TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Vài thập kỷ cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam như có phần chững
lại, ít gặt hái được những thành công rực rỡ. Người ta thường nhắc đến
những thành công ở thể loại truyện ngắn của nhiều cây bút có thương hiệu
như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,
Còn ở thể loại tiểu thuyết, trong vài thập kỷ này, dường như đang vắng bóng
những tên tuổi nổi trội.
Trước thực tế đó, những người quan tâm đến sự phát triển của tiểu
thuyết đã phải lên tiếng hoặc giống những hồi chuông 
về tiểu thuyết. Chuyên luận  của nhiều tác
giả cùng các bài viết nghiên cứu phê bình của những cây bút tiểu thuyết có
nghề đang hâm nóng bầu không khí tiểu thuyết. Kết quả, có khá nhiều ý kiến
trái ngược nhau khi đánh giá thực trạng tiểu thuyết đương đại. Nhà văn Ma
Văn Kháng trong bài viết  !" trên báo
Văn nghệ số 46 năm 2002 đã khái quát về tình hình tiểu thuyết Việt Nam như sau:
#$%&% '() #**
+,+#-./)01#23%
"%45%46(7#8
Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Xuân Khánh cho ra đời cuốn tiểu thuyết Đội
gạo lên chùa đã làm xôn xao văn đàn Việt Nam. Là một trong những cuốn tiểu
thuyết có mặt trong danh sách đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và đã
được công chúng đoán nhận như một món ăn tinh thần vì qua đó họ tìm thấy
những giá trị nhân văn và chiều sâu văn hóa dân tộc. Đây thực sự là một kết quả
đáng trân trọng của nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Cuốn tiểu thuyết đã gặt hái thành công trên nhiều phương diện, có nhiều
giá trị, nhưng ấn tượng nổi bật là thế giới nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh rất
phong phú, đa dạng, sinh động và hấp dẫn tàn đầy tình yêu và dục tính.
Hiện nay đã có không ít ý kiến, bài nghiên cứu phê bình về cuốn tiểu thuyết
này, chủ yếu là nói đến vấn đề Phật giáo. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có
công trình khoa học nào viết chuyên về nghệ thuật xây dựng nhân vật cho tác

lộ một dấu chỉ Phật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như
tri thức tiếp nhận thuộc chốn cửa thiền, một không gian văn hóa riêng biệt, đòi hỏi
thái độ tìm biết vừa trang nghiêm, vừa có phần e dè”.
Một trong những bài viết quan trọng mà báo 0 đăng tải (số 27, ngày
2 – 7 – 2011) như một cái nhìn gợi ý và tham chiếu cho thảo luận về 9#:
; là của nhà nghiên cứu trẻ Đoàn Ánh Dương có tên: @?(A$
 Đội gạo lên chùa <BC@. So sánh với hai tiểu thuyết trước
đó của Nguyễn Xuân Khánh, tác giả viết: “9#:; không kiến giải về
dân tộc qua người đại diện chính đáng của nó như DEFGH, cũng không kiến
giải về dân tộc qua thời đoạn thử lửa khốc liệt của nó (ý nói IJ%4) –
tôi thêm), ở đấy (tức 9#:; – tôi thêm), kiến giải về dân tộc xuất phát
từ chính lịch sử của sự xây dựng dân tộc ấy, một dân tộc theo quan niệm hiện đại,
trải dài suốt thời hiện đại”.
Nhiều tờ báo ở ta, kể cả những tờ không chuyên về văn học cũng rất quan
tâm đến 9#:;. Trên báo D)7 (28 – 6 – 2011), Châu Diên ghi
nhận sự đổi mới thi pháp của tác giả, Hoàng Quốc Hải xác định tư tưởng tác phẩm
là sự bày tỏ lối sống Phật giáo, người Việt “tùy duyên” mà tiếp nhận đạo Phật như
thế nào. Giáo sư Phong Lê khen “vốn sống cũng như tri thức dày dặn lắm, mà
những gì thành ra con chữ đều đã được trải nghiệm cả, cho nên nó tự nhiên, an
nhiên, không bị nống lên. Viết thế này khó lắm”. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê
(phunuonline.com.vn, 18 – 6 – 2011) đưa ra một so sánh: K5L++Đội
gạo lên chùa (7Hồ Quý Ly ()Mẫu Thượng Ngàn 1%4M
! !<BC@-NLA$B5)Đội gạo lên chùa$A
)()O:?3P'(7#8":)(0L%
 %%4Q%RS %7%TĐội gạo lên
chùa #4A(5A+J'()LA ?+U/
8#. Phạm Xuân Nguyên (Báo =*V TP.HCM số Tết Nhâm Thìn 2012)
tìm thấy trong văn Nguyễn Xuân Khánh “một thứ hương mê hoặc người đọc là
trộn lẫn mùi hương đàn bà và mùi hương Phật”, từ đó ông trân trọng gọi Nguyễn
Xuân Khánh là “Ông Phật văn”.

