SKKN kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng dạy môn vật lý ở trường trung học phổ thông - Pdf 22

SKKN: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng
dạy môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
MỤC LỤC
Số TT Nội dung Trang
A.
B.
1.
2.
3.
3.1
3.1
3.2
3.3
4.
5.
6.
C.
Đặt vấn đề………………………………………………………………
Giải quyết vấn đề.
Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu vấn đề……………………
Phương pháp nghiên cứu.……………….…….………………………
Nội dung
Một số kinh nghiệm trong soạn giáo án và tiến hành bài giảng
Những công việc thực tế đã làm.…………………………… ………
Kết quả đạt được.…………………………………………… …….…
So sánh đối chứng.…………………………………………….….……
Bài học kinh nghiệm .………………………………………… ……
Phạm vi áp dụng.…………………………………………… …… …
Những vấn đề bỏ ngỏ.…………………………………………….……
Kết luận.……………………………………………………… ………
2

kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh, chống lại thói quen học tập thụ động.
Áp dụng các PP tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PP truyền thống. Cần kế thừa, phát
triển những mặt tích cực trong hệ thống các PPDH. Đặc biệt là những huyện vùng sâu, vùng
xa còn khó khăn như huyện Iapa cần phải vận dụng một số PPDH mới phù hợp với điều kiện
dạy và học của vùng. PP tích cực có rất nhiều như : PP vấn đáp tìm tòi ; PPDH đặt và giải
quyết vấn đề; PP thảo luận nhóm.
Trong quá trình giảng dạy cũng như qua việc dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy PP thảo luận
nhóm giúp cho giờ dạy thêm sôi nổi, học sinh hứng thú, giờ dạy đạt hiệu quả hơn.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .
1.Thực trạng trước khi nghiên cứu vấn đề :
Thời gian gần đây, việc dạy - học môn Vật lý trong trường THPT nói chung và trường
THPT Nguyễn Tất Thành nói riêng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực hoá hoạt
động học tập của học sinh. Tuy vậy, việc áp dụng PP TLN còn một số vướng mắc sau :
 Sự vận dụng những định hướng đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động của
người học chưa được thường xuyên và còn máy móc. Ví dụ: Áp dụng quá nhiều PP TLN
trong một tiết học dẫn đến có những câu hỏi rất đơn giản trong khi những câu hỏi như vậy chỉ
cần cho học sinh độc lập suy nghĩ là đủ.
 Việc phân nhóm và điều hành học sinh thảo luận còn gặp khó khăn.
Thực hiện : Bùi Đức Hạnh Trang 2
SKKN: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng
dạy môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
 Dự kiến thời gian chưa phù hợp: Nếu quá ít, các em sẽ không có đủ thời gian thảo luận.
Nếu quá nhiều, sẽ lãng phí thời gian dành cho các hoạt động khác, lớp học sẽ lộn xộn.
 Học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học nếu không được giao
nhiệm vụ, hoặc nếu có được giao nhiệm vụ thì còn lúng túng khi cùng nhau giải quyết vấn đề.
Trên đây là một số vấn đề nổi cộm trong thực tế. Nếu chúng ta biết chọn lựa những câu
hỏi phù hợp với đối tượng học sinh và đặc trưng của tiết học thì sẽ đạt hiệu quả như mong
muốn.
2. Phương pháp nghiên cứu .

