Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÝ MAI PHƢƠNG
HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH
“AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?” CỦA HOÀNG PHỦ
NGỌC TƢỜNG TỪ ĐIỂM NHÌN VĂN HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Hùng
Thái Nguyên, năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng – người thầy đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn
và khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên - Đại học Thái
Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện,
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Chƣơng 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA KÍ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA 8
1.1. Nguồn gốc văn hóa của văn học 8
1.2. Kí là thể loại văn học có khả năng biểu hiện sự phong phú của
văn hóa 11
1.2.1. Nội dung biểu hiện của văn hóa trong kí 11
1.2.2. Đặc sắc văn hóa trong kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường 14
1.2.3. Giá trị văn hóa trong kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” 20
Chƣơng 2. VẬN DỤNG ĐỌC HIỂU KÍ “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO
DÕNG SÔNG ?” TRONG DẠY HỌC 25
2.1. Kiến thức cơ bản trong dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương 25
2.1.1. Quan niệm về đọc hiểu 25
2.1.2. Nội dung đọc hiểu 26
2.1.3. Tri thức đọc hiểu. 27
2.1.4. Kĩ năng đọc hiểu 28
2.2. Đọc hiểu kí theo đặc trưng thể loại 31
2.2.1. Yếu tố bền vững của thể loại kí 31
2.2.2. Yếu tố thi pháp của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường 35
2.3. Mô hình đọc hiểu kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường 37 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
Chƣơng 3. NHỮNG BIỆN PHÁP HƢỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC
HIỂU “AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ?” TỪ ĐIỂM NHÌN
VĂN HÓA 43
3.1. Những khuynh hướng dạy học đọc hiểu “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” hiện nay 43
3.2. Hướng dẫn đọc hiểu “Ai đã dặt tên cho dòng sông ?” trong chương
trình và sách giáo khoa Ngữ văn 46
sông ?” từ điểm nhìn văn hóa 70
4.5.2. Dạy thực nghiệm 88
4.5.3. Dạy đối chứng 92
4.5.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 95
4.5.5. Kết luận chung về quá trình thực nghiệm. 98
KẾT LUẬN 100
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐƢỢC CÔNG BỐ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 107
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1.
GS
Giáo sư
2.
GV
Giáo viên
3.
HPNT
Hoàng Phủ Ngọc Tường
4.
chung. Đây là một việc làm cần thiết và cấp bách, nhằm phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động của học sinh. Trong dạy học tác phẩm văn chương, đọc
hiểu là mục đích cao nhất của việc đọc văn. Mặc dù, hiểu được tầm quan
trọng và ý nghĩa của dạy đọc hiểu, nhưng vận dụng như thế nào có hiệu quả
vào thực tế vẫn còn là điều băn khoăn với không ít giáo viên dạy Văn. Dạy
thế nào để giúp học sinh vừa rèn luyện kĩ năng đọc hiểu vừa không làm giảm
chất văn của môn văn là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
1.2. Thực tế dạy học văn trong nhà trường THPT hiện nay đang đứng
trước “sự khủng hoảng”, “chất lượng dạy văn, học văn trong nhà trường sa
sút nghiêm trọng” (Phan Trọng Luận). Cho đến nay, việc áp dụng phương
pháp đọc hiểu vẫn chưa có sự thống nhất. Không ít giáo viên vẫn dạy học
theo lối đọc chép, bên cạnh đó nhiều giáo viên dạy văn theo phương pháp đọc
hiểu nhưng vẫn chưa lĩnh hội hết tinh thần của nó. “Ai đã đặt tên cho dòng
sông ?” là bài kí mới được đưa vào chương trình nên vấn đề đọc hiểu tác
phẩm còn gây trở ngại cho việc dạy của giáo viên cũng như sự lĩnh hội của
học sinh. Từ đó dẫn đến hiện tượng chưa hiểu đúng và đầy đủ những giá trị
của tác phẩm.
Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề giảng dạy tác
phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” nhưng sử dụng phương pháp đọc hiểu
để khai thác tác phẩm từ điểm nhìn văn hóa thì vẫn chưa có công trình nào
đề cập đến. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
1.3. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu và phê bình văn
học đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa văn hoá và kí. Bởi kí là thể loại văn
học sử dụng những tri thức văn hóa tinh thần. Cho nên, việc giảng dạy tác
phẩm kí từ điểm nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết với mong muốn học
thành giờ đọc hiểu văn bản Ngữ văn. Ở Việt Nam, mặc dù đọc hiểu vào muộn
hơn các nước phát triển trên thế giới, nhưng đã có một số thành tựu đáng kể
của các nhà khoa học như GS.TS Nguyễn Thanh Hùng, GS. Trần Đình Sử,
TS. Nguyễn Trọng Hoàn đó là những người dành nhiều tâm huyết cho việc
nghiên cứu đọc hiểu ở nước ta.
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng với một số bài báo và tiểu luận như: Dạy
đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người học, Năng lực đọc hiểu tác phẩm
văn chương của học sinh THPT, rèn luyện năng lực đọc hiểu đã khẳng định
vị trí và vai trò quan trọng của việc dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn trong
trường phổ thông, làm sáng tỏ một số phương diện thuộc về bản chất của dạy
học đọc hiểu. Đặc biệt, năm 2008, tác giả đã công bố một công trình nghiên
cứu khoa học mang tên: “Đọc – hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường”,
cuốn sách đã trình bày một cách rõ ràng và khoa học về lí thuyết đọc hiểu, nội
dung đọc hiểu, cách thức đọc hiểu, quy trình đọc hiểu, tri thức dọc hiểu và
chiến lược đọc hiểu. Đó là những đóng góp có ý nghĩa quan trọng trong việc
mở ra một hướng đi mới cho vấn đề dạy học văn trong trường phổ thông.
Là một nhà Lí luận văn học song GS. Trần Đình Sử cũng rất quan tâm
đến dạy đọc hiểu và đã có những bài viết đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề
đọc hiểu Ngữ văn trong nhà trường. Trong cuốn: “Đọc văn, học văn” GS. Khẳng
định: “Học văn trước hết là phải đọc hiểu văn có đọc hiểu văn mới biết thế nào
là văn hay, thế nào là thị hiếu văn lành mạnh ” (đọc văn, học văn).
Tiếp đến, TS. Nguyễn Trọng Hoàn, một người dành nhiều tâm huyết
cho vấn đề đọc hiểu văn bản Ngữ văn ở trường phổ thông đã có nhiều bài báo,
tạp chí viết về đọc hiểu trong đó phải kể đến các cuốn sách: Đọc hiểu văn bản
Ngữ văn các lớp 6, 7, 8, 9,10 Tác giả trình bày một cách rõ ràng quan niệm
về đọc hiểu trên cả phương diện lí thuyết và thực hành. Chú trọng các khâu và
cấp độ đọc hiểu và dạy đọc hiểu là rèn luyện kĩ năng tự đọc hiểu văn bản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Đặc sắc của kí Hoàng Phủ Ngọc Tường qua tập “Ai đã đặt tên cho dòng
sông ?” của Nguyễn Thị Nhung. Tác giả đi sâu vào phân tích thiên nhiên và
con người trong kí của Hoàng Phủ, đặc điểm kí của Hoàng Phủ qua các giai
đoạn trong chiến tranh và cuộc sống đời thường, một số yếu tố nghệ thuật
trong bút kí.
“Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh phổ thông qua dạy học tuỳ bút
“Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” Hoàng Phủ Ngọc Tường” – Lê Hồng Mai. Tác
giả luận văn tập trung làm rõ mục đích, ý nghĩa quan trọng của dạy đọc hiểu văn
bản Ngữ văn trong trường phổ thông, tìm hiểu đặc trưng của tùy bút và phương
hướng dạy học tùy bút, đề ra cách thức gợi dẫn và phương hướng dạy học tùy
bút: “Ai đã đặt tên cho dòng sông? ” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
“Dạy học: “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên
cho dòng sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường theo cá tính sáng tạo của nhà
văn”- Nguyễn Thị Hồng Lam. Tác giả đi sâu vào nghiên cứu đặc trưng thể
loại kí và cá tính sáng tạo của nhà văn, tiếp cận hai đoạn trích trên theo cá tính
sáng tạo của nhà văn, so sánh phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và
Hoàng phủ Ngọc Tường trên nhiều phương diện: đề tài, ngôn ngữ, giọng
điệu để làm nổi bật sự khác biệt giữa hai tác giả.
Tất cả những công trình trên đều có ý nghĩa thiết thực để giáo viên sử
dụng làm tài liệu tham khảo. Các tác giả không chỉ nêu bật đặc trưng thể loại
mà còn giúp học sinh nắm được giá trị tác phẩm cũng như phong cách của tác
giả. Tuy nhiên, tất cả các đề tài trên đều chưa thực sự đề cập cụ thể đến cách
thức đọc - hiểu đoạn trích: “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” từ điểm nhìn văn
hoá. Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ giúp cho việc dạy học thể kí nói chung và
kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói riêng(“Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” )
đạt hiệu quả. Đồng thời giáo viên có thể vận dụng được những tri thức liên
tên cho dòng sông ?” trong nhà trường THPT từ điểm nhìn văn hóa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn vận dụng lí thuyết đọc hiểu vào dạy học tác phẩm “Ai đã đặt
tên cho dòng sông ?” từ điểm nhìn văn hóa.
5. Giả thuyết khoa học
Việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng
sông ?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường từ điểm nhìn văn hóa nếu biết tiếp cận
và phân tích nội dung văn hóa một cách phù hợp thì hiệu quả dạy học đọc
hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” sẽ đạt kết quả tốt hơn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp, biện pháp
khoa học sau:
- Phương pháp so sánh đối chiếu tư liệu
- Phương pháp tiếp cận văn hóa
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: quan sát, phiếu trắc nghiệm, dạy
học thực nghiệm đối chứng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và tài liệu tham khảo,
luận văn gồm bốn chương
- Chƣơng 1: Mối quan hệ giữa kí văn học và văn hóa
- Chƣơng 2: Vận dụng đọc hiểu kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông
?”trong dạy học
- Chƣơng 3: Những biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu “Ai đã đặt
tên cho dòng sông ?” từ điểm nhìn văn hóa
- Chƣơng 4: Thực nghiệm dạy học “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” từ
xuyên thấm các giá trị văn hóa để tạo ra một giá trị văn hóa vừa quen vừa mới
lạ trong tác phẩm văn học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Một mặt văn học có nguồn gốc từ văn hóa, chịu sự chi phối của văn
hóa, mặt khác văn học cũng tác động trở lại văn hóa. Bằng nghệ thuật ngôn từ
các nhà văn có thể đấu tranh, phê phán một số biểu hiện văn hóa đồng thời
cũng khẳng định ngợi ca những giá trị văn hóa dân tộc. Qua tác phẩm văn học
chúng ta được biết văn hóa của từng vùng miền, từng dân tộc. Ta biết xứ Kinh
Bắc với nhiều lễ hội, chùa chiền, tranh Đông hồ qua “Bên kia sông Đuống”
của Hoàng Cầm, ta còn biết đến văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên qua sử thi
Đam Săn đó là những giá trị văn hóa cần được gìn giữ, bảo tồn. Tuy nhiên,
bằng lương tâm, trách nhiệm và tài năng của mình các nhà văn không chỉ ngợi
ca văn hóa mà còn mạnh dạn, thẳng thắn phê phán một số biểu hiện tiêu cực
của văn hóa qua tác phẩm văn học. Tiểu thuyết và phóng sự của nhà vănVũ
Trọng Phụng lên án lối sống văn minh rởm hợm và sự suy đồi về đạo đức của
giới thượng lưu Việt Nam đầu thế kỷ XX. Qua “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn
Tô Hoài đã phê phán chế độ thần quyền, cường quyền của bọn chúa đất và
nạn mê tín, dị đoan của người dân miền núi Tây Bắc như vậy, Văn học tái
hiện và phản ánh trung thành cuộc sống trong đó văn hóa là yếu tố mang ảnh
hưởng quan trọng.
Văn hóa biểu hiện và chi phối đến văn học từ cách xử lí đề tài, thể hiện
chủ đề đến xây dựng nhân vật nhưng hai phương diện biểu hiện cụ thể và
quan trọng nhất của văn hóa trong tác phẩm văn học là con người và ngôn
ngữ. Đây là hai yếu tố quan trọng góp phần làm nên giá trị nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm. Con người là hình tượng trung tâm của tác phẩm văn học,
trong thơ là hình tượng nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình, trong truyện ngắn,
văn học và phân biệt nó với các loại hình nghệ thuật khác như kiến trúc, hội
họa, âm nhạc và điêu khắc. Mỗi nhà văn bằng tài năng sáng tạo và ngôn từ
nghệ thuật làm nên phong cách của riêng mình. Vì vậy, tiếp cận từ phương
diện ngôn ngữ có thể cho ta thấy được tri thức và sự am hiểu văn hóa của nhà
văn cũng như đặc sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Đọc tác phẩm của Leptonxtoi,
Gorki, Sê khốp chúng ta thấy được văn hóa Nga, đọc “Đàn ghi ta của lor- Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
ca” của Thanh Thảo ta đến được với văn hóa Tây Ban Nha, truyện kí và tùy
bút của Nguyễn Tuân đưa ta đến với văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Tìm
hiểu một tác phẩm văn học nào chúng ta cũng cần dựa vào ngôn ngữ để nhận
định và phân tích nó. Ngôn ngữ chính là nơi lưu giữ và biểu hiện những yếu
tố văn hóa của dân tộc, từ mã ngôn ngữ người đọc phát hiện ra mã hình tượng
để hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học. Mỗi một
thể loại văn học mang trong mình một đặc điểm ngôn ngữ khác nhau. Ngôn
ngữ trong thơ hàm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, ngôn ngữ trong truyện,
tiểu thuyết thiên về kể, tả, đối thoại, bình luận dù mang đặc điểm khác nhau
nhưng thông qua ngôn ngữ người đọc nhận ra được yếu tố văn hóa chứa đựng
trong tác phẩm văn học.Trong tác phẩm kí, ngôn ngữ thường không thể hiện
gián tiếp qua nhân vật hay người kể chuyện mà chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp
của tác giả. Cho nên, những con người, sự kiện, phong tục tập quán được
biểu hiện bởi lớp ngôn từ thông báo mà giàu sắc thái thẩm mĩ. Từ đó, giúp
cho học sinh có thể tiếp nhận kí một cách trực tiếp và hấp dẫn.
Như vậy, văn hóa và văn học có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung
cho nhau trong tiến trình phát triển của chúng. Văn học là một bộ phận, một
yếu tố trong hệ thống văn hóa, chịu ảnh hưởng của văn hóa song văn học
cũng tác động trở lại văn hóa. Văn học có nguồn gốc từ văn hóa, mang đậm
tượng tác giả lại thể hiện rõ nét như trong kí. Là thể loại tự do, phóng khoáng,
không bị bó buộc bởi quy luật chặt chẽ trong sáng tác, cho nên, kí là mảnh đất
màu mỡ cho tác giả làm chủ ngòi bút thể hiện bản ngã của mình. Tuy nhiên,
điểm mạnh của kí cụ thể là tùy bút, bút kí là giàu chất trữ tình, triết luận. Do
vậy, hình tượng tác giả không chỉ là người trần thuật một cách thuần túy các
sự kiện, hiện tượng trong đời sống mà sâu xa hơn còn bộc lộ những trải
nghiệm và suy nghĩ của bản thần mình trong tác phẩm. Hình tượng tác giả là
người trực tiếp tham gia vào thế giới hình tượng nghệ thuật, bằng khả năng
quan sát, liên tưởng, tưởng tượng sẽ kết nối các chi tiết, sự việc, sự kiện lại
với nhau là hình tượng trung tâm của thế giới nghệ thuật, hình tượng tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
thường bộc lộ rõ lập trường tư tưởng của nhà văn về một hoặc một số hiện
tượng nào đó của cuộc sống. Thông qua hình tượng tác giả, tác phẩm kí sẽ có
giá trị và sức truyền cảm lớn hơn. Trong “Người lái đò sông Đà” Nguyễn
Tuân đã khắc họa hình tượng nhân vật ông lái đò như một nghệ sĩ tài hoa trên
sông nước, qua đó, thể hiện được tài năng của chính kí giả. Hình tượng tác giả
hiện lên một cách trực tiếp trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông ?” với những
nhận xét cụ thể: “Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già ”, “Đã nhiều
lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày” bên cạnh đó, hình ảnh
con người trong bài kí còn hiện lên qua lối so sánh liên tưởng đầy thi vị ví
sông Hương với hình ảnh cô gái di gan phóng khoáng và man dại, người con
gái đẹp ngủ mơ màng, người mẹ phù sa Qua đó, ta thấy rằng hình tượng con
người trong văn học nói chung và trong kí nói riêng là một phương diện hàm
chứa nhiều nội dung văn hóa, biểu hiện rõ nét bản sắc văn hóa của dân tộc của
đất nước.
Kí nói chung và kí văn học nói riêng là thể loại văn học phản ánh con
Văn Lâu, Rất nhiều ánh lửa, Như con sông từ nguồn ra biển, Ai đã đặt tên
cho dòng sông ?, Hoa trái quanh tôi sinh ra và lớn lên ở Huế, Huế mộng,
Huế thơ từ lâu đã là cái nôi của các danh nhân, nghệ sĩ. Chính mảnh đất này
đã nuôi dưỡng và hun đúc cho tâm hồn nghệ sĩ của Hoàng Phủ Ngọc Tường
ngay từ thuở ấu thơ. Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, ông dồn toàn bộ
tâm hồn, tài năng và trí lực cho mảnh đất Huế, Ông cho rằng “chỉ có thể nhận
ra diện mạo của Huế đích thực bằng tâm thức. Cái có thể nhìn bằng tâm thức
đó chính là văn hóa”(Di tích và con người). chúng ta nhận thấy, trên những
trang kí của Hoàng Phủ một lượng tri thức phong phú về văn hóa Huế đã lần
lượt khi trực tiếp, lúc gián tiếp hiện ra trước mắt người đọc một cách sống
động. Đến với kí của Nguyễn Tuân, người đọc bàng hoàng, kinh ngạc về tầm
hiểu biết sâu rộng ở tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống, cách sử dụng ngôn từ
tài hoa, tinh xảo, câu văn góc cạnh, độc đáo, có người gọi văn hóa trong kí
Nguyễn Tuân là thứ văn hóa đường trường. Kí của Hoàng Phủ có nét riêng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
cũng miêu tả về thiên nhiên, con người với vốn tri thức sâu rộng nhưng có
cái gì đó của dư vị trầm lắng, trữ tình, giàu chất thơ, dường như nó len lỏi và
lắng sâu trong tâm hồn của mỗi người đọc. Đó phải chăng chính là văn hóa
Huế - Một thứ văn hóa chỉ riêng có ở Huế không thể lẫn với miền quê nào
khác trên đất nước Việt Nam.
Văn hóa biểu hiện trong kí Hoàng Phủ trên mọi phương diện từ cách
đặt tiêu đề đến cách lựa chọn đề tài, chủ đề, nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ.
Trong đó con người và ngôn ngữ là hai phương diện mang đậm bản sắc văn
hóa Huế và được tác giả thể hiện rõ nét trong nhiều bút kí của mình.
Con người là hình tượng trung tâm của tác phẩm văn học, trong kí có
thể là hình tượng nhân vật, có thể là hình tượng tác giả. Nhân vật xuất hiện
đó là cảnh trù phú của những biền bãi xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long màu
xanh của tre trúc, vườn cau Vĩ Dạ. Như vậy, hình tượng con người nhân dân
thấp thoáng không biểu hiện đã làm nên những biểu hiện của văn hóa.
Con người trong kí của Hoàng Phủ không phải chỉ là nhân vật đơn
thuần hiện lên để minh chứng cho một tư tưởng nào đó của tác giả mà sâu hơn
đó là những con người luôn băn khoăn, day dứt, con người suy tư, con người
của sự chiêm nghiệm trong quá trình nhận thức chân lí. Đó là hình ảnh của
con người mang đậm nét văn hóa Huế. Người Huế không có tính cách nóng
nảy như người miền Bắc, không thẳng thắn như người miền Nam mà thâm
trầm, kín đáo và sâu sắc. Mỗi nhân vật trong kí của Hoàng Phủ như lột tả, như
tái hiện được tính cách của người Huế. Việt trong “Ngôi sao trên đỉnh Phu
Văn Lâu” đã có những dòng suy nghĩ về sông Hương “Việt bỗng thấy yêu
sông Hương một cách kì lạ, pha lẫn với niềm tự hào của một người đã hiểu
dòng sông từ nguồn của nó ”, đó như những dòng tâm sự từ đáy lòng của tác
giả dành cho người thân của mình. Chính Hoàng Phủ trong một lần ra đảo,
được chứng kiến cảnh thầy giáo Thi- người học trò năm xưa của mình, giờ
đang miệt mài dạy chữ cho những người dân nghèo trên đảo đã bộc bạch:
“Mãi cho đến tối nay, khi đứng nhìn những người học viên đủ các lớp tuổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
đang bắt đầu bài học vỡ lòng với một vẻ quyết tâm chưa từng thấy, tôi mới
phát hiện ra điều vô lí ấy, mặc dù tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố này, và
tôi đã tự hào rằng tôi đã đi cùng với Huế trong tận nỗi thủy chung của tâm
hồn, Huế như một tình yêu lớn của đời tôi. Vâng, có lẽ cho đến bây giờ tôi
chưa thật sự đã yêu Huế hết lòng”(Rất nhiều ánh lửa). Là nhà văn suốt đời
gắn bó với Huế, yêu Huế tha thiết vậy mà có lúc ông cảm thấy hoài nghi về
tình cảm của mình xen lẫn chút ăn năn, day dứt vì bản thân đã chưa cống hiến