức truyền cảm làm
rung động trái tim người đọc. Điều đó làm tác phẩm kí có giá trị nhận thức và có
sức thuyết phục cao. Sự hòa quyện giữ tính xác thực và tính thẩm mỹ khiến
nhiều tác phẩm kí vừa có giá trị nghệ thuật vừa là tư liệu lịch sử quý giá.
1.1.2.2. Hình tƣợng tác giả.
- Khái niệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
“Hình tƣợng tác giả là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai
trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm ”[9,Tr149]. Hình tượng
tác giả có cơ sở tâm lý là hình tượng cái “tôi” có trong nhân cách mỗi người và
được thể hiện trong giao tiếp. Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả là tính
chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật, văn bản tác phẩm, là lời của người trần

theo những định hướng nào đó.
Nhìn chung, trong tác phẩm kí hình tượng tác giả thường xuất hiện như
điểm nhìn trung tâm, gắn kết, nhận xét, đánh giá các chi tiết, sự việc của đời
sống. Cái tôi tác giả thường trực tiếp giao tiếp với bạn đọc dẫn dắt họ thâm nhập
vào cuộc sống.
Là hình tượng trung tâm của thế giới nghệ thuật, hình tượng tác giả thường
bộc lộ rõ lập trường tư tưởng của nhà văn về một hoặc một số hiện tượng nào đó
của cuộc sống. Với nhiệt tình thuyết phục trong trình bày, phân tích, cắt nghĩa, lý
giải các hiện tượng đời sống, hình tượng tác giả là cơ sở làm cho kí có sức giác
ngộ, động viên, giáo dục mạnh mẽ.
1.1.2.3. Cốt truyện, kết cấu của kí.
Về cốt truyện
- Có hai cách hiểu về cốt truyện (theo Từ điển thuật ngữ văn học).
Thứ nhất: Cốt truyện là “hệ thống sự kiện cụ thể, đƣợc tổ chức theo yêu
cầu tƣ tƣởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng
nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và
kịch”[9,Tr99].
Thứ hai: Cốt truyện được hiểu “là toàn bộ các biến cố sự kiện đƣợc nhà văn
kể ra, là cái mà ngƣời đọc có thể đem kể lại ”[9,Tr101]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
- Trong kí có những yếu tố trữ tình và chính luận. Chúng làm nên những
yếu tố phi cốt truyện trong kí. Nhiều khi những yếu tố này chiếm tỉ lệ lớn trong
các tác phẩm. Vì vậy cốt truyện sẽ bị phá vỡ với mức độ đậm nhạt khác nhau. Có
những bài kí chỉ là sự tập hợp một hệ thống sự kiện dưới một chủ đề thống nhất
nào đó.
- Về cốt truyện trong tác phẩm kí, có nhiều ý kiến khác nhau.
Có người cho rằng “kí không có cốt truyện ” (Nicôlin).
Có người khẳng định “ những tác phẩm kí không có cốt truyện về thực chất

lệ khá lớn.
Như vậy, không phải tác phẩm kí nào cũng có cốt truyện nhưng không có
tác phẩm nào không có kết cấu. Việc xác định đúng các yếu tố thi pháp này sẽ
góp phần định hướng đúng đắn cho việc tìm hiểu tác phẩm.
1.1.2.4. Ngôn ngữ.
Theo Lại Nguyên Ân “đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở văn phong,
ngôn ngữ nghệ thuật” .
Ngôn ngữ kí có một số đặc điểm sau:
Ngôn ngữ nghệ thuật của kí hướng vào miêu tả phong tục qua những đặc
điểm môi trường hoặc những tính cách tiêu biểu của cuộc sống cho nên ngôn
ngữ kí vừa cụ thể sinh động, đậm chất đời thường gần với cuộc sống, vừa khái
quát.
Các thể loại kí in đậm dấu ấn hình tượng tác giả nên ngôn ngữ nghệ thuật
trong kí mang đậm tính chủ thể gắn liền với cá tính sáng tạo của tác giả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