cấu hoàn toàn, có thể bắt nguồn rõ nét nguyên mẫu trong cuộc đời nhưng đó đều là
những “nhân vật sống”. Nhân vật không chỉ có các yếu tố ngoại hình, ngôn ngữ,
hành động…mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân nhân vật luôn có
sự phát triển nội tại. Nhân vật tiểu thuyết bao gồm nhiều kiểu loại nhân vật khác
nhau. Nhân vật tiểu thuyết có thể chứa đựng nhân vật kịch nhân vật trữ tình ở
những phần nhất định. Thế giới nhân vật tiểu thuyết thường rất đồ sộ. Các nhân
vật trong tiểu thuyết tạo nên một xã hội vô cùng phong phú, phức tạp với nhiều
quan hệ hành động, ý nghĩa, tư tưởng, giọng điệu…Nhân vật phong phú như chính
cuộc sống. Đó chỉ là lý thuyết khái niệm về nhân vật tiểu thuyết, còn theo quan
niệm trong cách sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh những nhân vật của ông từ
người tri thức, lưu lạc, đau khổ, ít nhiều mang bóng dáng tự thuật qua lời kể của
nhân vật An có thể hiểu rõ hơn đời sống nội tâm của nhân vật này. Những nhân
vật đó không hư cấu hoàn toàn mà lấy ra từ đời sống hằng ngày để đưa vào tác
phẩm.
1.2.Đặc điểm tiểu thuyết
Trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, tư tưởng Phật giáo giữ vị trí
trung tâm, bởi nó là phần âm của tính cách dân tộc, là tư tưởng mang bản sắc văn
hóa Việt rõ nét nhất bởi sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trong ba cuốn
tiểu thuyết của mình, Nguyễn Xuân Khánh tỏ ra tâm huyết với định đề lớn mà ông
theo đuổi kiên trì trong nghệ thuật thiên tính nữ của Phật giáo và vai trò âm nhu
trong cơ cấu tinh thần tư tưởng văn hóa Việt của Tôn giáo này. Và được thể hiện
qua tác phẩm: “Người nam sinh hoạt ở đình. Người phụ nữ sinh hoạt ở chùa. Vì
vậy tinh thần Phật giáo thấm vào xã hội thông qua người mẹ, người vợ. Mà người
phụ nữ nào chẳng có gia đình và con cái. Người đàn bà ứng xử trong gia đình xã
hội và dạy con cái ít nhiều theo tinh thần Phật giáo. Vậy nên mới nói, bất cứ người
Việt nào cũng đều có chữ Phật giáo trong người” ( Đội gạo lên chùa, tr.225 ). Như
vậy, Phật giáo đã vượt lên vai trò và vị trí là một Tôn giáo, một hệ tư tưởng, mà nó
trở thành nét văn hóa có tính phổ quát ăn sâu vào tính cách dân tộc. Phật giáo là
một lối sống, lối hành xử mang tính triết học nhân bản.
Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được cấu trúc trên nền tư duy tiểu thuyết

nhân sinh sẽ thâu nhận chúng như một hạt nhân trội cấu thành bản sắc dân tộc. Hai
là, bằng cách tri thức đa nguồn, nhà văn đã “sáng chế ra” dân tộc như một nỗ lực
kiểm thảo, bổ khuyết những giá trị mới theo tinh thần tự chủ, khoan dung, hòa
hợp. Ba là, dựa trên các sự thật lịch sử, nhà văn đã xây dựng những hình tượng
nghệ thuật đặc sắc nhờ cơ chế hư cấu triệt để.
