Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
ĐỌC HIỂU TÙY BÚT “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” –
NGUYỄN TUÂN VÀ BÚT KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG
SÔNG” – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG THEO ĐĂC TRƯNG
THỂ LOẠI
SVTH: Trần Thị Oanh
1
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu khoa học vừa là niềm say mê, vừa là nhiệm vụ của người
sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường. Đặc biệt với sinh viên cuối khóa thì
đây là một cơ hội tốt để vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội
trong quá trình học tập và thực tế nghiên cứu, nhằm mở rộng kiến thức của
bản thân.
Nhận thấy tầm quan trọng đó, người viết đã tiến hành nghiên cứu với
đề tài: Đọc – hiểu tùy bút “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và bút kí
“Ai đã đặt tên cho dòng sông” – Hoàng Phủ Ngọc Tường theo đặc trưng
thể loại. Để hoàn thành khóa luận này, người thực hiện đã nhận được sự giúp
Trần Thị Oanh
SVTH: Trần Thị Oanh
3
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Học sinh: HS
Giáo viên: GV
Phổ thông trung học: PTTH
Sách giáo khoa: SGK
Nhà xuất bản: Nxb
SVTH: Trần Thị Oanh
4
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
Chương 2: Đọc – hiểu tùy bút “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và
bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” – Hoàng Phủ Ngọc Tường theo đặc
trưng thể loại ............................................................................................... 10
2.1. Vài nét sơ lược về loại hình kí văn học.................................................. 10
2.1.1. Sự hình thành loại hình kí .................................................................. 10
2.1.2. Khái niệm chung về thể kí văn học .................................................... 11
2.1.3. Phân loại kí......................................................................................... 13
2.2. Đặc trưng thể loại kí .............................................................................. 18
2.2.1. Tôn trọng sự thật khách quan và tính xác thực của đời sống ............... 18
2.2.2. Nhân vật trần thuật trong kí thường là chính tác giả ........................... 21
2.2.3. Đặc điểm về văn phong, ngôn từ nghệ thuật kí ................................... 23
2.3. Đọc – hiểu tùy bút “Người lái đò sông Đà” (trích) – Nguyễn Tuân và bút
kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường
..................................................................................................................... 26
2.3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hiện thực được phản ánh trong tác
phẩm ........................................................................................................... 26
2.3.2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hình tượng tác giả trong tác phẩm ........ 31
2.3.3. Hướng dẫn học sinh phát hiện những đặc điểm nghệ thuật độc đáo của
tác phẩm và phong cách nghệ thuật của tác giả ............................................ 35
Chương 3: Giáo án thực nghiệm ............................................................... 42
3.3.1. “Người lái đò sông Đà” (trích) – Nguyễn Tuân .................................. 42
3.3.2. “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường ....... 59
trường phổ thông đặt ra không những như một vấn đề tri thức mà còn là một
vấn đề phương pháp.
Thể kí đóng góp vào nền văn học dân tộc nhiều tên tuổi nhà văn lớn với
những tác phẩm có giá trị. Kí hiện đại nổi bật với hai nhà văn lớn là Nguyễn
Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hai văn bản kí “Người lái đò sông Đà” –
Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường
là những văn bản kí rất có giá trị, được lựa chọn đưa vào chương trình Ngữ
văn 12. Hai nhà văn với hai tác phẩm của mình đã thể hiện những sáng tạo
mới mẻ, đóng góp quan trọng cho quá trình đổi mới loại thể này. Với đề tài
Đọc – hiểu tùy bút “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và bút kí “Ai đã
đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường theo đặc trưng thể loại,
SVTH: Trần Thị Oanh
7
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
chúng tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học thể loại kí
ở nhà trường phổ thông, mà cụ thể là hai văn bản kí như đã nêu.
2. Lịch sử vấn đề
Người đầu tiên đề cập cụ thể tới đặc trưng và việc giảng dạy văn bản kí
trong nhà trường phổ thông là tác giả Trần Thanh Đạm trong công trình
nghiên cứu “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại”. Tiếp đó là
tác giả Trần Đình Chung trong “Dạy các văn bản theo đặc trưng thể loại”.
Nhóm tác giả viết giáo trình “Lí luận văn học” của trường Đại học Sư phạm
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn dạy đọc – hiểu văn bản Ngữ văn nói
chung, văn bản kí nói riêng.
Từ việc xác định đặc trưng thể loại, kiểu văn bản và nhiệm vụ dạy học
Văn theo hướng đổi mới để hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản kí ở bậc
PTTH.
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy đọc hiểu văn bản kí ở bậc PTTH
và thực nghiệm thiết kế bài soạn.
