Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Phạm Thành
Hưng - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt, chỉ bảo giúp tôi hoàn
thành luận văn.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, phòng
Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng toàn thể các thầy cô giáo
đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học. Tôi xin bày tỏ
niềm xúc động lớn lao trước sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi theo
học lớp sau đại học của Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc, của Ban giám hiệu
trường THPT Phúc Yên.
Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động viên
kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn.

Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2012
Tác giả luận văn Lưu Thị Thu Hương
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Phạm Thành Hưng.
Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác,

4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6. Phương pháp nghiên cứu 9
7. Đóng góp mới của luận văn 9
8. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG
Chương 1: Mẫu Thượng Ngàn trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam
đương đại 10
1.1. Đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 10
1.1.1. Tiền đề xã hội - thẩm mĩ 10
1.1.2. Đội ngũ nhà văn 11
1.1.3. Những thành tựu mới 12
1.2. Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 - những vấn đề đổi mới tư duy
và cách tân nghệ thuật 17
1.2.1. Quan niệm mới về tiểu thuyết 17

1.2.2. Một số khuynh hướng nổi bật 21
1.2.3. Những tìm tòi đổi mới 26

1.3. Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và một lối đi riêng 30

1.3.1. Lộ trình văn chương Nguyễn Xuân Khánh 30

1.3.2. Một ngả rẽ thú vị 32

Chương 2: Người kể chuyện và thế giới nhân vật trong truyện kể 39
2.1. Người kể chuyện 39

2.1.1. Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 39

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, mang tính chất như là "sử thi về
đời tư” (Bê-lin-xki), nên thường giữ vai trò “cỗ máy cái” của văn học và trở
thành một trong những tiêu chí đánh giá sự trưởng thành của một nền văn học.
Việc thiếu vắng thành tựu của thể loại này là một chỗ trống đáng buồn cho bất
cứ nền văn học nào. Những năm gần đây, tiểu thuyết được đánh giá là một
thể loại phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam. Bên trong cái bộn bề,
đa dạng của bức tranh tiểu thuyết thập kỷ qua, có thể nhận thấy tiểu thuyết
lịch sử là dòng chủ lưu có nhiều đóng góp về tư tưởng và nghệ thuật cho thể
loại này.
1.2. Trong làng tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn Xuân Khánh
được coi là một người đàn ông vô cùng kỳ lạ. Đột ngột xuất hiện, như thể ông
vừa bước ra từ một huyền thoại nào đó, từ một sự ẩn mình đâu đó lâu lắm,
như loài trầm hương trong rừng sâu kia, một ngày nhoài lên từ lớp mùn và
mục gỗ để đi về phía ánh sáng mặt trời, đem theo mùi hương quý giá. Vắng
mặt trên văn đàn hàng chục năm, ông bất chợt “tái xuất giang hồ” ở tuổi 70
với thể tài tiểu thuyết lịch sử và ngay lập tức được bạn đọc đón nhận nồng
nhiệt.
1.3. Tiểu thuyết Việt Nam trong độ mươi năm lại đây, nếu không có
Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh thì sẽ bớt đi biết bao nhiêu cái
sang trọng của bản sắc văn hóa Việt thấm đẫm trong văn học Việt. Trong mùa
giải năm 2006, tác phẩm đã giành được số phiếu tuyệt đối (9/9 số phiếu bầu)
của Hội đồng chung khảo và đoạt giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội. Sau Hồ
Quý Ly đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2003, Mẫu Thượng
Ngàn đã chứng tỏ bút lực dồi dào đến tràn trề và say đắm của Nguyễn Xuân