1.3.Tác giả Nguyễn Xuân Khánh
1.3.1.Cuộc đời và sự nghiệp sấng tác
1.3.1.1.Cuộc đời
Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, quê gốc ở làng Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà
Nội, là nhà văn lão thành rất được kính trọng trong nền văn học Việt Nam, đồng
thời ông cũng được nhắc tới như một tấm gương về lao động nghệ thuật không
biết mệt mỏi, không ngừng sáng tạo dù đã bước gần sang tuổi 80. Ông mất cha từ
năm lên 6 tuổi sau đó ông theo mẹ về quê ở phố Nhuế, Tây làm cháy phố Nhuế cả
nhà ông phải kéo lên làng Thanh Nhàn khoang đất dựng nhà và ông sống ở đây
được 70 năm.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thời trẻ từng đi bộ đội, ông đi qua rất nhiều
làng quê, nhưng ở làng Sọ, ông mô tả mùa rơm vàng, một mùa hoa dẻ luôn vướng
vào trong tâm khảm người đọc như đó là quê hương bản quán của ta. Đọc văn của
ông đâm mê đường quê vào mùa gặt, ông như một hoạ sĩ chuyên vẽ tranh thiên
nhiên, có cả âm nhạc của gió và nắng hanh. Có những trang sách vừa khơi gợi vừa
để người đọc nghĩ ngợi thêm về phận người đau khổ trên thế gian dù hướng tới
bạn đọc và cuộc sống trong tương lai sáng sủa hơn, hy vọng hơn.
Cuộc đời ông bao gồm nhiều giai đoạn: Từ năm 1951-1952 ông học Đại
hoc y Hà Nội. Năm 1953 Nguyễn Xuân Khánh ra khu 4 đi bộ đội. Đến 1959 ông
làm phóng viên tạp chí văn nghệ quân đội. Năm 1965 làm phóng viên báo Thiếu
niên tiền phong và bắt đầu viết văn từ 1957.
1.3.1.2.Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Xuân Khánh sáng tác từ những năm năm mươi. H)Y viết
năm 1958, nhưng không được in, là tác phẩm đầu tay của ông. Ông vắng bóng trên
văn đàn suốt 20 năm (1969 – 1989). Năm 1990, Nguyễn Xuân Khánh in IA

Kết cấu của 9#:;chia làm 3 phần lớn:  "+"d1Q
eAf, mỗi phần chia thành nhiều chương nhỏ, tên các chương và
các hành động kể đều xoanh quanh trục chính - ngôi ;).8, cuộc đời cậu bé
An (sư Khoan hòa, anh bộ đội An và sau thành người thầy thuốc An). Mọi biến
cố, các tầng không gian truyện kể, các lớp truyện kể, các tuyến nhân vật đều gắn
kết trực tiếp hoặc gián tiếp đến mái chùa làng Sọ - tồn tại như một biến thể của
biểu tượng Mẹ trong nguyên lý sự ấm áp, che chở, nuôi dưỡng, cưu mang.
9#:;là một minh chứng mặc nhiên cho sức sống của các biểu
tượng mang tâm thức Mẫu trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh, ở sự xuất hiện
dày đặc của không khí huyền thoại, cổ tích, sự tổ hợp các khía cạnh không gian
phi thực, biểu tượng, mô-típ, hình ảnh, các phức cảm, mặc cảm… Tác phẩm là
mảnh đất màu mỡ cho sự tham dự, song chiếu của huyền thoại – lịch sử và sự nảy
mầm của NQJ nương mình trong vô thức người nghệ sĩ. Nhan đề 9#:
;lấy dữ liệu trực tiếp từ câu ca dao: “d"#:;gI"
hi;+%g.%(A+%/%'%W”. Nhan đề là một ẩn dụ trùng phức,
nối cây cầu đến những hiện hữu ở tầng sâu mạch ngầm của văn bản, tiết lộ bản
chất, tư tưởng, triết lý chiều sâu của tác phẩm. Đồng thời cũng là một mã (code)
gợi dẫn người đọc khám phá các vỉa tầng văn hóa tồn tại trong tác phẩm như một
thực thể tự trị nằm ngoài sự kiểm soát của người nghệ sĩ. Những tụ kết của một
quá trình truyền thừa ký ức văn hóa tồn tại ở tầng sâu vô thức kết hợp với trải
nghiệm xung đột hiện hữu của nhà văn tạo nên biểu tượng phổ quát như một cách
phóng chiếu nội cảm lên ngoại giới, làm nên sự sinh động và sức sống lâu bền của
tác phẩm
Người đọc sống với nhân vật Đội gạo lên chùa, với những người phụ nữ mà
Nguyễn Xuân Khánh miêu tả thật kỹ, thật trân trọng và yêu quý như nhân vật
Nguyệt, em Rêu, vãi Thầm, cái Huệ. Dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ thì
người phụ nữ trong Đội gạo lên chùa thật sự là người phụ nữ điển hình của chịu
thương chịu khó, sống vì gia đình, quê hương. Trong đó còn có cả những số phận
trôi dạt được sư cụ trong chùa cứu độ và giác ngộ làm người.
