Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học tích hợp trong giờ đọc hiểu văn bản văn học - Pdf 53

Sở giáo dục và đào tạo Thanh hóa

TrUờng thpt Lý THNG KIT

SNG KIN KINH NGHIM

MộT Số KINH NGHIệM VậN DụNG PHƯƠNG PHáP
DạY HọC TíCH HợP TRONG Giờ Đọc hiểu
văn bản văn học

Ngời thực hiện: Lờ Th Hng Hnh
Chc v : Giỏo Viờn
n v cụng tỏc: Trng THPT Lý Thng Kit
Lnh vc: Ng Vn.

THANH HểA, NM 2018


MỤC LỤC
I.Mở đầu ...........................................................................................................1
1.1.Lí do chọn đề tài:..........................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu:..................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu:.................................................................................1
1.4. Phương pháp nghiên cứu:............................................................................1
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:.....................................2
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề: ............................................................................2
2.2. Cơ sở thực tiễn:............................................................................................2
2.3. Thực trạng của việc vận dụng PPDH tích hợp trong bộ môn Ngữ văn hiện
nay:......................................................................................................................3
2.4. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:.......................................5
2.5. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:........................................................17

Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác dạy học
tích hợp một giờ học môn Ngữ Văn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này sẽ tổng kết kinh nghiệm dạy học sử dụng phương pháp tích hợp
trong giờ đọc hiểu văn bản văn học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài này, tôi sử dụng một số phương
pháp như: phân tích, so sánh, phân loại, thống kê.
2


II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
2.1.1. Quan điểm về nội dung và phương pháp giáo dục của Nhà nước ta
là giáo dục toàn diện. Điều 5, Luật Giáo dục [1] ghi rõ: “ Nội dung giáo dục phải
đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống “ . “ Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học.”
2.1.2. Quan điểm đó được cụ thể hóa trong việc thiết lập chương trình và
biên soạn sách giáo khoa theo hướng tích hợp và PPDH tích hợp được Bộ chỉ đạo
cho cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên trực tiếp đứng lớp học tập và áp dụng.
2.1.3. Việc vận dụng PPDH tích hợp là một trong những cơ sở đánh giá
hiệu quả của một tiết dạy về mặt phương pháp .
2.1.4. Đặc trưng bộ môn Ngữ văn có khả năng lớn trong việc vận dụng
PPDH tích hợp:
- Nội dung, kiến thức, mục tiêu cần đạt ở ba phân môn Đọc hiểu, Tiếng
Việt, Làm văn có quan hệ mật thiết với nhau và đều hướng tới mục tiêu cuối
cùng là nâng cao trình độ sử dụng Tiếng Việt và khả năng cảm thụ văn học cho
học sinh.
- Cả ba phân môn là những môn học có tính chất công cụ và có tính nghệ

2.3. Thực trạng của việc vận dụng PPDH tích hợp trong bộ môn Ngữ
văn hiện nay:
2.3.1. Thực trạng: Như đã phân tích ở trên, việc sử dụng PPDH tích hợp
là một tất yếu trong dạy học bộ môn Ngữ văn. Thế nhưng, việc vận dụng
phương pháp này trong thực tế không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả.
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng PPDH tích hợp.
Do đó, dẫn đến việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu, làm
cho chất lượng bài dạy không đạt.
Ví dụ: Đọc hiểu truyện ngắn “ Những đứa con trong gia đình ” của
Nguyễn Thi, khi phân tích các đặc điểm phẩm chất của những con người trong
gia đình nhân vật Việt, cần phải liên hệ đến phẩm chất của các nhân vật trong tác
4


phẩm “Rừng xà xu” của Nguyễn Trung Thành để thấy rõ hơn, sâu sắc hơn
những phẩm chất lịch sử của con người Việt Nam thời kháng chiến chống Mĩ
đồng thời để thấy vẻ đẹp riêng của mỗi con người ở những vùng văn hóa, vùng
đất khác nhau. Có như vậy mới giúp học sinh thấy được mối liên hệ của các tác
phẩm, chiều sâu của hình tượng…
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến
thức được tích hợp không có mối liên hệ gắn bó.
Ví dụ: Đọc hiểu truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu lại đem so sánh nhân vật người đàn bà làng chài với nhân vật bà Hiền
trong tác phẩm “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải về tiêu chí vai trò của
người phụ nữ trong gia đình thì qủa là gượng ép. Bởi lẽ, hai người đàn bà trong
hai gia đình ở hai hoàn cảnh khác nhau, được xây dựng bởi hai cảm hứng khác
nhau thì làm sao mà liên hệ so sánh được.
+ Nhiều giờ dạy, giáo viên lựa chọn đơn vị kiến thức tích hợp chưa đúng
trọng tâm.Vẫn thừa nhận là dạy học cần vận dụng PPDH tích hợp song việc vận
dụng này là để phục vụ cho mục tiêu của bài dạy chứ không phải là sử dụng tích