Phạm vi nghiên cứu: Văn bản kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” –
Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Người lái đò sông Đà” – Nguyễn Tuân.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp thực nghiệm.
7. Cấu trúc của khóa luận
Gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Phần kết luận
SVTH: Trần Thị Oanh
9
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
SVTH: Trần Thị Oanh
10
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh trên cơ sở các em hiểu và cảm
thụ sâu sắc các tác phẩm văn chương.
Tiếp nhận văn học trong nhà trường phổ thông trong mối quan hệ với
tiếp nhận văn học trong đời sống mang đặc thù riêng: nếu trong đời sống, tiếp
nhận văn học thường do sự tự phát, bị chi phối bởi thị hiếu thẩm mĩ, mục đích
tiếp nhận của cá nhân là không giống nhau…, thì tiếp nhận văn học trong nhà
trường phổ thông là hoạt động mang tính tự giác cao và có mục đích rõ ràng.
1.1.1.2. Cơ sở tiếp nhận
* Con đường nhà văn làm ra tác phẩm.
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo
phương thức “cá thể” được diễn ra muôn màu muôn vẻ. Tố Hữu nói “mỗi
người có cách làm của mình, cách sáng tạo của mình, không bắt chước của ai
được”. Song, trong sự đa dạng này, ta vẫn bắt gặp những nét chung cơ bản.
Yếu tố đầu tiên bắt nguồn cho sự ra đời của tác phẩm là chứng sáng
tạo, cảm hứng phải mãnh liệt. Bởi viết văn là gan ruột, tâm huyết, không thể
cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bình lặng, vô vị, miễn cưỡng.
Khát vọng chủ quan của người nghệ sĩ, nung nấu ý định viết ra một tác
phẩm khi bắt gặp cảm hứng sẽ hình thành ý đồ sáng tạo. Nó chỉ một ý định và
động cơ cụ thể có tác dụng xác định phương hướng chung cho một quá trình
Có nhiều con đường để tiếp nhận tác phẩm văn học. Đặc biệt trong thời
đại ngày nay, người ta có thể chiếm lĩnh tác phẩm văn học bằng cách xem các
bộ phim được chuyển thể từ các tác phẩm văn học¸ hoặc có thể nghe người
khác đọc lại tác phẩm hay trực tiếp đọc tác phẩm. Song, những cách tiếp cận
khác có nhiều hạn chế, chỉ có con đường đọc – hiểu mới đúng với bản chất
của văn học – loại hình nghệ thuật ngôn từ. Thông tin nghệ thuật trong tác
phẩm văn học được thể hiện ở hệ thống ngôn từ tạo thành cấu trúc văn bản tác
phẩm. Trong văn bản văn học bao giờ cũng có những khoảng trống buộc
người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng tạo cơ sở hình thành tác phẩm của
riêng mình.
Đọc – hiểu là con đường đặc trưng để bạn đọc chiếm lĩnh giá trị thẩm
mĩ, sự muôn màu muôn vẻ của đời sống xã hội mà tác phẩm mang tải. Điều
này chi phối đến dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Trong dạy
học, giáo viên phải giúp học sinh đọc văn, từ đó hình thành năng lực đọc, dần
dần nâng cao thành văn hóa đọc cho học sinh. Và, tổ chức cho học sinh đọc
văn đồng nghĩa với việc giáo viên tổ chức cho các em tìm hiểu thế giới nghệ
thuật, nhận thức về đời sống tạo sự đồng điệu, đồng sáng tạo giữa tác giả và
bạn đọc. Đây cũng chính là cơ sở để người nghệ sĩ tìm được những tri âm, tri
kỉ giữa đông đảo độc giả yêu mến tác phẩm văn chương của mình.
SVTH: Trần Thị Oanh
12
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
13
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Dạy học tác phẩm trong nhà trường PTTH
Nhận xét về thực trạng dạy học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông
trung học, Phúc Nguyên trong báo văn nghệ - số 36 (ra ngày 09 / 09 / 2006) có
viết: “Theo một lối mòn quá cũ, giáo viên chỉ làm nhiệm vụ” rót kiến thức vào
bình chứa học sinh mà không cần biết các em có tiêu hóa được kiến thức đó
không. Học sinh thì tiếp thu kiến thức một cách thụ động để rồi trả bài cho thầy
một cách nguyên si như thế và làm theo những ý tưởng của thầy, theo những bài
mẫu khuôn sáo. Cách dạy học kiểu này đã thủ tiêu vai trò chủ động sáng tạo của
học sinh trong học văn, không khơi dạy được tiềm năng văn học nơi các em.