1.3.3.2.Tóm tắt tác phẩm

Đội gạo lên chùa, tr.255 ). Như vậy Phật giáo đã vượt lên vai trò vị trí là một Tôn
giáo, một hệ tư tưởng, mà nó trở thành nét văn hóa có tính phổ quát ăn sâu vào
tính cách dân tộc. Phật giáo là một lối sống, lối hành xử mang tính triết học nhân
bản. Và thế giới nhân vật mang tính Phật giáo đã được thể hiện rõ nét hơn khi nói
về hai chi em nhân vật An mồ côi cha mẹ sau một trận càn dữ dội của giặc Pháp,
phải rời bỏ quê hương trốn chạy. Họ trôi dạt đến một ngôi chùa, được sư cụ Vô Úy
cưu mang. Số phận An được gắn với chùa Sọ và làng Sọ. Ngôi làng nhỏ bé, êm
đềm trong gần một thế kỷ đã phải chịu đựng chiến tranh và những biến động long
trời lỡ đất. Cuộc đời sư cụ Vô Úy được tác giả lấy làm minh chứng về sự chân tu,
về người tu hành đắc đạo.
Nguyễn Xuân Khánh quan niệm Phật giáo, mà cụ thể là từ bi hỷ xả là một
lối sống. Con người sống với nhau phải có tình thương yêu, bao dung và tha thứ.
Về một phương diện nào đó, có một thời, có người cho rằng triết lý này thủ tiêu
đấu tranh giai cấp, mơ hồ thù - bạn, địch - ta, hoặc cho rằng triết lý này không kích
thích được nhiệt hứng của con người trong nhịp sống hiện đại. Nguyễn Xuân
Khánh khai thác triết lý này ở mặt tích cực, mặt mạnh của nó. Cuộc sống cho thấy
tình yêu thương đã kéo con người xích lại gần nhau, xóa bỏ bớt hận thù, định kiến
và thuốc thang cho những tâm hồn bị thương tổn. Tình yêu thương ấy, xét ở góc
độ mỹ học, là cái đẹp, mà “cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Trong9#:; tác
giả đã gắn lòng thương yêu con người như một bản tính Việt vào tinh thần từ bi hỷ
xả ở đạo Phật và coi đây như một tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong tác phẩm.
Ông đã thể hiện mối quan hệ giữa các nhà sư với những người dân bình thường
luôn gần gũi, thân thiện. Họ truyền đạo không chỉ bằng lời mà còn bằng những
việc làm cụ thể. Là những công dân nên khi được tham gia vào đời sống xã hội,
tâm trạng, suy nghĩ cũng như cách ứng xử của họ đã cho thấy dưới vỏ áo cà sa là
tâm hồn Việt, cốt cách Việt, cụ thể hơn, là một thứ Phật giáo đã được thuần Việt.
Các nhà sư như Vô Chấp, Vô Úy coi từ bi hỷ xả như một phương châm sống, như
một cách hành xử trong đời sống hàng ngày: thâu nạp nhân tâm, giúp đỡ người
nghèo khổ, lấy nghĩa tình và đạo lý làm trọng. Cũng do vậy mà họ trở thành cái
gai trong mắt của những người trong bộ máy chính quyền thực dân đã đành mà cả

gian riêng, nhân vật được sống là chính mình với đầy đủ cảm xúc chân thành nhất.