b) Phải chuẩn bị chu đáo về điều kiện, phương tiện cho giờ học: Như là
+ Hệ thống các câu hỏi: Câu hỏi kiểm tra kiến thức, kĩ năng cũ (phiếu học tập). Câu hỏi
điều khiển hoạt động nhận thức của HS. Câu hỏi vận dụng, củng cố bài (phiếu học tập)
+ Phương tiện và thiết bị dạy học: Tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm,
hoá chất, vật liệu tiêu hao Bảng phụ, máy chiếu,
+ Hình thức tổ chức lớp học, nơi học
+ Sử dụng CNTT: Câu hỏi trắc nghiệm, thí nghiệm ảo, các đoạn video
c) Tổ chức cho HS hoạt động chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng phù hợp với mục tiêu :
Nội dung một số hoạt động dạy học cụ thể trong vật lí:
+ Tổ chức tình huống học tập (chủ yếu là xác định nhiệm vụ học tập): Đặt câu hỏi
nghiên cứu. Nêu dự đoán. Đề ra giả thuyết.
+ Thu thập thông tin: Quan sát các sự kiện, hiện tượng, TN. Tìm được những thông tin
cần thiết từ sách, báo Lập kế hoạch khám phá (Ví dụ: thiết kế TN; lựa chọn dụng cụ TN;
chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong TN, những yếu tố không thay đổi khi
làm TN). Tiến hành khám phá (Ví dụ : bố trí, lắp đặt dụng cụ thiết bị TN; thực hiện TN; thay
đổi phương án TN nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra). Ghi các kết quả khám phá
(Ví dụ : đọc số chỉ của các dụng cụ TN ở mức độ cẩn thận và chính xác cần thiết; lập bảng
kết quả; biểu diễn kết quả bằng đồ thị, sơ đồ, )
+ Xử lí thông tin: Lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó phân tích dữ
liệu và nêu ý nghĩa của chúng. Tìm quy luật từ biểu, bảng, đồ thị. Phân loại dấu hiệu giống
nhau, khác nhau, nhận biết những dấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát
So sánh, phân tích, tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận.
+ Truyền đạt thông tin: Mô tả lại những thí nghiệm đã làm. Trình bày, giải thích những
việc đã làm (bằng lời, bằng hình vẽ, đồ thị, ). Nêu kết luận đã tìm thấy được.
+ Vận dụng, ghi nhớ kiến thức: Giải các bài tập (định tính, định lượng, thực nghiệm); Làm
đồ chơi, dụng cụ học tập, Học thuộc lòng.
Kinh nghiệm cho thấy khi dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS
bằng PP TLN trong thời gian một tiết học 45 phút, GV thường dễ bị “cháy” giáo án vì xảy ra
nhiều tình huống khác với dự kiến. Do đó GV cần cân nhắc, xác định hoạt động trọng tâm,
phân bổ thời gian hợp lí. Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS hoạt động

của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của nó là rèn luyện năng lực hợp tác.
đ) Sử dụng thiết bị thí nghiệm và phương tiện dạy học theo hướng tích cực.
Các thiết bị dạy học được sử dụng không chỉ minh hoạ lời giảng giải của GV mà chủ yếu
là phương tiện để HS khai thác tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức. Do vậy, nên để HS
được tự tay làm thí nghiệm, quan sát, đo đạc và rút ra nhận xét; HS tìm hiểu cấu tạo, cách sử
dụng một dụng cụ đo; nghiên cứu các số liệu đã cho trong bảng để rút ra kết luận.
3.2. Những công việc thực tế đã làm.
Lớp học là môi trường giao tiếp thày trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con
đường chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động độc lập của cá nhân và thảo luận nhóm.
Thông qua thảo luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ. Qua
đó người học nâng mình nên một trình độ mới.
Khi áp dụng PP TLN cần tôi tiến hành theo các bước sau :
a/ Làm việc chung cả lớp .
- Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức rồi đưa ra câu hỏi hoặc tình huống
- Tổ chức các nhóm , giao nhiệm vụ cho các nhóm. Lớp học được chia thành các nhóm từ
4-6 HS. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau .
Thực hiện : Bùi Đức Hạnh Trang 5
SKKN: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng
dạy môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
- GVhướng dẫn cách làm việc trong nhóm. Có nhiều hình thức học tập nhóm, tuỳ từng nội
dung vấn đề, GV có thể lựa chọn những hình thức học tập nhóm cho phù hợp . ở đây tôi chỉ
xin đưa ra một số hình thức học tập nhóm phổ biến.
 Làm việc theo cặp : Hai HS ngồi gần nhau tạo thành một cặp cùng bàn bạc một vấn đề
 Thảo luận vòng tròn : HS trong nhóm dùng bút nét to ghi lại ý kiến của mình trên một
tờ giấy đã chuẩn bị sẵn sau đó lần lượt cho những HS khác trong nhóm cùng thảo luận .
 Thảo luận hỗn hợp : HS trong nhóm tranh luận , nhóm trưởng ( thư kí) ghi lại
b/ Làm việc theo nhóm.
- Các nhóm tự bầu ra nhóm trưởng. Nhóm trưởng phân công cho mỗi thành viên một
công việc, điều hành các thành viên làm việc trong không khí thi đua với các nhóm khác. Có
thể trong nhóm sẽ bầu ra thư kí để ghi chép .

