ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THI PHƢƠNG THẢO
GIẢNG DẠY TÁC PHẨM KÍ
TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA
“NGƢỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” CỦA NGUYỄN TUÂN
VÀ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG”
CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƢỜNG Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
6. Phương pháp nghiên cứu
6
7. Cấu trúc luận văn
6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN XÂY DỰNG PHƢƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY HAI TÁC PHẨM KÍ NGƢỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? 7
1.1. Đặc trưng thể loại kí/ tuỳ bút
7
1.1.1. Khái niệm
7
1.1.2. Đặc trưng thể loại
9
1.1.3. Kí và tuỳ bút trong chương trình Ngữ văn mới
11
1.2. Đặc sắc phong cách nghệ thuật nhà văn Nguyễn Tuân và Hoàng
Phủ Ngọc Tường
15
1.2.1. Nguyễn Tuân
15
1.2.2. Hoàng Phủ Ngọc Tường
21
1.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy
29
1.3.1. Những hạn chế của phương pháp giảng dạy truyền thống
29
3.1. Xác định nội dung, phương hướng dạy học theo dự án hai tuỳ bút
của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường
51
3.1.1. Xác định nội dung và cách thức gợi dẫn
53
3.1.2. Xác định kiến thức cơ bản
57
3.1.3. Xác định yêu cầu nội dung kiến thức liên hệ
60
3.1.4. Phương tiện dạy học
61
3.2. Thiết kế thể nghiệm
61
3.2.1. Định hướng thiết kế
61
3.2.2. Thiết kế
62
3.2.3. Tiến hành dạy thử nghiệm
91
3.2.4. Kết quả thực nghiệm
92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
96
1. Kết luận
96
2. Khuyến nghị
98
TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
PHỤ LỤC
cảm cho học sinh. Việc đưa nhiều tác phẩm tuỳ bút vào giảng dạy trong nhà
trường phổ thông là một sự đổi mới, đòi hỏi có những đổi thay thích ứng về
phương pháp dạy học.
2
1.4. Trong các thể loại văn học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ
thông, thể kí được đánh giá là thể loại tương đối khó tiếp cận. Trong đó có hai
thiên tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho
dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở chương trình Ngữ văn 12. Đây là
hai nhà văn lớn, hai cây bút viết kí thành công của văn học đương đại, là thế
hệ kế thừa rất sáng tạo của những cây đại thụ kí nghệ thuật Việt Nam từ sự
khởi đầu xuất sắc của Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Sĩ,… Tuy nhiên,
thực tiễn dạy học trong nhiều năm qua cho thấy ở cả hai khía cạnh: phương
pháp giảng dạy và hiệu quả giảng dạy đối với thể tuỳ bút không đồng đều
trong nhiều tiết học, đối với nhiều thầy cô và các em học sinh. Đặc biệt, tuỳ
bút Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường mới được đưa
vào giảng dạy một vài năm gần đây. Có không ít giáo viên vẫn lúng túng khi
xử lý về thể loại, phong cách tác giả và phương pháp tiếp cận tác phẩm; không
ít học sinh vẫn lúng túng khi đứng trước một thể loại tuỳ bút văn học đa dạng
và có chiều sâu trong lối thể hiện.
1.5. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Giảng dạy tác phẩm kí trong
trường trung học phổ thông qua Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai
đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường” xuất phát từ việc cần
thiết đưa ra những phương pháp phù hợp góp phần nâng cao chất lượng giảng
dạy thể tuỳ bút trong chương trình Ngữ văn 12; định hướng một cách cụ thể và
có hiệu quả cho việc tiếp cận hai tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn
Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ thể
loại, phong cách tác giả đến văn bản tác phẩm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề phong cách tác giả Nguyễn Tuân và Hoàng
nghiên cứu khá cụ thể về việc phân chia các tiểu loại kí, một vấn đề còn nhiều
vướng mắc trong nghiên cứu kí hiện nay. Bên cạnh đó còn có một số bài viết
của các nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê,
4
Trần Đình Sử,… bàn về các tác phẩm kí của Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch
Lam, Hoàng Phủ Ngọc Tường. Song những bài viết về giảng dạy kí lại vô
cùng hiếm hoi. Chỉ có đôi bài xuất hiện trong các tài liệu như: sách giáo viên,
các cuốn thiết kế giảng dạy (Thiết kế bài giảng Ngữ văn do Nguyễn Văn
Đường chủ biên, Thiết kế bài học ngữ văn do Phan Trọng Luận chủ biên).
