TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*** NGUYỄN THỊ MAI
DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
“VỢ CHỒNG A PHỦ”
(TRÍCH: VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ
HOÀI) THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2014 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*** NGUYỄN THỊ MAI
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
với sự hƣớng dẫn, chỉ bảo của ThS.Trần Hạnh Phƣơng và các thầy cô trong
Tổ Phƣơng pháp dạy học Ngữ Văn trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
Đề tài này chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Ngƣời thực hiện Nguyễn Thị Mai DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT - Sách giáo khoa: SGK
- Sách giáo viên: SGV
- Trung học phổ thông: THPT
- Trung học cơ sở: THCS
- Giáo viên: GV
- Học sinh: HS
- Dự kiến trả lời: DKTL
- Nhà xuất bản: NXB
- Đại học Sƣ phạm: ĐHSP
2.4.3. Hướng dẫn HS đọc - hiểu ngôn ngữ 36
Chƣơng 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 41
KẾT LUẬN 59
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn là một trong những môn cơ bản của chƣơng trình giáo dục
trong nhà trƣờng. Nó là môn học vừa mang tính khoa học, tính công cụ, vừa
mang tính nghệ thuật. Nó có khả năng thâm nhập vào thế giới tâm hồn bạn
đọc giúp họ tiếp nhận và lĩnh hội đời sống. Do vậy, dạy học Ngữ văn chính là
giúp học sinh tiếp nhận văn chƣơng một cách sáng tạo, bồi dƣỡng năng lực tƣ
duy văn học, tƣ duy thẩm mĩ để các em có thói quen tiếp nhận chủ động
những giá trị văn minh nhân loại.
Việc giảng dạy các tác phẩm trong nhà trƣờng có ý nghĩa thời sự nóng
hổi luôn thu hút sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới trong xã hội. Tuy
nhiên, trong thực tế giáo dục hiện nay, môn Ngữ văn chƣa thể hiện đƣợc vị trí
quan trọng của nó. Chất lƣợng dạy và học Ngữ văn còn tồn tại nhiều bất cập
và hạn chế. Về phía ngƣời dạy vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ
kiến thức một chiều, biến giờ học Ngữ văn thành giờ đọc chép. Ngƣời dạy
chƣa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng nhƣ
chƣa chỉ ra cho ngƣời học con đƣờng tích cực để thu nhận kiến thức… Về
phía ngƣời học không có sự tìm tòi, suy nghĩ sáng tạo mà chỉ tiếp thu một
cách thụ động. Học sinh cảm thấy chán nản, mệt mỏi, nhiều HS cảm thấy học
Ngữ văn nhƣ một cực hình, vô cùng nặng nề. Vì vậy vấn đề đƣợc đặt ra là
phải thƣờng xuyên đổi mới phƣơng pháp dạy học. Dạy học Ngữ văn theo con
đƣờng đọc - hiểu đƣợc xem là giải pháp hữu hiệu góp phần cải thiện và nâng
cao chất lƣợng dạy học Ngữ văn ở trƣờng THPT.
Hiện nay, chƣơng trình và nội dung SGK đƣợc sắp xếp theo trục thể loại
là chính. Vì vậy hƣớng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản Ngữ văn theo đặc
3
- GS. Trần Thanh Đạm với “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể
loại” cũng đi vào đặc trƣng của thể loại tác phẩm tự sự, từ đó đƣa ra phƣơng
pháp giảng dạy song cũng chỉ ở mức độ sơ lƣợc.
Nhìn chung, vấn đề giảng dạy tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trƣờng
THPT đã đƣợc ít nhiều nhà nghiên cứu bàn tới nhƣng hƣớng dẫn giảng dạy
từng tác phẩm cụ thể thì chƣa có nhiều. Phần lớn các tác giả viết dƣới dạng
phân tích, bình giảng tác phẩm cụ thể cho học sinh.