Từ những nguyên nhân trên, có thể thấy, việc áp dụng một PPDH nhỏ mà
không đúng dẫn đến một hậu quả lớn. Đó là:
+ Học sinh không nhận ra được sự gắn kết của các đơn vị kiến thức trong
SGK, một vấn đề mà người biên soạn sách rất lưu tâm.
+ Học sinh không cảm nhận được chiều sâu, những vẻ đẹp riêng của mỗi
tác phẩm văn học trong hệ thống thể loại, đề tài, chủ đề.
+ Ảnh hưởng đến chất lượng viết bài làm văn ở học sinh .Đó là sự vận
dụng kết hợp các kiến thức Tiếng Việt, Văn học, các môn học khác vào Làm văn
không phong phú. Tức là ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
+ Ảnh hưởng đến phương pháp và năng lực cảm thụ văn học của học sinh.
2.4. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
2.4.1. PPDH tích hợp trong môn Ngữ Văn là gì?
Tích hợp trong quá trình dạy học là sự phối kết hợp các tri thức của một
số môn học có những nét chính, tương đồng xoay quanh một chủ đề nào đó. Nói
cách khác, tích hợp là phương pháp phối hợp một cách riêng lẻ các môn học
6


khác nhau, các phân môn học khác nhau theo những hình thức, cấp độ khác
nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích , yêu cầu cụ thể nào đó của tiết
học. Tích hợp trong môn Ngữ văn là sự kết nối tri thức giữa ba phân môn: Tiếng
Việt, Đọc hiểu và Làm văn và giữa môn Ngữ Văn với các môn học khác. Đó
chính là phương pháp tiếp cận kiến thức từ việc khai thác các tri thức cụ thể của
các phân môn, liên môn trên cở sở một hoặc một số bài học có những nội dung,
đơn vị kiến thức liên quan.
2.4.2. Xác định đúng nội dung, mục tiêu tích hợp:
Để vận dụng PPDH tích hợp có hiệu quả, người dạy cần phải xác định
chính xác, đúng đắn mục tiêu, nội dung , nguyên tắc, phương pháp tích hợp
trong bài dạy. Theo kinh nghiệm của tôi, các nội dung trên sẽ là:
2.4.2.a. Mục tiêu: (Trả lời câu hỏi: sử dụng PPDH tích hợp trong bài dạy

đứa con trong gia đình” để so sánh và khái quát nội dung nêu trên như: “Rừng
xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành, “Đất ”của nhà văn Anh Đức. Nghĩa là
tôi vừa cho học sinh thấy sự liên kết giữa các bài học trong chương trình vừa
giúp học sinh kĩ năng, vốn kiến thức để làm văn.
- Về nội dung cần tích hợp trong bài dạy: Với bài dạy này tôi chọn nội dung
cần tích hợp để so sánh, đối chiếu, củng cố và khắc sâu kiến thức học sinh là:
+ Những vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật Chiến và Việt (so sánh với
Dít, Tnú trong tác phẩm “Rừng xà nu”, nhân vật ông Tám trong tác phẩm “Đất”)
+ Kĩ năng nghị luận về tác phẩm, đoạn trích tác phẩm văn xuôi (đã học ở
bài trước) và làm bài viết ở bài sau.
+ Sử dụng các nội dung của bài học Nhân vật giao tiếp để phân tích đoạn
hội thoại của hai nhân vật Việt và chị Chiến trong tác phẩm.
- Về nguyên tắc tôi dựa vào mục tiêu cần đạt của tiết học (theo tài liệu
chuẩn kiến thức):
+ Hiểu được vẻ đẹp phẩm chất cách mạng truyền thống của những con
người trong gia đình Việt đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người
Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
+ Kĩ năng nghị luận về đoạn trích tác phẩm văn xuôi.
8


- Về phương pháp, tôi tiến hành xác định nội dung tích hợp trong bài dạy.
Đó là:
+ Những vẻ đẹp phẩm chất của hai nhân vật Chiến và Việt.
+ Kĩ năng nghị luận về tác phẩm, đoạn trích tác phẩm văn xuôi (đã học ở
bài trước)
+ Sử dụng các nội dung của bài học Nhân vật giao tiếp để phân tích đoạn
hội thoại của hai nhân vật Việt và chị Chiến trong tác phẩm. Trên cơ sở đó, tôi
lựa chọn các dữ liệu cụ thể để tích hợp (sẽ nói ở sau).
2.4.3. Chuẩn bị các dữ liệu để tích hợp:

ở mỗi tác phẩm.
+ Tiến hành tạo các dữ liệu: Viết sẵn ý đồ vào thiết kế bài dạy hay các thẻ
tư liệu cầm tay. Sau đây là một dạng thẻ dữ liệu cầm tay:Các bài thơ “Việt Bắc”
( Tố Hữu ), “Đất nước” ( Nguyễn Đình Thi ), “Bên Kia sông Đuống” ( Hoàng
Cầm ), “Đất nước” (“Trường ca Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa
Điềm ) có những điểm chung sau:
* Viết cùng một đề tài quê hương đất nước. Phần lớn viết trong bối cảnh
đất nước bị ngoại xâm
* Cảm hứng: bày tỏ lòng yêu quê hương đất nước, tự hào, ngợi ca đất
nước, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
* Cách thể hiện: Thơ trữ tình. Điểm khác biệt: Hoàng Cầm viết về chính
quê hương mình trong nỗi đau bị giặc chiếm đóng và tàn phá. Tố Hữu viết về
chiến khu Việt Bắc trong sự gắn bó với cách mạng và kháng chiến. Nguyễn
Đình Thi viết về một đất nước đang lớn lên trong nhận thức, tư tưởng của mình
còn Nguyễn Khoa Điềm lại viết về một đất nước vừa gần gũi gắn bó vừa rất đỗi
thiêng liêng trong tâm thức mọi người. Tất cả góp phần làm phong phú thêm
gương mặt đất nước trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.
2.4.4. Sử dụng linh hoạt các hình thức tích hợp:
Có hai hình thức tích hợp cơ bản sau:
2.4.4.a. Tích hợp ngang: là hình thức tích hợp liên môn, liên phân môn và
là hình thức tích hợp theo từng thời điểm. Cụ thể là đối với môn Ngữ Văn, giáo
10


viên sử dụng tri thức của các phân môn Tiếng việt , Lí luận văn học, Làm văn để
giãi mã VBVH hoặc ngược lại.
Ví dụ: Khi dạy bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh, tôi đã sử dụng kiến
thức của bài Luật thơ, phần luật của thể thơ năm chữ để lí giải âm điệu, nhịp
điệu của bài thơ và lối tự sự - trữ tình của tác giả trong bài thơ
II.4.4.b. Tích hợp dọc: Tích hợp theo thể loại, đề tài, chủ đề của

2.4.6. Minh họa những điều đã rút ra trên đây trong một bài học sử dụng
PPDH tích hợp .
Sau đây là một bài học minh chứng rõ ràng nhất cho các hình thức tích
hợp đã nêu ở trên. Đây là giờ đọc hiểu văn bản dạy học tích hợp liên môn Ngữ
Văn, Lịch Sử, Giáo Dục Công Dân trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Tên bài học: DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN NGỮ VĂN – LỊCH
SỬ - GDCD TRONG TÁC PHẨM “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN
A. Các nội dung liên quan:
+ Môn Ngữ Văn:
Ngữ Văn 10, tiết 37 tóm tắt văn bản tự sự.
Ngữ Văn 11, tiêt 25 thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng.
+ Môn Lịch Sử:
Lịch Sử 12, tiết 16 phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
Tháng Tám 1939-1945.
+ Môn GDCD:
GDCD 10, tiết 11, một số phạm trù cơ bản của đạo đức học.
B. Cụ thể như sau:
Trong phần yêu cầu học sinh tóm tắt tác phẩm là tôi đã tích hợp với
phân môn Làm văn bài “ Tóm tắt văn bản tự sự”_ Ngữ Văn 10. Trong phần nêu
ý nghĩa nhan đề “Vợ nhặt” của tác phẩm, nêu ý nghĩa của từ “chậc, kệ” , nêu ý
nghĩa của từ “ phấp phỏng” thể hiện tâm trạng của bà cụ Tứ ,tôi đã tích hợp với
phân môn Tiếng Việt “Thực hành nghĩa của từ trong sử dụng” – Ngữ Văn 11.
Khi giảng về cái đói cái chết nơi xóm ngụ cư và cái đói ở gia đình nhân
vật Tràng, tôi sẽ lồng kiến thức môn Lịch Sử về nạn đói mà dân ta đã trải qua
năm 1945. Đồng thời sẽ cho các em xem một vài tranh ảnh, tư liệu về nạn đói.
12


Tranh ảnh, tư liệu lịch sử nói về nạn đói năm 1945 do gv và hs sưu tầm:


sau này nêu con số 1 triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó
thì thiên về con số 2 triệu, là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Ảnh Võ An Ninh

Những xác người chết chưa kịp chôn cất. Ảnh Võ An Ninh.
Ruộng mùa có 22.000 mẫu, gặt được 6.362 mẫu. Mỗi mẫu độ 3 tạ. Số
thóc đã thu nộp là 2.664 tấn. Ruộng chiêm 22.283 mẫu, chỉ cấy có 10.093 mẫu.
Dân số phủ Kim Sơn (Ninh Bình) ngót 11 vạn, một vạn đã bỏ đi.

[4].
---------------------------------------[4]. Trích bài báo: “ Tận mắt xem 19 bức ảnh về nạn đói năm 1945 của cố nghệ sĩ Võ
An Ninh”, báo giaoduc.net.vn ngày 11/06/2012, nguồn Internet

15


Tổ chức công nhân cứu quốc ở nhà in báo Tin Mới đã bí mật dập lại đem
giao cho nhà văn Tô Hoài chuyển đến báo Cứu Quốc (bí mật) của Tổng bộ,
trong đó có đoạn: “Người chết đói nhiều đến nỗi không thể chôn kịp, vì người đi
chôn cũng đã ốm đói rồi... Ảnh Võ An Ninh.
Dân phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) có 15 vạn người, số chết mỗi ngày
khoảng 500. Thóc phải nộp nhà nước là 1.250 tấn, nhưng chức dịch chỉ thu được
986 tấn. Dân đói phải ăn củ chuối và ăn cả thịt người...”. Ảnh Võ An Ninh.

Mỗi ngày có 400 người chết. Nếu không được cứu, đến tháng 5, số chết sẽ
tới 5 vạn. Ruộng cày được 2.400 mẫu, mỗi người hơn 2 sào. Vụ tháng 10 sẽ thu
mỗi năm nhiều nhất là 2 tạ thóc, cộng là 4.800 tấn. “Công toa” nhà nước thu
thóc đã thu 1.586 tấn, chỉ còn 3.214 tấn, chia ra thì mỗi đầu người được 32 cân,
ăn trong 6 tháng. [5]


- Nm c nhng nột c sc v ngh thut ca thiờn truyn: sỏng to
tỡnh hung, bỳt phỏp hin thc, gi khụng khớ, miờu t tõm lớ, dng i thoi...
- Biết trân trọng những giá trị tình cảm của con ngời:
sự yêu thơng đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh khốn cùng
nhất, biết vợt lên trên hoàn cảnh để sống tốt đẹp hơn.
- Cm ghột bn phong kin, thc dõn Phỏp v phỏt xớt Nht gõy ra nn úi
thờ thm.
- c bi p lũng t ho, tinh thn noi gng th h ụng cha u tranh
v nn c lp t do ca T Quc.
- Sng phi cú nim tin, tinh thn lc quan, ngh lc sng.
2.5. Hiu qu ca sỏng kin kinh nghim:
2.5.1. V phớa hc sinh:
i tng kho sỏt:
Hc sinh lp 12 C1 trng THPT Lý Thng Kit nm hc 2017-2018.
- a s cỏc em u hng thỳ vi gi hc, nm c trng tõm bi hc
nhanh v sõu sc hn.
- Tng cng vic gn kin thc lý thuyt v thc hnh trong nh trng
vi thc tin i sng;
2.5.2. V phớa giỏo viờn:
- Khuyn khớch hc sinh vn dng kin thc ca mụn Ng vn v cỏc
mụn hc liờn quan, tng cng kh nng vn dng tng hp, kh nng t hc, t
nghiờn cu ca hc sinh.
- Gúp phn i mi hỡnh thc, phng phỏp dy hc v i mi kim tra,
ỏnh giỏ kt qu hc tp.
18


III. Kết luận và đề xuất:
Tôi nhận thấy cần tiếp tục chú trọng hơn nữa PPDH tích hợp. Mỗi giáo
viên cần đầu tư thích đáng hơn nữa trong quá trình giảng dạy, đặc biệt ở những

Nam.
[6]. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức - kĩ năng môn Ngữ Văn, Nhà
Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam, 2010.
[7]. Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 12- Nguyễn Kim Phong chủ
biên, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam năm 2009.
[8]. Chuyên đề dạy học Ngữ Văn 12 – Vợ nhặt ( Kim Lân)- chủ biên
Hoàng Dục, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam năm 2008.
[9]. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ Văn 12 ( Nguyễn Văn Hiếu –
Nguyễn Thị Mai Lan – Nguyễn Thị Tuyết Nhung ), Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Việt Nam 2010.

20


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Hồng Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Lý Thường Kiệt, TP Thanh Hóa.

TT
1.

Tên đề tài SKKN

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status