Nêu đặc điểm độ lớn lực tương tác giữa 2 điện tích điểm?
Biểu thức của định luật Cu-lông và ý nghĩa của các đại lượng ?
+Câu 5 : Điện môi là gì? Hằng số điện môi cho biết điều gì?
+Câu 6 : Làm bài tập trắc nghiệm:
1. Trong những cách sau cách nào có thể làm nhiễm điện cho một vật?
A. Cọ chiếc vỏ bút lên tóc. B. Đặt một nhanh nhựa gần một vật đã nhiễm điện;
C. Đặt một vật gần nguồn điện; D. Cho một vật tiếp xúc với viên pin.
2. Trong các hiện tượng sau, hiện tượng nào không liên quan đến nhiễm điện?
A. Về mùa đông lược dính rất nhiều tóc khi chải đầu;
B. Chim thường xù lông về mùa rét
C. Ôtô chở nhiên liệu thường thả một sợi dây xích sắt kéo lê trên mặt đường;
D. Sét giữa các đám mây.
3. Điện tích điểm là
A. vật có kích thước rất nhỏ. B. Điện tích coi như tập trung tại một điểm
C. vật chứa rất ít điện tích. D. điểm phát ra điện tích.
+Câu 7 :
1. Hai điện tích điểm trái dấu có cùng độ lớn 10
-4
/3 C đặt cách nhau 1 m trong parafin có điện
môi bằng 2 thì chúng
A. hút nhau một lực 0,5 N. B. Hút nhau một lực 5N
C. đẩy nhau một lực 5N. D. đẩy nhau một lực 0,5 N.
2. Hai điện tích điểm cùng độ lớn 10
-4
C đặt trong chân không, để tương tác nhau bằng lực có
độ lớn 10
-3
N thì chúng phải đặt cách nhau
A. 30000 m. B. 300m. C. 90000 m. D. 900 m.
+Câu 8 :

Biểu thức định luật Coulomb:
2
21
r
qq
kF
ε
=
Nhóm 5 : Học sinh trả lời được: Điện môi là chất không cho dòng điện chay qua (không có
điện tích tự do bên trong). Hằng số điện môi cho biết lực tương tác giữa các điện tích giảm
bao nhiêu lần so với lực tương tác giữa các điện tích đó trong chân không.
Nhóm 6 : Học sinh nêu được đáp án: Câu 1: A; Câu 2: B; Câu 3:A;
Nhóm 7: Học sinh giải và nêu được đáp án: Câu 1: B; Câu 2: B;
Nhóm 8 : Học sinh giải và nêu được đáp án: Câu 3: A; Câu 4: A;
Học sinh trao đổi , thảo luận trong nhóm. Cử đại diện trả lời.
c/ Thảo luận , tổng kết trước cả lớp.
Thực hiện : Bùi Đức Hạnh Trang 8
SKKN: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng
dạy môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
- Đại diện nhóm trình bày trước lớp : lần lượt từ nhóm 1 – 8.
- Sau khi nhóm 1-4 trình bày xong thì dừng lại để các bạn trong lớp nêu câu hỏi .
- Học sinh thảo luận , giáo viên sửa chữa nếu cần ( bổ xung một vài tư liệu đã chuẩn bị
bằng bảng phụ nếu cần thiết ).
Cuối cùng giáo viên tổng kết được vấn đề đã đưa ra .Chú ý: Câu 1-3: Ôn tập kiến thức về
điện tích. Câu 4,5 là Nghiên cứu về tương tác giữa hai điện tích điểm.Câu 6-8: Vận dụng,
củng cố.
Mỗi tiết học chỉ nên từ 1 đến 3 hoạt động nhóm. Không nên sử dụng quá nhiều ảnh hưởng
đến nội dung khác vì thời gian của một tiết học là có hạn định, nội dung kiến thức lại rất dài.
PP TLN huy động được mọi học sinh tham gia. Học sinh được nói nhiều hơn, được suy nghĩ
nhiều hơn như vậy đã phát huy được tính tích cực trong mỗi học sinh. Tuy nhiên để truyền

11A2 48,3 46,7 51,7 53,3 0 0
3/ So sánh đối chứng.
Trước khi áp dụng kinh nghiệm Sau khi áp dụng kinh nghiệm
2. Giáo viên chỉ đưa ra một hình thức
thảo luận và yêu cầu học sinh thảo luận .
3. Việc áp dụng phương pháp dạy học
này chỉ là hình thức , giáo viên đưa ra
câu hỏi cho học sinh thảo luận quá dễ ,
các em có thể trả lời ngay được.
4. Giáo viên dự kiến thời gian không hợp
lí.
5. Lớp học lộn xộn vì các em tranh nhau
nói hoặc do làm xong trước thời gian quy
định hoặc trầm buồn vì các em không ai
chịu trao đổi , bàn bạc.
2. Giáo viên đã vận dụng linh hoạt các hình thức
học tập nhóm trong khi cho học sinh thảo luận.
3. Giáo viên đưa ra được các câu hỏi phù hợp để
học sinh làm việc theo nhóm.
4. Giáo viên đã biết phân bố thời gian hợp lí cho
từng câu hỏi.
5. Học sinh học tập tích cực hơn , tham gia thảo
luận sôi nổi hơn. Không khí lớp học vui vẻ , hào
hứng hơn.

Khi chưa áp dụng kinh nghiệm này, qua dự giờ tôi thấy giáo viên còn lúng túng trong việc
hướng dẫn học sinh thảo luận. Nhiều giáo viên không thường xuyên sử dụng phương pháp
này trong dạy học hoặc sử dụng phương pháp này chỉ là hình thức. Đứng trước thực trạng đó
tôi đã mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm này. Tôi nhận thấy khi áp dụng kinh nghiệm này hoạt
động thày – trò , trò – trò phối hợp nhịp nhàng hơn, không khí lớp học sôi nổi hơn, học sinh

* Đối với học sinh.
 Phải chuẩn bị bài trước ở nhà, đọc thêm các sách tham khảo để nâng cao vốn hiểu biết.
 Tham gia nhiệt tình, tự giác vào các hoạt động học tập .
 Mạnh dạn trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của mình trước tập thể.
Thực hiện : Bùi Đức Hạnh Trang 11
SKKN: Kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong việc giảng
dạy môn Vật lý ở trường trung học phổ thông
5. Phạm vi áp dụng .
Kinh nghiệm này của tôi có thể áp dụng trong các tiết dạy Vật lý ở nhà trường THPT.
6. Những vấn đề còn bỏ ngỏ .
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là một quá trình
lâu dài. Không thể ngày một, ngày hai mà đông đảo giáo viên từ bỏ được kiểu dạy học truyền
thụ kiến thức theo kiểu tiếp thu thụ động đã quen thuộc từ trước. Việc phát triển PP TLN đòi
hỏi cả thầy và trò phải tìm hiểu, nghiên cứu kĩ bài học, phải mất nhiều thời gian, công sức
hơn nghĩa là phải làm việc nhiều hơn .
Phần trình bày về kinh nghiệm này còn là một vấn đề nhỏ trong các phương pháp dạy học
tích cực. Còn một số phương pháp dạy học tích cực khác cần được phát triển mà tôi chưa có
điều kiện đề cập đến. Để giảng dạy có hiệu quả một giờ học môn Vật lý cần có sự phối kết
hợp linh hoạt của các PPDH theo hướng đổi mới và các phương pháp truyền thống.
C. KẾT LUẬN.
Vai trò của người giáo viên là hết sức to lớn , quyết định đến sự thành công của hoạt động
học tập của học sinh và chất lượng giáo dục. Trong giảng dạy môn Vật lý, giáo viên chỉ có
nhiệt tình thôi chưa đủ, mà phải có PPDH theo hướng tích cực lấy học sinh làm trung tâm.
Khi thực hiện kinh nghiệm này, tôi có một số băn khoăn muốn đưa ra để đồng nghiệp và các
các nghành quan tâm hơn nữa :
Một là, GV phải tích cực hơn nữa trong phong trào đổi mới PP dạy, tạo hứng thú, say mê
trong giờ học môn Vật lý.
Hai là, Cần đầu tư phòng thí nghiệm thực hành, bổ sung các loại sách tham khảo , tranh
ảnh minh hoạ cho bài học, máy chiếu… để phục vụ cho giáo viên và học sinh.
Ba là , Tôi rất mong nhận được sự góp ý để việc giảng dạy đạt kết quả cao hơn góp phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status