Ở đề tài này, ngƣời viết trên cơ sở kế thừa những thành tựu của ngƣời đi
trƣớc cùng với những hiểu biết nhất định về đặc trƣng thể loại tự sự nói chung và
tác phẩm tự sự của Tô Hoài nói riêng, đƣa ra phƣơng pháp đọc hiểu văn bản “Vợ
chồng A Phủ” (trích “Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài) theo đặc trƣng thể loại.
3. Mục đích nghiên cứu
- Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong giờ học
Ngữ văn.
- Đƣa văn bản “Vợ chồng A Phủ” đến với học sinh theo đúng hƣớng,
đúng phƣơng pháp.
- Bồi dƣỡng năng lực đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc trƣng của thể loại tự sự và sự thể hiện của nó trong các
sáng tác của Tô Hoài.
- Hƣớng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Vợ chồng A Phủ” theo đặc
trƣng thể loại.
- Xây dựng giáo án thực nghiệm cho văn bản “Vợ chồng A Phủ” trong
nhà trƣờng THPT.
5. Đối tƣợng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
*Đối tƣợng nghiên cứu
- Đặc trƣng thể loại tự sự trong các sáng tác của Tô Hoài
*Phạm vi nghiên cứu
4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vấn đề tiếp nhận văn học
1.1.1.1. Khái niệm
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Tiếp nhận văn học là hoạt động
chiếm lĩnh các giá trị tƣ tƣởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu bằng
sự cảm nhận văn bản ngôn từ, hình tƣợng nghệ thuật, tƣ tƣởng, cảm hứng,
quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách
hiểu, ấn tƣợng trong trí nhớ, ảnh hƣởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch,
chuyển thể ” [3;325].
Trong giáo trình “Lí luận văn học” - Phƣơng Lựu (Chủ biên) thì: “Tiếp
nhận văn học là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác của văn học” [10;215].
Nhƣ vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tiếp nhận văn học nhƣng
thực chất đó là quá trình mà ngƣời đọc bằng vốn văn hóa và sự hiểu biết của
mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm để phát hiện, chiếm lĩnh
những giá trị tƣ tƣởng thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm qua lớp ngôn từ.
Việc dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng thực chất là dạy cho HS cách
tiếp nhận văn học dƣới sự hƣớng dẫn của GV. Giáo viên phải giúp HS nắm
đƣợc những phƣơng thức biểu đạt riêng của từng tác phẩm để hoạt động dạy
học đạt kết quả cao. Mục đích cuối cùng là giúp cho HS hiểu và cảm nhận tác
phẩm để các em tự hoàn thiện nhân cách của mình.
1.1.1.2. Cơ sở tiếp nhận tác phẩm văn học
*Quá trình sáng tạo của nhà văn
Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần, là tâm huyết sáng tạo của nhà
văn. Mỗi nhà văn sẽ có những cách thức, con đƣờng sáng tạo tác phẩm riêng
biệt không giống nhau.
6
Cảm hứng nghệ thuật; khả năng quan sát, thâu tóm hiện thực khách quan
kết hợp với vốn tri thức, sự nhiệt huyết của nhà văn chính là quá trình cho ra
đời một tác phẩm. Các vấn đề đƣợc phản ánh trong tác phẩm chủ yếu đƣợc
tƣợng. Phân tích càng cụ thể, chi tiết và đầy đủ bao nhiêu ngƣời đọc càng hiểu
về tác phẩm sâu sắc bấy nhiêu. Song, sau khi chia tách đối tƣợng, ngƣời đọc phải
tiến hành tổng hợp để có cái nhìn khái quát về đối tƣợng. Bởi vậy, sau khi phân
tích, HS phải tiến hành tổng hợp, khái quát để nhận định chủ đề, tƣ tƣởng tác
phẩm cũng nhƣ thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm.
- Hoạt động cắt nghĩa
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chƣơng.