13
Ngôn ngữ kí chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả người viết kí không
ẩn mình mà trực tiếp viết ra những gì mình chứng kiến, quan sát. Họ cũng là
người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật
khác. Vì vậy ngôn ngữ kí có xu hướng mở rộng. Nó thừa nhận và dung nạp
nhiều hình thức và phong cách sáng tạo. Nguyễn Tuân từng khẳng định “kí có
quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca và cả các cách thức của điện
ảnh, sân khấu, ca vũ hội họa, điêu khắc” .
Trong tác phẩm kí, người trần thuật kể, nhận xét, đánh giá dẫn dắt bạn đọc
tiếp cận, thâm nhập vào cuộc sống, tìm hiểu con người, sự việc được phản ánh.
Vì vậy ngôn từ nghệ thuật cũng rất linh hoạt về giọng điệu. Có khi là giọng trần
thuật, có lúc là giọng phân tích, giọng khái quát v.v
Các thể loại kí thường nhanh nhạy, phản ảnh kịp thời các vấn đề của đời
sống và định hướng nhận thức của người đọc. Vì vậy ngôn ngữ kí vừa có chức

hiện thế giới của cá nhân đó, đó là cá nhân của nhà văn trong mối quan hệ của
nó đối với những nhu cầu thẩm mỹ của xã hội, trong việc cá nhân đó hƣớng tới
công chúng độc giả, hƣớng tới những ngƣời vì họ mà văn học đƣợc tạo ra ”[13,
tr 116].
“Cá nhân nhà văn” trong trường hợp này là “cái tôi” sáng tạo được phân
biệt với cái tôi hiện thực ngoài đời của nhà văn. Tất nhiên giữa chúng có những
nét tương đồng ở mức độ nhiều, ít tùy từng trường hợp cụ thể (ví dụ: khi nghiên
cứu về Nguyễn Tuân, nhiều người khẳng định “Văn là người”, nhưng trường hợp
như vậy không nhiều). Trong luận điểm trên của M.B. Khrapchenkô, cá tính
sáng tạo được làm rõ từ ba mối quan hệ.
- “Cá nhân nhà văn” trong tác phẩm (Anh là người như thế nào?).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
- “Cá nhân nhà văn” trong quan hệ với nhu cầu thẩm mỹ của xã hội (tức

khả năng đáp ứng của cá nhân đó đối với những nhu cầu tinh thần của xã hội).
- “Cá nhân nhà văn” trong quan hệ với bạn đọc (Thực tế, mỗi nhà văn chỉ
tìm được tiếng nói chung với một bộ phận công chúng nhất định).
Trong đó, ông chú trọng đến sự thống nhất bên trong của cái “tôi” sáng tạo
thể hiện trong sự thụ cảm cuộc sống và trong quan hệ đối với ý thức thẩm mỹ
của thời đại. Có thể nói, cá tính sáng tạo của nhà văn chính là cái “tôi” sáng tạo,
là bản sắc riêng của nhà văn trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Đó cũng là
phần đóng góp của người nghệ sĩ đối với văn học và được công chúng thừa nhận.
1.2.2. Biểu hiện của cá tính sáng tạo.
Theo các tác giả “Từ điển thuật ngữ văn học”: Cá tính sáng tạo biểu hiện
tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm nghĩ của nhà văn có khả
năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật mới mẻ, tạo thành một
ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dung mới của đời sống
và tƣ tƣởng” [9, Tr35].

nào cũng tạo ra được nét riêng thống nhất lặp lại như vậy, nên không phải nhà
văn nào cũng có phong cách nghệ thuật.
Cá tính sáng tạo là biểu hiện của cái riêng, cái đặc thù không lặp lại nhưng
không phải là cái biệt lập. Nó tồn tại trong chỉnh thể nhà văn và góp phần tạo nên
sự thống nhất của chỉnh thể đó. Như vậy là người ta có thể tìm được mẫu số
chung của những biểu hiện không lặp lại trong hệ thống sáng tác của nhà văn.
Nhưng nó không được hiện diện trong các tác phẩm của nhà văn khác và được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17
công chúng độc giả công nhận “bản quyền”. “Bản quyền” ấy chính là phong cách
nghệ thuật của nhà văn.
Bất kỳ nhà văn nào cũng phải sống trong một xã hội nhất định, ở một giai
đoạn lịch sử nhất định. Cá nhân đó chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội
xung quanh mình, hít thở bầu không khí chính trị văn hóa của dân tộc mình. Họ
tiếp thu kho trí thức của cộng đồng thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm thẩm
mỹ được hình thành, ít nhiều bị chi phối bởi hệ tư tưởng và những chuẩn mực đạo
đức thẩm mỹ của xã hội. Do đó phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng mang
dấu ấn của dân tộc và thời đại.
Phong cách nghệ thuật của nhà văn không thể thiếu cá tính sáng tạo. Đây là
nhân tố quan trọng để nhà văn không dẫm lên dấu chân phía trước của người
khác và của chính mình. Cá tính sáng tạo là xuất phát điểm để nhà văn xây dựng
phong cách nghệ thuật. Sau khi định hình, phong cách nghệ thuật trở thành kim
chỉ nam cho hoạt động sáng tạo của họ.
Cá tính sáng tạo – phong cách nghệ thuật tạo nên tên tuổi nhà văn. Các nhà
văn lớn là tiêu chí để đánh giá quy mô, vị trí của nền văn học dân tộc trong nền
văn học thế giới; chính họ sẽ xây dựng thời đại hoàng kim của văn học nghệ
thuật.
1.2.4. Cá tính sáng tạo của nhà văn thể hiện trong loại thể kí.
So với các loại thể văn học khác, kí có nhiều điểm khác biệt. Đây cũng là

qua nhiều kênh thông tin khác nhau. Họ đi vào tác phẩm một cách trung thực
chứ không trở thành một hình tượng hư cấu. Tác giả có thể trực tiếp thể hiện thái
độ yêu ghét của mình. Các tác phẩm kí không chú ý tạo dựng cốt truyện chặt chẽ
nên những sự kiện, sự việc, con người lại trở thành nguồn cảm hứng để mạch
cảm xúc tuôn tràn trên mặt giấy. Không ít tác phẩm kí chỉ viết về thiên nhiên,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19
cảnh vật hoặc bất kỳ đề tài nào mà tác giả xúc cảm, quan tâm. Cái nhìn nghệ
thuật được thể hiện trực tiếp qua cách thức miêu tả đối tượng, những lời nhận
xét, đánh giá. Cá tính sáng tạo của nhà văn cũng thể hiện qua cách nhìn đó.
Nguyễn Tuân khi viết về sông Đà rất chú ý đến đặc điểm tự nhiên của nó: Hùng
vĩ, trữ tình. Hoàng Phủ Ngọc Tường lại viết về sông Hương như một biểu tượng
văn hóa của Huế. Dưới con mắt của ông sông Hương luôn mang vẻ đẹp đầy nữ
tính.
Cái nhìn nghệ thuật trong thể loại kí nhiều khi thể hiện trực tiếp với người
kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” đồng nhất với tác giả. Như vậy, đó là cái
nhìn của chính nhà văn, không ẩn dưới cái nhìn của bất kỳ nhân vật nào. Đây là
điểm khác biệt của kí trong khi tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật so với các loại thể
khác. Cá tính sáng tạo của nhà văn còn thể hiện qua ngôn ngữ.
Ngôn ngữ
Trong các thể loại kí thì kí sự gần gũi với truyện ngắn hơn cả. Bởi nó cũng có
cốt truyện, có nhân vật, có tâm lý nhân vật. Nhưng tất cả những yếu tố đó không
chặt chẽ, hoàn chỉnh, sâu sắc như trong chuyện ngắn. Người kể chuyện có vai trò
riêng trong tác phẩm. Có khi anh ta như một bình luận viên, nhận xét, đánh giá,
bình luận về con người, sự kiện mà chính anh ta đang kể. Bên cạnh ngôn ngữ
nhân vật, ngôn ngữ của người kể chuyện là nhân tố không thể bỏ qua khi tìm
hiểu cá tính sáng tạo của nhà văn. Với các thể loại khác như tùy bút và bút kí,
ngôn ngữ tác phẩm chủ yếu là ngôn ngữ tác giả. Bởi vậy nó bộc lộ rõ nét và trực
tiếp cá tính của người sử dụng nó. Từ phương diện ngôn ngữ, có thể tìm hiểu cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status