Tuỳ bút là một tiểu loại của thể kí, là tiểu loại giàu tính văn học nhất. Với
những đặc trưng riêng của mình, kí đòi hỏi những phương pháp, biện pháp dạy
học riêng phù hợp với đặc trưng của thể loại. Chỉ có trong cuốn Vấn đề giảng
dạy văn học theo loại thể do GS Trần Thanh Đạm chủ biên (NXB Giáo dục
1976), việc giảng dạy kí mới được bàn đến với tư cách là một thể loại ngang
hàng với các thể khác như truyện, thơ, kịch… Trong phần Kí và giảng dạy kí,
GS Hoàng Như Mai đã trình bày tương đối chi tiết về đặc trưng và cách phân
loại các tiểu loại kí. Đây là một cơ sở khoa học đáng tin cậy cho việc giảng dạy
kí trong nhà trường phổ thông hiện nay. PGS.TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn
Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể đã đặc biệt chú ý
đến việc xác định “chất của loại” trong thể trong giảng dạy văn, nhưng tác giả
chưa đề cập đến phương pháp dạy học kí với tư cách là một thể loại.
Để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với hai tác phẩm trên, đề
tài: “Giảng dạy tác phẩm kí trong trường trung học phổ thông qua Người lái
đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng
Phủ Ngọc Tường” mong muốn nhìn nhận lại kết quả giảng dạy hai tác phẩm
trên trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất phương pháp tiếp cận tối ưu từ
phong cách tác giả, thể loại đến văn bản tác phẩm.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến những mục tiêu sau:
- Một số đặc trưng loại thể của tác phẩm tuỳ bút, những nét đặc sắc về phong
cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở thể loại này.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi giảng dạy hai thiên tuỳ bút Người
lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng
6
Phủ Ngọc Tường. Từ đó, đề xuất phương hướng giảng dạy đối với hai tác
phẩm trên.
- Thực nghiệm phương pháp dạy học đối với hai tác phẩm Người lái đò sông
Đà, Ai đã đặt tên cho dòng sông? theo yêu cầu đổi mới. Tìm hiểu khả năng
vận dụng và liên hệ tri thức của học sinh trên cơ sở bài học về nội dung hai
tác phẩm tuỳ bút trên.
5.2. Đóng góp mới của luận văn
- Điều tra, khảo sát và đánh giá về phương pháp và hiệu quả giảng dạy thể
loại tùy bút ở hai tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã
đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong trường trung học
phổ thông.
- Đề xuất phương pháp dạy học theo dự án đối với thể loại tùy bút, thiết kế
thực nghiệm hai tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã
đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong chương trình Ngữ
văn 12 tập 1.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê số liệu.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp tiếp cận tâm lý.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận
văn được trình bày trong ba chương:
truyện ngắn. Nhưng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết,
kí có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không
hư cấu. Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực
đời sống được phản ánh trong tác phẩm. Kí thường không có cốt truyện có
tính hư cấu. Sự việc và con người trong kí phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ
8
hẳn hoi. Đó là vì kí dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh
động, chứ không xây dựng những hình tượng mang tính khái quát. Tính khái
quát do tác giả kí thể hiện trong suy tưởng”.
Trong số các tiểu loại của kí, tuỳ bút là tiểu loại giàu tính trữ tình và thể
hiện rõ nhất những đặc trưng của tác phẩm văn học. Tuỳ bút nghiêng về phần
ghi nhận những cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của nhà văn trước những sự kiện
của đời sống khách quan hoặc xen kẽ kết hợp giữa việc biểu hiện, bình luận,
suy tưởng với miêu tả, kể chuyện. Nói vậy nghĩa là đối tượng khách quan trong
tuỳ bút được tái hiện một cách xác thực và tác giả tuỳ bút phải có bản lĩnh riêng
với cách cảm nghĩ sâu sắc, độc đáo về cuộc đời, phải đem lại một điều gì mới
mẻ với mọi người trong cách phát hiện, đề cập và lí giải vấn đề.
Tuỳ bút bao giờ cũng là sự kết hợp của một nguồn tri thức phong phú
và một cảm hứng trữ tình sâu lắng về cuộc đời, quê hương đất nước và nền
văn hoá dân tộc. Người đọc đến với tuỳ bút là được đến với những giây phút
đắm mình trong những dòng cảm xúc ngọt ngào về những gì tưởng rất bình
thường xung quanh ta mà chẳng mấy khi ta dứt khỏi những dòng xoáy sôi
động của nhịp sống hiện đại để nhìn, để suy ngẫm về nó. Đến với Người lái
đò sông Đà, học sinh không chỉ được tiếp thu một nguồn tri thức phong phú
về sông Đà mà còn là đến với những trang văn sinh động, hấp dẫn, đầy chất
thơ, một thế giới hình ảnh và màu sắc độc đáo. Đến với Thương nhớ mười
hai của Vũ Bằng, người đọc sẽ bị cuốn hút và say mê bởi một giọng điệu trần
thuật say mê và đằm thắm được kết dệt bởi một nỗi nhớ quê hương da diết của
một lữ khách tha phương, bởi những nét đẹp văn hoá, vẻ đẹp tinh tế của thiên
thêm thắt sẽ chỉ làm tổn hại đến niềm tin và cảm xúc thẩm mĩ nơi người đọc.
Sự thật của đời sống ở những mặt tiêu biểu và những nét kết tinh điển
hình có một ý nghĩa rất lớn lao, vừa có tính cá thể sinh động của những hiện
tượng riêng biệt lại vừa có khả năng mang tính chất điển hình tiêu biểu. Sự
thật đó lại xảy ra trong không gian và thời gian xác định của quá trình vận
10
động lịch sử nên càng có ý nghĩa của một hiện tượng không lặp lại trong lịch
sử. Nó có thể được miêu tả, kể lại trong tương lai với sự hỗ trợ của khả năng
hư cấu, tưởng tượng. Tuy nhiên, trong hiện tại khi sự kiện, đặc biệt là sự kiện
điển hình xảy ra trong những tình huống và thời điểm đặc biệt với tất cả những
đặc điểm và sắc thái riêng biệt thì việc chứng kiến và tái hiện trực tiếp lại
những sự kiện và tình huống đó có một ý nghĩa vô cùng hệ trọng. Thể kí có ưu
thế và năng lực sáng tạo đủ để đáp ứng yêu cầu đó.
Hiện thực đời sống phong phú hơn và đôi khi vượt ra khỏi khả năng
tưởng tượng, hư cấu của tác giả. Do đó, tác phẩm nghệ thuật phải miêu tả cuộc
sống một cách chắt lọc và tập trung. Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm phải
phong phú hơn, điển hình hơn hiện thực tự nhiên của cuộc sống. Tác phẩm tuỳ
bút cũng không nằm ngoài nguyên tắc sáng tạo đó của nghệ thuật. Từ đó có
thể thấy, tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả và vận dụng hư cấu để
hỗ trợ trong sáng tạo là những yêu cầu cần thiết và có thể kết hợp được trong
phạm vi của thể loại kí.
Nói đến hư cấu chủ yếu là nói đến hoạt động sáng tạo do trí tưởng
tưởng tạo nên bằng sự nhận thức tổng hợp những hiện tượng theo những liên
hệ có tính chất quy luật và từ đó sáng tạo ra những giá trị và nhân tố mới để
biểu hiện cuộc sống một cách chân thực và bản chất hơn. Tuy nhiên, trong kí,
hư cấu cũng không nên lạm dụng sử dụng một cách tuỳ tiện.
Từ đặc điểm trên về sự khác biệt giữa hiện thực có thật của cuộc sống
và hiện thực trong tác phẩm nghệ thuật, nhắc đến khả năng nhận thức của
người viết về không gian và thời gian của sự kiện, người viết kí không phải
tiếp tới người tiếp nhận, kí đã và sẽ có vị trí quan trọng trong văn học nhà
trường. Trên thực tế, nếu xác định đúng đặc trưng thể loại thì việc tiếp nhận kí
không quá khó đối với học sinh bởi thông thường tư tưởng của tác phẩm kí
được thể hiện trực tiếp ở ngôn ngữ trần thuật và thái độ, cảm xúc của tác giả.
Giọng điệu, đặc biệt là ở những tác phẩm kí văn học, thường mềm mại, uyển
12
chuyển với lối diễn đạt hấp dẫn, dễ đọc. Trong nhà trường phổ thông, việc học
thể kí vừa cung cấp cho học sinh hệ thống rất phong phú những tri thức về mọi
lĩnh vực của đời sống, vừa bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ, đồng thời rèn luyện
những kĩ năng viết cần thiết, nhất là văn biểu cảm. Kí, đúng như tên gọi ban
đầu là thể văn dùng để ghi lại sự việc, ý nghĩ, cảm xúc của người viết trước
những vấn đế của cuộc sống. Việc viết kí không chỉ là nhu cầu riêng của nhà
văn mà còn là của tất cả mọi người. Vì vậy việc giảng dạy kí phải đảm bảo
cung cấp đầy đủ nhất, trong khả năng có thể, những kiến thức loại hình và kĩ
năng kĩ xảo cần thiết để giúp học sinh không chỉ cảm thụ được vẻ đẹp văn học
của tác phẩm kí mà còn có khả năng viết kí ở những yêu cầu tối thiểu. Bởi vì
đây là thể văn gần gũi mà các em vẫn đọc và viết hàng ngày.
Sự xuất hiện nhiều hơn, phong phú hơn của những tác phẩm kí trong
chương trình Ngữ văn mới sẽ phát huy được khả năng tác động của tác phẩm
kí đối với sự phát triển của học sinh. Ngoài việc cung cấp cho học sinh một hệ
thống tri thức phong phú về khao học và đời sống, quan trọng hơn, tuỳ bút còn
giúp các em biết cảm nhận, biết rung động trước những vẻ đẹp của cuộc sống,
những vẻ đẹp vốn vẫn khiêm tốn ẩn sau những điều bình dị nhất của sự sống
như một hàng cây trong sân trường, một góc phố, một bến nước, một con
đường quen thuộc, một khoảng sân bé nhỏ, một cánh diều trong khoảng trời
chiều lộng gió, một giọt mồ hôi trên trán mẹ nhiều khi rất dễ rơi khỏi suy nghĩ
của các em. Tuỳ bút sẽ kết tụ “những giọt trầm” trong tâm hồn thế hệ tương lai
để các em bớt vô tâm, bớt lãnh cảm với những điều tưởng rất bình thường của
sự sống mà vô cùng quan trọng với mỗi người. Chắc chắn khi đọc những trang
cảm xúc. Sự thật là cái cớ để nhà văn thể hiện suy nghĩ của mình về cuộc đời.
Trình bày lượng kiến thức phong phú là cái cớ để Nguyễn Tuân thể hiện cảm
hứng ngợi ca phẩm chất nghệ sĩ và khả năng bất tận của con người.
Với tên gọi khác là tản văn, tuỳ bút khá phát triển ở Trung Quốc và đã
có một vị trí sang trọng trên văn đàn. Bàn về tản văn, nhà nghiên cứu Thẩm
14
Nghị Trinh quan niệm “Tản văn là loại hình nghệ thuật, trong quá trình
chuyển hoá cái đẹp hiện thực thành cái đẹp nghệ thuật, đặc trưng nổi bật của
tản văn là, chủ thể thường dựa vào hệ thống giá trị nào đó để tái hiện và biểu
hiện có thể bằng tưởng tượng nhưng không thể hư cấu các tồn tại khách qan
có liên quan đến thực tiễn cá nhân và chủ thể. Nếu phải vạch giới hạn đặc
điểm và tính quy phạm cho thể loại tản văn, thì tản văn là thể loại bày tỏ ngâm
vịnh, hồi ức của chủ thể tác giả về hình thái cuộc sống quần thể có liên quan
đến cá thể trên cơ sở tự thể nghiệm cuộc sống cá nhân, đồng thời là phương
thức đối thoại về cấp độ mĩ học giữa quần thể xã hội, tản văn phải nhờ vào
nhận thức thẩm mĩ của độc giả”. Định nghĩa này đã phân định rất rõ điểm
khác của tản văn so với thơ ca và tiểu thuyết, nhấn mạnh vai trò của tưởng
tượng suy ngẫm và thể nghiệm của người nghệ sĩ viết tản văn trước những vấn
đề có thật của cuộc sống. Đồng thời tác giả cũng lưu ý đến một phương diện
quan trọng của đời sống tác phẩm là sự tiếp nhận của độc giả với tản văn. Vì
tản văn “là phương thức đối thoại mĩ học” của nghệ sĩ với cuộc đời nên độc
giả cũng phải có năng lực cảm thụ thẩm mĩ khi đọc nó. Một niềm say sưa tiếp
thụ tri thức và một năng lực cảm thụ thẩm mĩ sẽ tiếp nhận được tản văn.
Vậy tuỳ bút là thể văn khá tự do, mạch văn phóng khoáng với một
trường liên tưởng rộng. Cái cốt lõi của tuỳ bút bao giờ cũng là một thông tin
hiện thực nào đó, và sự thực ấy là cái gốc để để mạch văn phát triển. Tuỳ bút
vừa có khả năng cung cấp cho bạn đọc một lượng tri thức phong phú và sát
thực về đối tượng, vừa giúp họ khám phá được chiều sâu của hiện thực đó.
Người viết tuỳ bút là người có vốn tri thức uyên thâm về cuộc sống và một
1.2. Đặc sắc phong cách nghệ thuật nhà văn Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ
Ngọc Tƣờng
1.2.1. Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân (10/07/1910-28/07/1987), quê xã Nhân Mục nay thuộc
phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội; xuất thân trong một gia đình
16
dòng dõi khoa bảng. Ông thân sinh_cụ Tú Lan_ là một nhà nho tài hoa bất đắc
chí có ảnh hưởng nhiều đến cá tính nhà văn.
Nguyễn Tuân là một cây bút có phong cách hết sức độc đáo. Ông bước
vào nghề văn như để chơi Ngông với thiên hạ và ông đã trau dồi học vấn, tài
hoa của mình để có thể đứng từ đỉnh cao của tài nghệ mà trêu ghẹo lại cái thế
giới tầm thường, hèn hạ, xám xịt của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, con buôn,
viên chức. Đó là phản ứng của chủ nghĩa cá nhân kiêu ngạo ở một thanh niên
giàu sức sống nhưng bế tắc. Một cái ngông vừa có màu sắc cổ điển tiếp nối
truyền thống của những nhà thơ bất đắc chí kiểu Nguyễn Công Trứ, Tú
Xương, Tản Đà… và trực tiếp hơn, của cụ Tú Lan, thân sinh ra nhà văn; vừa
có màu sắc hiện đại tiếp thu được ở chủ nghĩa siêu nhân của Nit-sơ, quan niệm
con người cao đẳng của Git-đơ và các thức tư tưởng nổi loạn khác thường thấy
trong văn học phương Tây hiện đại.