Thực trạng ấy có căn nguyên một phần từ chỗ lâu nay giáo viên quen
giảng dạy các tác phẩm theo chủ đề, không bám sát vào đặc trưng loại thể. Tệ
hại hơn, một bộ phận không nhỏ giáo viên còn mơ hồ về đặc trưng của từng
loại thể nói chung và của thể kí nói riêng dẫn đến hệ quả giáo viên coi nhẹ giá
trị thẩm mĩ của tác phẩm, yêu cầu và rèn luyện kĩ năng cho học sinh chưa
được quan tâm đúng mực. Thực trạng ấy trái chiều với mục tiêu “dạy học văn
không chỉ nhằm đạt đến những rung động thẩm mĩ mà còn là quá trình phát
triển về trí tuệ, về kiến thức, về kĩ năng được qui định” (Phan Trọng Luận).
Khắc phục thực trạng trên, hiện nay trong giáo dục đã thực hiện đổi
mới phương pháp dạy học. Với việc dạy các tác phẩm văn chương, một yêu
cầu cơ bản đặt ra là phải bám sát đặc trưng thể loại, từ đó tạo điều kiện cho
dạy học tác phẩm văn chương phải bám sát các đặc trưng này để có được sự
định hướng sát hợp và thực tế.
Về phía học sinh: là chủ thể của hoạt động học tập, các em phải phát huy
vai trò chủ động tích cực của mình, phải có thái độ tiếp nhận nghiêm túc được
thể hiện trước tiên ở việc đọc và nắm vững tác phẩm. Từ những tri thức về đặc
trưng loại thể nói chung và đặc trưng của thể kí nói riêng các em có thể áp
dụng vào việc tìm hiểu các tác phẩm cụ thể. Có như vậy việc đọc - hiểu tác
phẩm Ngữ văn nói chung, tác phẩm kí nói riêng của các em mới có hiệu quả.
Như vậy, có thể thấy, giải pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế đó
chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh. Trong đó, học sinh
đóng vai trò là trung tâm, chủ động trong mọi hoạt động còn giáo viên chỉ là
người tổ chức, định hướng, hướng dẫn học sinh. Có như vậy, giờ học Ngữ văn
nói chung cũng như học tác phẩm kí nói riêng mới đạt kết quả tốt. Và đọc –
hiểu văn bản kí theo đặc trưng thể loại là một phương pháp sẽ giúp học sinh
cũng như giáo viên đạt được mục tiêu bài học một cách tốt hơn, điều đó sẽ
được lí giải rõ ở chương 2.
SVTH: Trần Thị Oanh
15
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
CHƯƠNG 2
ĐỌC HIỂU TÙY BÚT “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” –
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
Đình của Vũ Trọng Phụng như: Cơm thầy cơm cô; Lục xì; Kĩ nghệ lấy
Tây,… Từ sau cách mạng tháng Tám, kí giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
Nhiều tác phẩm kí có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt đa
dạng của đời sống văn học. Những tác phẩm ấy đã phản ánh kịp thời nhiều
mặt của hiện thực đời sống bề bộn, phong phú, xứng đáng là “Bộ đội tiền
tiêu” của văn học nghệ thuật. Trong thời kì kháng chiến, các nhà văn – chiến
sĩ đã ghi chép, miêu tả sự việc cũng như con người có thật trong cuộc kháng
chiến và cách mạng của dân tộc như: “Truyện và kí” của Trần Đăng, “Ở
rừng” của Nam Cao, “Kí sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng và sau này
là “ Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của Nguyễn Tuân; “Những ngày
nổi giận” của Chế Lan Viên và rất nhiều tác phẩm kí có giá trị khác. Nói
chung, kí là những ghi chép nhanh, nhạy, nối liền cuộc sống với người đọc.
Như vậy, trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài kí đã
trở thành thể loại quan trọng trong văn xuôi. Sự có mặt của các thể kí văn học
đã góp phần làm cho nền văn học trở nên cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính
chiến đấu.
2.1.2. Khái niệm chung về thể kí văn học
Lí luận văn học hiện đại vẫn có những ý kiến khác nhau về khái niệm
và đặc trưng của thể kí. Có nhà nghiên cứu nhận xét “Về kí, thực tế là không
thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng của nó” [11, tr.275], lại có người
cho kí là “Loại thể văn học đặc biệt và phức tạp” [11, tr.277]. Các cuộc trao
đổi về thể kí trên tạp chí văn học, các bài báo, các công trình nghiên cứu, các
giáo trình lí luận văn học cũng cho thấy sự không đồng nhất trong quan niệm
về kí.