Cắt nghĩa là giải thích, làm rõ ý nghĩa của các chi tiết, hình ảnh trọng
tâm. Những chi tiết, hình ảnh ấy là những yếu tố có vai trò to lớn trong việc
truyền tải nội dung tƣ tƣởng của toàn tác phẩm. Việc cắt nghĩa bắt đầu từ việc
lí giải các chi tiết tiến tới cắt nghĩa các hình tƣợng của tác phẩm, cao hơn nữa
là cắt nghĩa toàn bộ tác phẩm. Thông qua hoạt động cắt nghĩa, ngƣời đọc sẽ
tìm ra nội dung, ý nghĩa và dụng ý nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm.
Cắt nghĩa là cơ sở đánh giá mức độ hiểu biết của mỗi ngƣời, vì có hiểu
mới có thể cắt nghĩa đƣợc tác phẩm.
- Hoạt động bình giá
Bƣớc cuối cùng của việc tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động bình
giá. Đây là hoạt động mang tính chủ quan, thể hiện thái độ đánh giá, bình
phẩm của ngƣời đọc.
Có thể thấy quá trình tiếp nhận văn học đƣợc xác lập theo một trật tự từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đây là cả một quá trình mà hoạt động
đi trƣớc là tiền đề cho hoạt động đi sau, giúp cho quá trình văn học diễn ra
8
một cách trọn vẹn.
1.1.2.3. Vai trò của bạn đọc đối với vấn đề tiếp nhận văn học
Khi sáng tác một tác phẩm nghệ thuật, ngƣời sáng tác luôn tìm đến bạn
đọc để tìm sự đồng cảm. Một tác phẩm chỉ thực sự thành công khi đƣợc bạn
đọc và công chúng đón nhận. Ngƣời đọc bằng trí tƣởng tƣợng, kinh nghiệm
sống, vốn sống, vốn văn hóa và những rung cảm sâu sắc trong tâm hồn sẽ
cùng tái hiện, bồi đắp những cảm nhận tinh tế của nhà văn thành bức tranh
có tác phẩm kịch.
Từ ba loại trên, ta có thể chia nhỏ nhƣ sau:
- Loại tự sự bao gồm: tự sự dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,
ngụ ngôn, truyện cƣời,…), tự sự trung đại và tự sự hiện đại (truyện và kí).
- Loại trữ tình bao gồm: trữ tình dân gian (tục ngữ, ca dao, câu đố) và trữ
tình trung đại, trữ tình hiện đại (thơ cổ thể truyền thống và thơ tự do).
- Loại kịch bao gồm: kịch dân gian (chèo, múa rối), kịch trung đại
(tuồng), kịch hiện đại (bi kịch, hài kịch).
*Khái niệm thể loại tự sự
Theo“Từ điển tiếng Việt”: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực
bằng việc kể lại các sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện tƣơng đối
hoàn chỉnh” [13;385].
Theo SGK Ngữ văn 10, tập 1: “Tự sự (kể chuyện) là phƣơng thức trình
bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến
một kết luận, thể hiện một ý nghĩa” [9;61].
Nhƣ vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại tự sự. Song, về cơ
bản, tự sự là loại văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan bằng việc kể
lại một câu chuyện có diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh, có sự phát triển
10
của tâm trạng, hành động, tính cách, hành động của con ngƣời để bạn đọc có
thể nhận thức đƣợc một vấn đề của đời sống cũng nhƣ tƣ tƣởng và tình cảm
mà tác giả gửi gắm.
1.1.2.2. Đặc trưng thể loại tự sự
Đặc điểm của thể loại văn học là các dấu hiệu cơ bản để nhận ra loại
hình văn học này so với loại hình văn học khác. Ở thể loại tự sự, những dấu
hiệu đó đƣợc thể hiện ở ba yếu tố: cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ.
*Cốt truyện
Cốt truyện là thành phần không thể thiếu trong tác phẩm tự sự, nó là yếu
tố đầu tiên để xây dựng nên một tác phẩm văn học.
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể,
yếu tố mang tính phi vật thể đƣợc dùng để xây dựng tác phẩm văn học.
Căn cứ vào thể loại văn học, ngƣời ta chia ngôn ngữ thành ba loại: Ngôn
ngữ tự sự, ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch. Cả ba loại ngôn ngữ này đều
mang tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa và tính biểu cảm cao. Tuy
nhiên, những thuộc tính chung đó thể hiện qua các loại thể văn học khác nhau
là khác nhau.