Ngông là một sự chống trả với mọi nền nếp, phép tắc, mọi thứ đạo lí
thông thường của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời. Ở
Nguyễn Tuân, nhu cầu chơi ngông buộc ông đẩy mọi thứ bình thường lên tới
mức cực đoan.
Sau CM tháng 8, cái ngông ấy không còn lí do gì để tồn tại nữa vì xã
hội đã đổi mới, Nguyễn Tuân không có lí do gì để đối lập, gây sự, ngạo đời.
Tuy nhiên, chất ngông trong sáng tác của Nguyễn Tuân vẫn được xem
như là nét phong cách nghệ thuật độc đáo riêng. Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ
có hai câu thơ tự hoạ:
Trời đất cho ta một cái tài
một cái yết hầu, Đừng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách, Có
quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia, Ngồi trong khoang
đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở
hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ
mấy nào vừa tắt phụt đèn điện” (Người lái đò sông Đà). Phải là người có óc
18
tưởng tượng sáng tạo và trường liên tưởng phong phú, Nguyễn Tuân mới tạo
ra được những đoạn văn độc đáo và thú vị đến vậy.
Không đọc Nguyễn Tuân thì mấy ai biết đến con sông Đà đoạn chảy qua
Tây Bắc có lắm cái thác hung dữ đến như Hát Moong, Hát Tiểu; mấy ai biết đến
những người lái đò vượt thác Tây Bắc dũng trí tuyệt vời như ông lái đò.
1.2.1.2. Chủ nghĩa xê dịch
Nguyễn Tuân học theo chủ nghĩa xê dịch cũng là một trong những biểu
hiện của lối chơi ngông. Với ông, đi không cần mục đích, không cần đến nơi,
cốt là cứ được hiện diện trên khắp mặt đất này, dù bằng phương tiện gì, đi
nhanh chậm ra sao. Nguyễn Tuân đã có cả một Thiếu quê hương để bày tỏ sở
thích, cũng là xu hướng của bản thân.
Ban đầu, nguyên nhân của xu hướng đó bắt nguồn từ tâm lí bực bội của
cả một thế hệ thanh niên trí thức thời Pháp thuộc đầy sức sống, đầy khát vọng
tự khẳng định mình nhưng lại bị trói buộc, vây hãm vào môi trường thị dân,
viên chức tầm thường, nhạt nhẽo, quẩn đọng như một vũng ao tù, muốn thoát
ra mà không biết thoát bằng cách nào. Với Nguyễn Tuân, đó là “một nguồn
sống bồng bột tắc lối thoát” (Tóc chị Hoài). Cách mạng tháng 8 đem lại cuộc
sống mới xây dựng chủ nghĩa xã hội khẩn trương, nhộn nhịp trên miền Bắc,
Nguyễn Tuân vẫn giữ xu hướng xê dịch, nhưng là xê dịch vì tấm lòng gắn bó
thiết tha hơn ai hết của nhà văn đối với quê hương đất nước mình.
Xê dịch cũng là để tận mắt nhìn thấy, chứng kiến vẻ đẹp tuyệt vời của non
sông, con người quê hương, để rồi từ đó sản sinh ra những trang viết chân thực
hơn, gần gũi hơn với độc giả. Ông viết trong Một lá thư không gửi: “ Tôi muốn
theo tinh thần mới, thường là để phát hiện và diễn tả vẻ đẹp tuyệt vời của Tổ
quốc mình:
“Đã có lần tôi nhìn sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi
cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi
mất là mình sắp đổ ra sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang
loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái
20
miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba trong Đường thi Yên hoa tam
nguyệt há Dương Châu…” (Sông Đà).
1.2.1.4. Những trang tuỳ bút tài hoa
Từ những đặc điểm trên mà Nguyễn Tuân tìm đến với tuỳ bút như một
lẽ tất yếu.