Tuy nhiên kí có cái hạt nhân làm thành đặc trưng riêng của nó. Đó là
quan điểm thể loại của kí qui định.
Kí không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các
cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh. Những câu chuyện đời tư khi chưa
nổi lên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâm của kí.
Đối tượng nhận thức thẩm mĩ của kí thường là một trạng thái đạo đức –
phong hóa xã hội (thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ), một trạng thái tồn tại
của con người hay những vấn đề xã hội nóng bỏng. Khác với truyện ngắn,
truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, kí có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật
khách quan của đời sống, không hư cấu. Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo
cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm. Kí
thường không có cốt truyện có tính hư cấu. Sự việc và con người trong kí phải
SVTH: Trần Thị Oanh
18
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
xác thực hoàn toàn, có địa vị hẳn hoi. Đó là vì kí dựng lại những sự thật đời
sống cá biệt một cách sinh động, chứ không xây dựng các hình tượng mang
tính khái quát. Tính khái quát do tác giả kí thể hiện bằng suy tưởng.
2.1.3. Phân loại kí
a. Kí sự: Là một thể thuộc loại hình kí nhằm ghi chép một câu chuyện,
một sự kiện tương đối hoàn chỉnh, có quy mô gần với truyện ngắn hay truyện
vừa. Kí sự sử dụng nhiều biện pháp và phương tiện biểu đạt nghệ thuật để ghi
Trêng §HSP Hµ Néi 2
ứng với truyện ngắn. Nhưng bút kí khác với truyện ngắn ở chỗ, tác giả bút kí
không sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực.
Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu,
nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng
nào đó. Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ
quan sát, nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được
đề cập đến nhằm khám phá những khía cạnh có vấn đề, những ý nghĩa mới
mẻ, sâu sắc trong va chạm giữa tính cách và hoàn cảnh cá nhân và môi
trường. Nói cách khác, giá trị hàng đầu của bút kí là giá trị nhận thức.
Bút kí có thể thuộc về văn học, cũng có thể thuộc về báo chí tùy theo
mức độ biểu hiện cái riêng của tác giả và mức độ sử dụng các biện pháp nghệ
thuật cùng tính chất tác động của nó đối với công chúng.
Trong bút kí văn học tác giả thường khéo léo sử dụng các biện pháp
nghệ thuật để tô đậm những phát hiện, những nhận thức riêng của mình, tác
động đến độc giả. Bút kí có thể thiên về khái quát các hiện tượng có vấn đề
của đời sống (chú ý nhiều đến việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật: Xây
dựng cốt truyện, sử dụng các yếu tố liên tưởng, trữ tình…để điển hình hóa
những tính cách), hoặc thiên về chính luận (mô tả các hiện tượng đời sống
một cách chính xác, sinh động, kèm theo những nhận xét riêng của mình hoặc
của nhân vật, phân tích, đánh giá, cuộc sống được mô tả; sử dụng yếu tố nghị
luận, châm biếm, hài hước).
Ví dụ: Bút kí Điện Biên Phủ, một danh từ Việt Nam của Thép Mới; Ai
đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Khi tác phẩm
nghiêng về yếu tố trữ tình, bút kí có hướng chuyển sang tùy bút.
c. Phóng sự: Là tiểu loại kí ghi chép kịp thời, cung cấp những tri thức
chính xác, phong phú, đầy đủ, nhằm làm sáng tỏ trước công luận một sự việc,
một vấn đề có ý nghĩa thời sự với địa phương hay toàn xã hội. Phóng sự được
d. Nhật kí, hồi kí
Nhật kí là thể loại kí ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của
chính người viết, là những tư liệu có giá trị về tiểu sử và thời đại của người
viết. Đó là những tập nhật kí nổi tiếng như nhật kí của những nhà văn lớn như
Nhật kí Đôstoievki, Nhật kí Chekhov, Nhật kí Lỗ Tấn, hoặc nhật kí của các
nhân vật lịch sử như Nhật kí Đặng Thùy Trâm, Nhật kí Nguyễn Văn Thạc,
những người anh hùng trên chiến trường chống Mỹ ghi lại những sự kiện ác
liệt và những ước mơ cùng ý chí kiên cường của người trong cuộc. Giá trị
quan trọng nhất của nhật kí là tính chân thật do ghi chép sự việc đang xảy ra.
SVTH: Trần Thị Oanh
21
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
Hồi kí là thể loại ghi chép các sự kiện quá khứ đã trải qua do đương sự
thực hiện, là một hình thức văn học mình tự nói về mình, là một kiểu tự
truyện của tác giả. Hồi kí cung cấp những tài liệu về quá khứ mà đương thới
chưa có điều kiện nói được. Tuy nhiên do thời gian lùi xa, nhiều sự kiện nhớ
không chính xác, nhớ nhầm hoặc tưởng tượng thêm. Hồi kí chỉ thực sự có giá
trị khi người ghi có địa vị xã hội được nhiều người quan tâm và có thái độ
trung thực, không tô vẽ cho mình và thêm thắt cho người khác. Ví dụ như các
tập hồi kí của các nhà văn hóa và các nhà cách mạng.
e. Tùy bút
bút, sự kiện khách quan thường không được trình bày liên tục do sự xen kẽ
của cảm xúc chủ quan, các yếu tố trữ tình của người viết hoặc vì những sự
kiện đó được khai thác từ nhiều địa điểm và thời gian khác nhau tùy theo
dòng liên tưởng, suy tưởng của tác giả, nhằm triển khai một cảm hứng chủ
đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định. Người viết tùy bút phải làm nổi bật trong
tác phẩm bản lĩnh riêng, cách cảm nghĩ sâu sắc, độc đáo về cuộc sống và con
người.
Ngôn từ trong tùy bút thường giàu hình ảnh, chất thơ. Tác giả tùy bút
thường dùng hàng loạt từ đồng nghĩa để vừa đặc tả, xoáy sâu, vừa tô đậm ấn
tượng về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Cùng nói về một hạt cát
lọt vào lòng trai biển, Nguyễn Tuân đã dùng đến hàng chục cách gọi: hạt cát,
hạt bụi biển, hạt bụi bặm khách quan, cái hạt buốt sắc, hạt đau, hạt xót, hạt cát
khối tình con, một vết thương lòng …(Tờ hoa). Câu văn tùy bút thường giàu
nhịp điệu, âm điệu hài hòa, trầm bổng. Mỗi tác phẩm tùy bút thường rất độc
đáo cả về màu sắc thẩm mỹ và phong cách biểu hiện cần phải được cảm nhận
và phân tích cụ thể.
g. Du kí
Có thể hiểu du kí là thể loại ghi chép vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên
và cuộc đời, những cảm nhận suy tưởng của con người trong những chuyến
du ngoạn, du lịch. Du kí phản ánh, truyền đạt những nhận biết, những cảm
tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người du lịch về những điều mắt thấy
tai nghe ở những xứ sở xa lạ, những nơi mọi người ít có dịp đi đến, chứng
kiến. Hình thức của du kí rất đa dạng, có thể là ghi chép, kí sự, nhật kí, thư
tín, hồi tưởng, miễn là mang lại thông tin tri thức và cảm xúc tươi mới về
phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở còn ít người biết đến, làm giàu cho
nhận thức, kinh nghiệm, tình cảm của người đọc. Ví dụ: Hành trình qua ba bể
của nhà văn Nga Nikitin viết về Ấn Độ thế kỉ XV, Chuyến đi thăm Bắc kỳ
SVTH: Trần Thị Oanh
được phản ánh trong tác phẩm.
Viết về cái có thật trong cuộc sống, kí văn học có khả năng mạnh mẽ
trong việc tạo ra niềm tin, sức thuyết phục với người đọc. Chẳng hạn, đọc tác
phẩm kí “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi chúng ta ngưỡng mộ, cảm
phục đối với người anh hùng mà ta biết rằng chị đã sống thực và đánh giặc ở
một mảnh đất có thực của Tổ quốc – mảnh đất Trà Vinh. Nhiều tác phẩm kí
SVTH: Trần Thị Oanh
24
Líp: – K33B. Ngữ Văn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trêng §HSP Hµ Néi 2
văn học có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa to lớn đối với
nhận thức của người đọc. Vì thế sự bịa đặt, thêm thắt sẽ làm mất đi sức thuyết
phục và cảm xúc thẩm mĩ đối với độc giả. Do trần thuật người thật, việc thật,
tác phẩm kí văn học có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá, có ý nghĩa và
tác dụng rất lớn ngay với sự sáng tạo nghệ thuật về sau.
Chi tiết, sự việc, con người được ghi lại trong kí đều có địa chỉ cụ thể
và đều có thể kiểm tra. Tuy nhiên, không thể coi viết kí như một công việc
chụp ảnh và ghi âm một cách máy móc, sao chép cuộc sống một cách nô lệ và
vai trò của người viết kí là hoàn toàn thụ động. Những người thật, việc thật,
những vấn đề của đời sống khách quan được tác giả kí lấy làm điểm tựa đều
được nhìn nhận, được lựa chọn, khái quát và được khai thác ở những nội
dung, những khía cạnh có ý nghĩa xã hội – thẩm mĩ nào đó. Trong tác phẩm