Cụ thể, trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ chủ yếu là dùng lối kể chuyện để
phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tƣ con ngƣời. Ngôn ngữ tự sự gồm có:
Ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ ngƣời kể chuyện. Hai loại ngôn ngữ này đan
xen, xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối. Thông qua hệ thống tín hiệu ngôn
ngữ đó mà ngƣời đọc hiểu đƣợc nội dung tƣ tƣởng và giá trị nghệ thuật mà tác
giả gửi gắm trong tác phẩm.
Có thể khẳng định cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ là ba yếu tố quan
trọng có vai trò khăng khít với nhau và là cơ sở chính để tạo nên một chỉnh
12
thể văn học.
1.1.3. Vấn đề đọc - hiểu
1.1.3.1. Khái niệm đọc - hiểu
Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Hiểu là nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của
cái gì bằng sự vận dụng trí tuệ” [13;567].
Hiểu chính là mức độ cần đạt tới của đọc, do đó đọc và hiểu luôn gắn
liền. Hiểu không chỉ dừng lại ở việc quan sát bề ngoài của đối tƣợng mà còn
phải đi sâu khám phá cái bên trong nó.
“Đọc” và “Hiểu” có mối quan hệ chặt chẽ. Vậy “Đọc hiểu” là gì?
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc hiểu là một hoạt động của con
ngƣời. Nó không chỉ là nhận biết nội dung tƣ tƣởng từ văn bản mà còn là một
hoạt động tâm lí giàu cảm xúc và có tính trực giác. Đọc hiểu mang tính chất
đối diện một mình, đối diện với văn bản. Nó có cái hay là tập trung tích đọng
và lắng kết năng lực cá nhân. Đây là hoạt động thu nạp, tỏa sáng âm thầm với
sức mạnh nội hóa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ
loại và có thể tự biểu hiện, bộc lộ năng lực sáng tạo.
Đọc - hiểu là một hoạt động có tính chất phổ quát. Nó nằm trong mục
tiêu giáo dục đào tạo nói chung, nghĩa là nó đƣợc xem nhƣ một phƣơng tiện
giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ cho ngƣời đọc, ngƣời học. Học sinh trong
quá trình đọc sẽ nhận thức đầy đủ hơn, cảm thụ giàu cảm xúc hơn về nội dung
tác phẩm. Giáo dục là để hình thành và hoàn thiện nhân cách cho ngƣời học.
Mỗi môn học, mỗi hoạt động giáo dục trong nhà trƣờng đều có nhiệm vụ hình
thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Môn Ngữ văn có một lợi thế riêng
là có một khối lƣợng các văn bản Ngữ văn là văn bản nghệ thuật, do đó qua
giờ đọc - hiểu các văn bản nghệ thuật này sẽ giúp bạn đọc tích lũy cho mình
14
cách nhìn ngƣời, nhìn đời và nhìn lại bản thân mình. Qua đó tác động vào tình
cảm, từ tình cảm tác động làm thay đổi về mặt ý thức, tác động toàn diện đến
nhân cách học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Môn Ngữ văn có thể coi là một trong những môn học chính trong nhà
trƣờng phổ thông. Tuy nhiên việc dạy và học bộ môn này còn nhiều bất cập
và hạn chế. Việc áp dụng những phƣơng pháp dạy học truyền thống đã không
đáp ứng đƣợc những yêu cầu của việc học trong thời đại mới dẫn đến tâm lí
chán nản, thậm chí phản ứng chống đối của học sinh trong các giờ học văn.
Điều này dẫn đến tình trạng chất lƣợng dạy học ngày càng giảm sút, các tác
phẩm văn học có giá trị chƣa có chỗ đứng xứng đáng trong lòng những ngƣời
yêu văn chƣơng.