Tuỳ bút Nguyễn Tuân có nhiều yếu tố truyện. Nếu đọc truyện ngắn,
truyện dài của ông, người ta thường thấy pha chất tuỳ bút thì ngược lại, đọc
tuỳ bút của ông người ta lại thấy có pha chất truyện. Nghĩa là có dùng nhiều
đến dựng cảnh, dựng truyện, mô tả tâm lí, khắc hoạ tính cách nhân vật đến
một chừng mực nào đấy.
Tuỳ bút Nguyễn Tuân đồng thời lại mang đậm chất kí, nghĩa là ghi chép
sự thật và thông tin thời sự chính xác. Một thứ tuỳ bút pha kí sự, du kí hay phóng
sự điều tra. Đặc điểm ấy thêm tác phong khảo cứu đào sâu đã giúp cho tuỳ bút
Nguyễn Tuân có lượng thông tin đáng tin cậy và có nhiều giá trị tư liệu.
Đặc điểm tuỳ bút là giàu tính trữ tình, tác giả tuỳ bút được phép trực tiếp
bộc lộ cảm nghĩ của mình, thông qua cái tôi chủ quan mà phản ánh hiện thực.
Những trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân hết sức tự do; mạch văn theo dòng
suy nghĩ miên man, chuyện nọ gọi chuyện kia dường như cứ theo trí nhớ mà liên
tưởng, tạt ngang hoặc đảo lộn bất chấp trình tự thông thường của thời gian,
không gian. Lối hành văn như thế có ưu điểm là biến hoá linh hoạt, không đơn
điệu tẻ nhạt, lượng thông tin phong phú, hình tượng chồng chất đa dạng.
Nói đến tuỳ bút Nguyễn Tuân, phải nói đến giá trị của nó về mặt văn
học Huế. Trong thời gian học đại học và dạy học ở Huế, ông tích cực tham gia
các phong trào kháng chiến chống Mĩ-nguỵ trong sinh viên và trong lực lượng
giáo chức Huế, phụ trách nhiều tờ báo của phong trào. Từ năm 1964 đến 1975,
ông gia nhập mặt trận dân tộc giải phóng Huế, thoát li lên chiến khu hoạt
động, từng làm Tổng thư kí Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà
bình thành phố Huế, Tổng thư kí Hội Văn học nghệ thuật Trị Thiên, tham gia
22
chính quyền cách mạng Quảng Trị. Sau 1975, ông trở lại Huế công tác, chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ. Hiện nay, tuy vừa thoát khỏi căn bệnh
hiểm nghèo, còn ngồi trên xe lăn nhưng nhà văn vẫn tiếp tục sáng tác, vẫn
sống hết mình cho văn học nghệ thuật.
Trước 1975, cũng giống như mọi người dân khác, Hoàng Phủ Ngọc
Tường dồn sức cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Phải đến sau 1975, sức viết
của ông mới bừng dậy. Ông viết nhiều về những ngày đã qua, về hiện tại và
tương lai.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đến với thể kí như một cái duyên tiền định.
Toát lên trong toàn bộ sáng tác của ông là cảm hứng và niềm đam mê đối với
vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam. Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về
những gì mà ông tâm đắc và đã có quá trình tìm tòi, quan sát, chiêm nghiệm,
có thể là về vấn đề chiến tranh, về cuộc sống đời thường, về văn hóa nghệ
thuật. Đó là những vấn đề có ý nghĩa đối với sự sống. Về tính chính xác của
thông tin, nhà văn từng viết: “Bây giờ ngay cả những công chúng bình thường
cũng đòi hỏi các tác giả viết về Huế đầu tư nhiều trí tuệ hơn, hiểu biết vấn đề
có chiều sâu hơn, và trước hết, cung cấp thông tin chính xác hơn” (Hãy dè
chừng lối viết). Đây chính là một trong những quan niệm chi phối sáng tác
của Hoàng Phủ.
Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tùy bút viết về Huế, mà nhân tố quan
trọng làm nên giá trị đặc sắc của tác phẩm là màu sắc văn hóa rất đậm nét.
Hoàng Phủ là nhà văn có sở trường về nội dung này. Theo ông, văn hóa là một