2.2.Đặc điểm chung của các nhân vật
Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật mang tính truyền thống, bằng cuộc sống
hiện thực hằng ngày mà ông đã chứng kiến trong nhiều mối quan hệ như về văn
hóa, phong tục, tình yêu, hôn nhân…những mối quan hệ nam, nữ già, trẻ…
Nguyễn Xuân Khánh đã đưa thế giới nhân vật của mình đi vào trong tiểu thuyết
qua những hiện thực đời sống lịch sử, cụ thể là qua tác phẩm Đội gạo lên chùa ta
thấy được cuộc sống khốn khổ của người dân khi bị bọn thực dân áp bức, bốc lột
hay trong những phong tục đời thường…
Những nhân vật của ông mỗi người đều có những cá tính riêng biệt không ai
giống ai, đều thể hiện điểm riêng của mình chính điểm này làm cho thế giới nhân
vật của Nguyễn Xuân Khánh ngày càng phong phú, đa dạng và hấp dẫn nhưng có
phần phức tạp, đa diện nhìn bề ngoài thì họ có vẻ tầm thường nhưng khi tìm hiểu
sâu sắc bên trong thì họ không hề đơn giản. Họ hôm nay có thể là đứa con gái
đang trong cơn hoảng loạn vì cha mẹ bị giặc giết, nhưng hôm sau là thiếu nữ xinh
đẹp, nết na, dịu dàng, cổ trắng như ngó cần ai thấy muốn đặt một nụ hôn lên đấy,
mái tóc dài đen mượt mà để che mắt thiên hạ trong thời loạn lạc bằng cách ăn mặc
rách rưới, áo bạc thếch, mặt mũi phai bôi cho thành lọ lem ( Nguyệt ). Hay Rêu là
một đứa con gái gầy gò, bé nhỏ nhưng da trắng, môi hồng, tóc đen như mun, mắt
đen láy long lanh ấm áp, “đôi mắt ấy nhìn vào ai, dù đang lúc tức giận, cũng bỗng
nhiên như được xoa dịu”, một vẻ đẹp tinh khôi…Những nhân vật trong Đội gạo
lên chùa đều là những con người của làng quê mà ra nên vẻ đẹp của họ lúc nào
cũng chân thành, mộc mạc, giản dị…Họ đều sống trong bầu không khí và một triết
lý sống khoan hòa, tùy duyên, đậm Phật tính, hướng về mái chùa làng Sọ như
hướng về mẹ.
2.3.Sức hấp dẫn của các nhân vật
2.3.1.Nhân vật nữ - tượng trưng cho sự sinh sản và hiện thực hóa những ước
vọng của con người
Như một năng lượng mãnh liệt vượt thoát khỏi sự kiềm tỏa của lý trí, những
trang đẹp và say mê của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh dành riêng cho RV-

trầm mình xuống giếng – một ánh xạ của tính nữ - bỏ đi gánh nặng của kiếp người
trên vai để hóa giải làm thân vành khuyên líu lo ríu rít với nắng mai. Hay vẻ đẹp
phồn thực của Xim, bà Nấm, của Mai, của Thì, bà Thêu… Ở họ vừa tồn tại tính nữ
là sự mềm yếu nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ ào ạt như gió, như bão giông, dịu
dàng, mềm mại, đầy yêu thương, hy sinh nhưng không cam chịu số phận. Vòng
tay ấm mềm nhưng buộc ràng của cô Nấm đã kéo sư Vô Trần về với cõi đời trần
tục. Bà Thêu đẹp nghiêng nước nghiêng thành, thông minh sắc sảo không cam tâm
làm vợ một ông già địa chủ 70 tuổi, đã chủ động hoán cải cuộc đời mình với anh
đội Khoát. Xim yêu hết mình sống hết mình và rành mạch tường minh khi ban
tặng cho chồng cũ – Hạ - một lần yêu thương trọn vẹn để rồi sau đó vun vén kết
nối cho Nguyệt – Hạ một mái ấm gia đình. Mai và khát vọng làm mẹ cháy bỏng,
Huệ tràn ngập yêu thương và nhân hậu… Tất cả họ đều là hiện thân của vẻ đẹp
đậm thiên tính nữ và sự huyền bí diệu kỳ của tạo hóa. Ai cũng nhân hậu, vị tha,
giàu lòng hy sinh và khả năng tái sinh, chở che, bao bọc, đằm thắm và quyết liệt –
đó cũng là sợi dây tính nữ neo lại từ ngàn đời Mẹ Âu Cơ, Mỵ Nương, Bà Trưng,
Bà Triệu trong ký ức dân tộc. Quấn luyến, buộc ràng với số phận những người phụ
nữ ấy là cuộc đời, những con người và những vấn đề về lẽ sinh tồn, sự ra đi, trở
về, những dò tìm bản nguyên của hạnh phúc, khổ đau, tình yêu, sự sống và cái
chết… Tuy nhiên, chính sự dẫn dắt của thiên tính nữ, sự bao dung, nhân hậu,
hướng mẫu… đã dẫn lối cho nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh neo đậu bến bờ
bình yên. Những điều này đã giúp cho những trang văn và nhân vật trong Đội Gạo
Lên Chùa mềm mại, sinh động và hấp dẫn hơn.
2.3.2.Nhân vật nam – những con người của Phật giáo và cách mạng.
Những nhân vật này hầu như có sức sống mãnh liệt, mỗi người có bản sắc riêng
nhưng đều hướng đến đạo phật và cách mạng. Tiêu biểu là một số nhân vật sau
đây:
2.3.2.1.Nhân vật An và sư đệ Vô Trần
Quan sát tiểu An và sư đệ Vô Trần, những nhân vật chính của tiểu thuyết,
chúng ta có thể thấy tư tưởng chủ đạo của nhà văn được gửi gắm ở đây khá rõ: từ
khi An vào chùa với chị Nguyệt rồi cậu trở thành một đệ tử trung thành của các vị

3.2.3.Nhân vật sư bác Khoan Độ
Đây là nhân vật đã được cải tạo từ tính triết lý nhân bản của Phật giáo. Đạo
Phật không chủ trương bạo lực và triết lý từ bi hỷ xả có thể coi như một phương
thuốc giảm đau để cứu rỗi con người, hướng con người đến với cái thiện, làm điều
thiện. Và cái thiện đã cảm hóa con người. Đường đời của nhân vật sư Khoan Độ là
lộ trình từ vô thức đến ý thức dầu có lúc ý thức đó có phần nghiêng về bản năng.
Dưới vẻ ngoài có phần dị tướng, “giọng nói thô kệch và “đôi mắt trắng dã”, con
người này có “những tia mắt dịu dàng” “biết ôm ấp, biết tạo ra một luồng từ khí
ấm áp” đã đưa lại sự an tâm cho cậu bé An côi cút. Từ nhỏ, sư Khoan Độ đã nổi
tiếng ngỗ ngược và không ít lần đã phải trả giả rất đắt cho những việc mình làm.
Không biết cuộc đời của con người này sẽ đi đến đâu nếu như không gặp được sư
Vô Úy khi bị trọng thương trong lần tổ chức đồng đảng đi ăn cướp nhà giàu. Khi
vết thương thể xác đã lên da non thì Khoan Độ cũng trở thành một con người
khác. Có thể ví ông như một con ngựa bất kham đã được thuần hóa. Con người ấy
được phép xuống tóc, được trở lại làm người lương thiện bình thường. Phần đời
còn lại của sư Khoan Độ được Phật tính - cũng là nhân tính soi đường. Phân tích
các trạng thái tâm lý của sư Khoan Độ đối với Nguyệt thì ta thấy chính đạo đức
chứ không phải là đạo giới đã giúp cho vị sư này dừng lại ở giới hạn cần thiết để
có được sự trong sạch trong một hoàn cảnh đặc biệt khi ông dẫn Nguyệt đi trốn sự
truy đuổi của kẻ thù và cư xử với cô như với một người em gái.
CHƯƠNG 3: ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG
ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
3.1.Ngoại hình
Ngoại hình là cách nhìn nhận đánh giá về một con người. Các nhân vật
trong Đội gạo lên chùa mỗi người có những nét ngoại hình riêng biệt để nói lên
bản chất của mình, nhưng cũng có những nhân vật tuy nhìn bề ngoài tưởng chừng
hiền hậu nhưng bên trong thì lại là con người gian xảo, mưu mô. Trái lại có những
nhân vật có tướng mạo, hình dáng dữ tợn nhưng bên trong lại chất chứa sự nhân
từ, hậu hĩ. Bởi vậy thế giới nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh có phần phức tạp.
Chẳng hạn đại diện cho nhân vật chính diện như Nguyệt, An, sư cụ Vô Úy, sư

cái thiện, về đạo phật, về tâm thức Việt . Họ là những con người nhỏ bé sống trong
hoàn cảnh bị gò bó, ép buộc của chế độ thực dân, họ đã phải chịu nhiều mất mát,
đau thương nên họ có cá tính rất mạnh mẽ, luôn vượt lên số phận mình, họ không
bao giờ đầu hàng trước cuộc sống, luôn dùng tấm lòng, tình yêu thương giữa
những con người để ứng xử với nhau do sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo với
mục đích cuối cùng là có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc cũng như khát vọng
của tinh thần người Việt. Đây là bước đột phá trong việc xây dựng tính cách nhân
vật. Trong đó có một số nhân vật điển hình, đầu tiên là chú tiểu An, một nhân vật
thể hiện tính cách nhất cho tư tưởng đạo. Tuy An còn nhỏ tuổi nhưng tính cách rất
là quyết đoán, biết suy nghĩ nhờ sự dạy đạo của sư Vô Úy, dạy đời của thầy giáo
Hải và dạy võ của sư thầy Khoan Độ đã giúp An có thể hiểu được trên đường đời
mình “phải tự biết đi bằng đôi chân của mình, phải biết độc hành,… không ai có
thể tìm hộ mình”. Cậu bé non nớt này rất chững chạc và thấu hiểu sự đời nhờ sự
ảnh hưởng giáo dục của ba người thầy đã nhập tâm vào mình. Nhân vật An có sự
thức nhận chín dần theo thời gian và sự trải nghiệm, đặc biệt là sự nhận thức về kẻ
địch từ cảm tính sang lý tính. “Thầy tôi vẫn bảo sống ở cuộc đời chính là đang làm
một cuộc hành hương. Hành hương không chỉ là tìm đến một nơi chốn, mà là qua
cuộc du hành ấy tìm thấy được cái sức mạnh linh thiêng ngay chính trong tâm hồn
mình. Rốt cuộc, đó là cuộc truy tìm cái bản lai diện mục của ta” (tr 715).An vào
chùa được sư Vô Úy dạy đạo, thầy giáo Hải dạy đời và sư Khoan Độ dạy võ. Ba
bài học đó đã được nhập tâm và trở nên đắc dụng với An khi An bị sự ức hiếp của
bạn bè lúc còn nhỏ, khi chịu đựng tù tội thời kỳ cải cách ruộng đất và đặc biệt là
khi vào chiến trường. An đã bắn lên trời chứ không dám bắn vào “thằng mặc áo
rằn ri” vì vẫn ý thức về phật pháp. Công việc làm anh nuôi tưởng đã cho An sự
yên vị “giã từ vũ khí”. Nhưng rồi trận đánh ở đồi 303 “khi những chiếc trực thăng
xuất hiện thì lúc ấy tôi không phải hiểu bằng lý trí mà là bằng bản năng. Bản năng
sống. Muốn sống”. An đã cầm khẩu tiểu liên nhằm vào chiếc trực thăng, trên đó
“tôi trông thấy cả tên lính Mỹ mặt đỏ gay trong buồng lái”, nổ súng. Trực thăng
bốc cháy. Cuộc tấn công từ hướng trên trời của kẻ địch bị chặn lại. Rồi khi trận
B52 xóa sổ cả điểm cao, còn lại một mình, chạm trán với đối phương cũng chỉ còn

khăn trong cuộc sống riêng. Trước khi hy sinh, anh còn kịp giao súng và cũng
truyền lửa vào nhà sư bộ đội An. Đây là một tính cách năng động, thức thời mà
không vụ lợi, một nhân vật tiêu biểu cho lớp thanh niên mới, sẵn sàng làm mọi
công việc tùy theo tiếng gọi của lương tâm mà biểu hiện cao nhất của lương tâm
vào thời điểm khi có giặc ngoại xâm là cầm súng bảo vệ tổ quốc.
Cả sư Vô Trần, An, Tiến, Cường đều là những con người lương thiện đến
với cách mạng, đi vào cuộc chiến đấu chống Mỹ của dân tộc tùy theo hoàn cảnh
và nhận thức của mình và ai cũng cố gắng làm tốt công việc được phân công.