Việc học sinh không chú ý đến việc đọc và chuẩn bị bài ở nhà cũng gây
ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng giờ dạy. Với dung lƣợng tác phẩm rất
lớn mà thời gian trên lớp có hạn, giáo viên không thể truyền thụ kiến thức, rèn
luyện kĩ năng kĩ xảo nếu không có sự hợp tác của học sinh.
Chính những hạn chế đó dẫn đến yêu cầu phải đổi mới phƣơng pháp dạy
học . Phải phát huy tính tích cực, tự giác, tƣ duy sáng tạo của học sinh, bồi
dƣỡng năng lực tự học và ý chí vƣơn lên của học sinh.
Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị. Trƣớc Cách mạng tháng Tám,
thời kì Mặt trận Dân chủ, ông tích cực tham gia phong trào Ái hữu thợ dệt ở
Hà Đông và Thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1943, Tô Hoài tham gia Hội
Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài làm báo Cứu quốc - cơ quan
ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh. Ông đi vào mặt trận phía Nam, tới Tuy
Hòa, Nha Trang, lên chiến trƣờng Tây Nguyên rồi xuống mặt trận An Khê.
Tháng 10/1946, ông đƣợc vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng
sản. Năm 1949, ông tham gia chiến dịch sông Thao. Năm 1950, ông lại đi
chiến dịch Biên giới. Năm 1952, ông theo bộ đội chủ lực tiến vào giải phóng
Tây Bắc. Những chuyến đi ấy khiến ông trƣởng thành về mặt tƣ tƣởng và tạo
cho ông vốn sống phong phú.
Năm 1957, trong Đại hội thành lập Hội nhà văn Việt Nam, ông đƣợc bầu
làm Tổng thƣ kí của Hội, từ năm 1958 là Phó Tổng thƣ kí. Ông liên tục tham
gia Ban chấp hành Hội nhà văn đến năm1980. Trong một thời gian dài từ
1968 đến 1996, ông giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội.
Hiện tại ông đang sinh sống ở Hà Nội.
17
2.1.2. Sự nghiệp văn học
Khi mới bƣớc vào nghề, ông viết thơ lãng mạn và truyện võ hiệp sau đó
chuyển sang văn xuôi hiện thực.
Tô Hoài chính thức bƣớc vào nghề từ truyện ngắn “Nƣớc lên” (1940).
Cho tới nay ông đã có 65 năm cầm bút với trên 160 đầu sách. Hành trình sáng
tạo hơn nửa thế kỉ của Tô Hoài đƣợc chia làm hai giai đoạn: trƣớc và sau
Cách mạng tháng Tám 1945.
Trƣớc Cách mạng, đề tài chính của Tô Hoài là viết về loài vật và cuộc
sống của ngƣời dân nghèo ở các vùng ngoại ô.
Sau Cách mạng, đề tài sáng tác của Tô Hoài đƣợc mở rộng hơn, ông viết
về các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Tác phẩm của Tô Hoài đa dạng về thể loại, phong phú về số lƣợng với
sáng tác đã đƣợc lựa chọn và đƣa vào giảng dạy ở cả hai bậc học: THCS và
THPT.
Ở bậc THCS, các em đã đƣợc làm quen với nhà văn Tô Hoài thông qua
đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” đƣợc trích từ chƣơng 1 của tập
truyện “Dế mèn phiêu lưu kí” (1941), (SGK Ngữ văn 6, tập 2). Đoạn trích
miêu tả cả một thế giới loài vật đa dạng, sinh động, hồn nhiên, ngộ nghĩnh,
khao khát và say mê lí tƣởng, rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ. Điều đó đã tạo
nên sức hấp dẫn và yêu thích của các em trong giờ học. Ẩn chứa đằng sau đó
không chỉ là kiến thức mà còn là những bài học sâu sắc trong cách đối nhân
xử thế ở đời.
Lên bậc THPT, SGK Ngữ văn 12 (tập 2) tiếp tục giới thiệu một trích
đoạn văn bản “Vợ chồng A Phủ” (trích trong tập “Truyện Tây Bắc”) của Tô
Hoài (1953). Đây là tác phẩm từng đạt giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam