Tự sự hậu thực dân: lịch sử và
huyền thoại trong "Mẫu thượng
ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh Cũng phải nhấn mạnh thêm rằng, nếu như chi tiết có tính cách huyền thoại hay
huyền thoại hóa có mật độ dày dặn trong tác phẩm làm nên lịch sử dân tộc ở chiều cạnh
ngày thường thì ở phương diện dụng ý diễn giải lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ
muốn tái diễn giải về quá khứ dân tộc mà còn muốn kháng cự diễn ngôn phương Tây về
thuộc địa
(14)
. Qua việc chăm chút cho nhân vật nhà dân tộc học René, với các công trình
về Đông Dương của ông ta, Nguyễn Xuân Khánh muốn khẳng định chính đời sống tâm
linh đa thần của người Việt đã thu hút sự chú ý của các học giả Tây phương, là nét đặc
thù hấp dẫn họ, là sức mạnh tiềm tàng mà họ không đoán định được, thôi thúc họ nghiên
cứu và khám phá chứ không nhằm để viện dẫn cho sự ưu việt của phương Tây so với
phương Đông, hợp thức hóa cho sự xâm lược
(15)
. Ngoài các luận điểm về shaman giáo
và các nghi lễ, Nguyễn Xuân Khánh đã để cho Pierre và René cảm nhận về đất, như một
cách thức nhấn mạnh đến đạo Mẫu, ở cội nguồn của đất mẹ nguyên sinh
(16)
. Đặt tiếng
nói tôn trọng tri thức bản địa vào vị thế của một học giả Tây phương, Nguyễn Xuân
Khánh không chỉ đã khách quan hóa được các nhận định mà còn tránh được một xu
cùng với sự choán chỗ hành động của các suy tư. Chính các suy tư, xuất phát từ các
nhân vật, các tình tiết của câu chuyện đã mở rộng không gian và thời gian của tiểu
thuyết. Từ câu chuyện về một làng quê, là Cổ Đình, thành câu chuyện của một vùng bán
sơn địa, một Việt Nam từng bước trở thành thuộc địa. Từ số phận của một vài nhân vật,
thành số phận của nhiều thế hệ, số phận của cả một dân tộc theo suốt chiều dài lịch sử.
Quy chiếu thân phận dân tộc vào văn hóa của nó, rồi lại đẩy đến tận nguồn cội của
sự sinh tạo văn hóa dân tộc, vai trò của kỹ thuật tự sự đã phát lộ hết dụng ý của Nguyễn
Xuân Khánh khi nhà văn chỉ dịch chuyển ngôi kể cho nhân vật bà Ba Váy (chương
XI: Bà Ba Váy kể chuyện; phần 3: Lời bà Ba Váy của chương XII: Tai họa lớn). Tại sao
vậy? Tại sao lại là bà Ba Váy chứ không phải ai khác, kể cả bà tổ cô hay cô Mùi? Có lẽ
so với những người khác, bà Ba Váy là tiêu biểu cho mẫu người phụ nữ Việt Nam. Bà
có đầy đủ phẩm chất của người vợ, người mẹ, người tình. Sống lam làm, thương hết
lòng, yêu hồn hậu. Vẫn theo logic chọn lựa và diễn giải các biểu tượng của Nguyễn
Xuân Khánh, bà là đất nước Việt Nam sơ khai, nguyên thủy nhất, một phẩm chất
Việt Nam “ròng”. Phải chăng, với Nguyễn Xuân Khánh, đó có thể là căn cước
Việt Nam trong cuộc đối thoại với nước ngoài? Hơn nữa, đặt những đổi mới về mặt kỹ
thuật tự sự này trong tương quan với tiểu thuyết Hồ Quý Ly, mới thấy rõ tính dụng ý của
nó. Ở Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh cũng tự sự chủ yếu bằng ngôi thứ ba, có cho
xuất hiện tự sự từ ngôi thứ nhất (Hồ Nguyên Trừng), nhưng sự bổ sung ngôi kể đó hầu
như chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện cho người kể chuyện sống trải cùng nhân vật, góp
phần thiết thực vào mục đích sáng tạo ra lịch sử từ góc độ cá nhân, tức thiên về tính chất
hư cấu
(18)
, chứ không thiên về tính chất diễn giải như ở trường hợp bà Ba Váy trong Mẫu
thượng ngàn. Bởi ở trường hợp bà Ba Váy, nếu xét vai trò người kể chuyện trong logic
tự sự của tiểu thuyết, thì ý nghĩa tham góp là rất hạn chế; song nếu xét trong logic biểu
tượng như đã nói, ở tính trội của việc được chọn cất tiếng nói, thì ý nghĩa tham góp lại
trở nên rất quan trọng. Do vậy, từ huyền thoại đến lịch sử, từ ký hiệu văn hóa đến nghệ
thuật tự sự, tất cả châu tuần vào mục đích hiểu biết quá khứ và diễn giải nó. Viết về thực
dân thời hậu thực dân, theo đó, sự độc đáo không chỉ nằm ở khả thể sáng tạo mà còn