Chân dung và tính cách của các nhân vật người lính được Nguyễn Xuân Khánh thể
hiện dưới góc nhìn đời thường với các mảng màu đen trắng khác nhau. Họ không
được đốt lửa nhiệt tình bằng những bài giảng chính trị. Họ nhập ngũ vì chấp hành
mệnh lệnh của cấp chính quyền, vì tạo sự yên ổn cho gia đình, mở hướng tương lai
cho các em khi thành phần giai cấp đang trở thành sức ép. Vậy nhưng khi sống
cùng trong một đơn vị họ lại hết sức yêu thương và đồng cảm, giúp đỡ nhau để
hoàn thành nhiệm vụ. Họ đã cầm súng với danh dự và trách nhiệm của một công
dân yêu nước. Đây là một cách nhìn riêng, đặc sắc về người lính của Nguyễn
Xuân Khánh, góp vào sự đa dạng của dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh từ sau
1986.
3.3.Ngôn ngữ
Tác giả sử dụng những ngôn ngữ đời thường, những ngôn ngữ mang đậm
tính Phật giáo, giáo lí. Tùy theo những con người thiện hay ác mà sử dụng những
kiểu loại ngôn ngữ khác nhau. Và cũng qua ngôn ngữ mà có thể đánh giá tính cách
của các nhân vật. Do vậy mà tác phẩm này dễ đi vào lòng người. Những nhà sư sử
dụng ngôn ngữ đạo phật để giáo hóa, răn dạy con người phải biết hướng đến luân
lý, “tiếng mõ là tiếng của đức phật. Tiếng mõ đánh thức sự tốt lành, đánh thức cái
tâm phật trong mỗi con người. Tiếng mõ đem khua vang lên trong làng xóm nói
với thế gian rằng Phật luôn ở trong cuộc đời này…”(Đội gạo lên chùa, tr.28 - lời
của sư bác Khoan Độ), hoặc “người chân tu phải lúc nào cũng tu. Đi cũng thiền.
Ăn cũng thiền. Uống cũng thiền. Nói cũng thiền. Từng giây từng phút đều
thiền…”.

giọt lệ vẫn dâng đầy trong mắt. Nó lã chả rơi xuống bát cơm”. Tâm trạng của
Nguyệt diễn biến bất thường có lúc thì cô rất cứng rắn, dồn nén cảm xúc không
muốn cho người khác thấy sự đáng thương của mình; nhưng con người có mạnh
mẽ đến mấy thì cũng đến lúc cũng phải bộc phát sự yếu mềm của mình nhất là một
người con gái như Nguyệt. Đây là diễn biến tâm trạng của một con người mà trong
cuộc sống hằng ngày cũng có những trường hợp tương tự, có thể nói thành công
trong tác phẩm của ông là những trang miêu tả tinh tế, sâu sắc trong nghệ thuât
miêu tả nội tâm con người.
PHẦN KẾT LUẬN
Từ đề tài niên luận này việc đầu tiên chúng tôi thấy được giá trị nghệ thuật
xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh.
Qua đó tìm hiểu sâu sắc hơn về lịch sử vấn đề cũng như quan niệm về nhân vật
trong tiểu thuyết, đặc điểm tiểu thuyết. Đồng thời hiểu thêm về thế giới nhân vật,
đặc điểm và sức hấp dẫn của các nhân vật. Đặc biệt là có được cái nhìn về tư
tưởng Phật giáo chủ đạo trong tác phẩm này, triết lý từ bi hỷ xã có thể vận dụng
vào đời sống tinh thần của con người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1). Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân Khánh, tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 2011, Giải
thưởng Hội nhà văn Việt Nam
(2). Một số kiến giải khác về lịch sử dân tộc, Đỗ Ngọc Yên
(3). Một số biểu tượng mang tâm thức mẫu trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn
Xuân Khánh, TS. Hoàng Thị Huế
(4). Tâm thức Việt trong Đội gạo lên chùa, Tôn Phương Lan, Viện văn học
(5) Báo Hà Nội mới, Nguyễn Khắc Phê
( 6).Đặc sắc tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa, Mai Anh
Tuấn
(7).Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh, tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 2005, Giải
thưởng Hội nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn hóa Doanh nhân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status