dào. Sự ra đời ba tiểu thuyết kiến giải về lịch sử, văn hoá, phong tục gần đây

3

của nhà văn cho phép chúng ta khẳng định Nguyễn Xuân Khánh đã có những
tìm tòi và thể nghiệm không ngừng để làm mới tiểu thuyết. Đã có không ít các
công trình, các bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Ở
đây, chúng tôi chỉ xin điểm lại những công trình nghiên cứu, những bài viết
về tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, để thấy được kết quả và những “điểm
dừng” trong lịch sử nghiên cứu về tác phẩm này.
2.1. Các công trình nghiên cứu phê bình, luận án, luận văn, khoá
luận
Trước tiên, tác giả luận văn xin nhắc tới hai công trình nghiên cứu có
tính chất bao quát về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Đó là: Báo cáo tổng kết
đề tài khoa học cấp bộ mang tên Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta
từ thời điểm đổi mới đến nay do PGS. TS Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đề
tài và luận án Tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh với đề tài
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay. Ở hai công trình nghiên cứu
này, có khi tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn được đặt trong diện mạo tiểu thuyết
Việt nam từ sau 1945 đến nay, có khi lại được đặt trong diện mạo tiểu thuyết
Việt Nam 5 năm đầu thế kỷ XXI để phân tích, nhận diện và chỉ ra sự biến đổi
trong tư duy thể loại, lý giải những thể nghiệm, cách tân, ghi nhận thành tựu
bước đầu của nỗ lực đổi mới tiểu thuyết, góp phần cập nhật đời sống văn
chương đương đại.
Tiếp cận tiểu thuyêt Mẫu Thượng Ngàn từ phương diện nội dung, tư
tưởng, luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại học Sư phạm Hà Nội của tác
giả Dương Thị Huyền với đề tài Nguyên lí tính mẫu trong “Mẫu Thượng
Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh và luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại
học Sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh với đề tài: Diễn ngôn
lịch sử và văn hoá trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chủ yếu bàn về vấn

2.2. Các bài viết giới thiệu - phê bình, trên báo in và mạng Internet
Nói đến lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn
Xuân Khánh mà chỉ đề cập đến những công trình nghiên cứu khoa học, những

5

khoá luận, luận văn sẽ là một thiếu hụt lớn. Mới được xuất bản mấy năm trở
lại đây (từ 2006) nên những công trình nghiên cứu dày dặn và tập trung về tác
phẩm còn ít ỏi. Trái lại, tác phẩm này lại được giới thiệu rộng rãi và dành
được sự quan tâm sôi nổi trên báo in và mạng Internet, đặc biệt là các diễn
đàn văn học, các trang điện tử.
Quan tâm tới giá trị văn học có tác động tích cực tới nền tiểu thuyết và
văn học nước nhà, nhà văn Nguyên Ngọc đã khẳng định giá trị độc đáo của
Mẫu Thượng Ngàn trong bài viết Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa
Việt. Theo nhà văn, để đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này thì
chính là nền văn hoá Việt. Tác phẩm đặc sắc ở việc nhìn nhận những giá trị
văn hoá dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử cực đoan nhất (đứng trước sự
xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp cùng một nền văn hoá hoàn toàn xa
lạ). Với tư cách là một người bạn, một người bạn vô cùng thân thiết, nhà văn
Châu Diên trong bài Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc hé lộ:
Mẫu Thượng Ngàn là một biến thể hoàn toàn mới của Làng nghèo xưa, được
viết vào chặng đường chín chắn nhất của đời nhà văn. Và rất tự hào về bạn khi
nhận xét: “Nếu Nguyễn Xuân Khánh in bản Làng nghèo, anh sẽ có một cuốn
tiểu thuyết bậc trung, hiện thực tàm tạm. Đẩy lên thành Mẫu Thượng Ngàn,
anh đã có một tiểu thuyết mang tầm khái quát văn hóa, nhân vật không còn là
những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộng đồng” [20]. Tác giả Ngô Lê
Khánh Huyền trong bài viết Nguyễn Xuân Khánh và ông Châu Diên, ông
Dương Tường khẳng định: tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn chứa đựng cả một
kho tàng phong tục tập quán, đọc tác phẩm thấy hiểu và yêu thêm dân tộc
mình. Trong bài viết Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: về từ miền hoang tưởng,

nghệ trẻ, Văn nghệ công an… hay các website: www.vannghechunhat.net,
www.evan.com, www.talawas.org… Nhìn chung các ý kiến đánh giá đều
hướng tới sự khẳng định ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh khá nhuần nhị và tinh
tế trong việc miêu tả vẻ đẹp của người đàn bà nông thôn; vẻ đẹp và sức sống
mãnh liệt của họ biểu tượng cho sự trường tồn của văn hóa Việt Nam.

7

Đặt Mẫu Thượng Ngàn từ phương diện lý thuyết hậu thực dân và lý
thuyết tự sự học, Đoàn Ánh Dương trong Tự sự hậu thực dân: Lịch sử và
huyền thoại trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đã đi tìm
những biểu hiện của tự sự hậu thực dân trong tác phẩm, từ đó mở ra con
đường tiếp cận bộ phận văn học độc đáo: văn học Việt Nam hậu thuộc địa.
Trong những bài kể trên, có những bài mới chỉ dừng lại ở mức độ cảm
thụ, bộc bạch cách cảm nghĩ của cá nhân khi tiếp cận tiểu thuyết Mẫu Thượng
Ngàn. Cũng có những bài ít nhiều đề cập đến những khía cạnh về nghệ thuật
tác phẩm cùng những phát hiện mới lạ, độc đáo nhưng chỉ trên một khía cạnh
nhỏ. Các ý kiến chủ yếu tập trung khẳng định một số đặc điểm nổi bật ở tiểu
thuyết Mẫu Thượng Ngàn như: 1. Văn phong tiểu thuyết mang hơi thở cuộc
sống hiện đại; 2. Đề cập đến vấn đề tiếp biến văn hoá, giao lưu văn hoá; 3.
Nêu lên được các giá trị văn hoá đặc sắc như vấn đề đạo Mẫu; 4. Xây dựng
hình ảnh đẹp, giàu ý nghĩa về người phụ nữ bình dân; 5. Gửi gắm thành công
thông điệp tới người đọc. Chưa bài viết nào có khả năng đưa đến cho chúng ta
một bức tranh khái quát, toàn diện về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu
Thượng Ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.
Điểm qua các công trình nghiên cứu phê bình, luận án, luận văn, khoá
luận và các bài báo như trên, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Mẫu Thượng
Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đã được tiếp cận ở những mức độ rộng hẹp và
những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy có một công trình
nào nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tự sự trong cuốn tiểu thuyết này.

5.2. Nghệ thuật tự sự là một vấn đề nghiên cứu có phạm vi rộng nên
chúng tôi tập trung nghiên cứu về các phương diện: người kể chuyện và điểm
nhìn trần thuật, thế giới nhân vật trong truyện kể và nghệ thuật tổ chức cốt
truyện. 9

6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu nghệ thuật tự sự
trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh. Ngoài ra, luận văn còn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp, khái quát
7. Đóng mới của luận văn
7.1. Làm rõ vai trò của cá tính sáng tạo trong việc cách tân tiểu thuyết
trên bình diện kỹ thuật tự sự, qua đó nhận diện thành tựu đa dạng của tiểu
thuyết Việt Nam đương đại.
7.2. Khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng lý thuyết tự sự học
vào việc tìm hiểu các hiện tượng văn học hiện đại, đặc biệt là ở lĩnh vực tiểu
thuyết.
7.3. Cung cấp thêm một cách “đọc hiểu”, một hướng tiếp cận mới về
tiểu thuyết sau đổi mới - hướng tiếp cận từ khía cạnh nghệ thuật tự sự.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phần Nội
dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là
điều kiện để cá nhân tự khẳng định mình và vấn đề cá nhân cũng đòi hỏi phải
nhìn nhận khác trước. Do đó, văn học nghệ thuật cũng phải đi từ nhiệm vụ
phản ánh số phận cộng đồng sang những yêu cầu phản ánh số phận cá nhân.

11

Trong xu thế mở cửa hiện nay, việc giao lưu, hội nhập đa phương với
thế giới được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chúng ta có sự nhập
ngoại nhiều kênh thẩm mĩ khác nhau, có cả những kênh thẩm mĩ mà ta chưa
được quen, song nó đã góp phần thổi bùng lên ý thức cá nhân, khát vọng dân
chủ. Cùng với đó là sự phát triển của văn học dịch đã cho nhà văn cơ hội tiếp
cận với nhiều đỉnh cao văn học; làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo
độc giả, trước hết là tầng lớp thanh niên và thôi thúc các nhà văn Việt Nam
phải đổi mới cách viết.
Với một tiền đề xã hội - thẩm mĩ như thế, sự đổi mới của văn học Việt
Nam sau năm 1975 là tất yếu. Tuy vậy, chính nội lực của mỗi cá nhân, của
các thế hệ nhà văn sẽ quyết định thành công của công cuộc đổi mới trên lĩnh
vực văn học nghệ thuật. Đổi mới vừa là cơ hội vừa là thử thách đối với mỗi
nhà văn.
1.1.2. Đội ngũ nhà văn
Từ sau 1975, đội ngũ người viết ngày càng hùng hậu, năng động và
sáng tạo. Tuy khác nhau về tuổi đời, tuổi nghề nhưng họ đều mang trong mình
sức sống và hơi thở của thời đại. Họ đều là những người ham mê khám phá
cái mới và xông xáo trên con đường đổi mới văn học.
Đất nước hòa bình, từ giã cuộc sống đầy bất trắc với những cách khu xử
bất thường của thời chiến, con người trở về với cái “bản chất người thực sự
như nó vốn có”, văn chương để phụng sự được con người cũng cần phải khác.
Qua dằn vặt rồi quyết tâm, Nguyễn Minh Châu đã chọn cho mình hướng đi:
lấy con người làm đối tượng khảo sát thay cho đời sống tập thể cộng đồng. Từ

đạt được nhiều thành tựu đáng mừng.
1.1.3.1. Đổi mới về ý thức nghệ thuật
Thành tựu quan trọng nhất của văn học sau 1975 là sự đổi mới trong ý
thức nghệ thuật của giới cầm bút. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, hầu hết người

13

làm văn, làm thơ thuộc các thế hệ khác nhau đều chung một ý nghĩ “không thể
viết như cũ được nữa” (Lê Lựu trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân,
ngày 24 - 4 -1988). Ý nghĩ ấy càng tỏ ra dứt khoát hơn ở lớp nhà văn xuất
hiện từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI như Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thuỳ Mai,
Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều, Bảo Ninh, Nguyễn Thu Huệ, Phan Thị
Vàng Anh… Trong ý thức của họ không phải không có chỗ khác biệt, nhưng
hầu như tất cả đều thống nhất với nhau trong một nhận thức chung: hiện thực
không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể
phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; nhà văn phải có tư
tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong
tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn phải dựa
vào kinh nghiệm cá nhân; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết
giáo mà là những người bạn để giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng…
Đặc điểm chung nữa của giới cầm bút là sự thức tỉnh ngày càng sâu sắc
về ý thức cá nhân. Mỗi người đều muốn là một tiếng nói riêng, đều muốn tạo
cho mình một bút pháp, phong cách riêng. Tất nhiên, ý thức cá nhân, bản thân
nó, không tạo ra được nghệ thuật, tâm và tài mới quyết định. Dù sao khát
vọng khẳng định cá tính và sự nỗ lực trăn trở nhằm tạo cho mình một tiếng
nói riêng của giới cầm bút cũng gây ra được một phong trào, một không khí
có sức kích thích, cổ vũ, từ đó sẽ xuất hiện những tài năng lớn tiêu biểu cho
thời đại văn học mới.
1.1.3.2. Những thành tựu ở các thể loại
Sau năm 1975, quan niệm về văn học và ý thức nghệ thuật đã có sự

Về nghệ thuật sân khấu, trong mảng đề tài chiến tranh cách mạng có tác
phẩm của Hoài Giao, Đào Hồng Cẩm, Tấn Đạt… Đề tài lịch sử là thế mạnh
của sân khấu, đáng chú ý là các tác phẩm của Nguyễn Đình Thi: Rừng trúc
(1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979). Về đề tài xã hội, Lưu Quang Vũ
cũng xuất hiện như một cây bút có sức sáng tạo dồi dào với khoảng năm mươi

15

vở kịch được công diễn, trong đó các vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1984),
Tôi và chúng ta (1985) có tiếng vang hơn cả. Về nghệ thuật chèo, nổi trội hơn
cả là bộ ba tác phẩm Bài ca giữ nước của Tào Mạt (1986).
Về lý luận, phê bình văn học, những biểu hiện đổi mới đến chậm hơn,
nhưng tiêu chí đánh giá đã có những chuyển dịch nhất định: chú ý nhiều hơn
đến giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân bản, chức năng thẩm mĩ của văn học. Vai
trò của chủ thể sáng tác được coi trọng hơn cùng với tính tích cực trong tiếp
nhận văn học của người đọc. Nhiều trường phái lý luận văn học phương Tây
đã được dịch và giới thiệu. Lối phê bình xã hội học dung tục tuy chưa mất hẳn
nhưng không còn được coi trọng.
Không kỳ vọng vào một cuộc cách mạng văn chương duy tân như thời
đại 1930 - 1945, nhưng rõ ràng văn học Việt Nam từ sau 1975 đã bước đầu
đạt được nhiều thành tựu về thể loại và đang trên đà hiện đại hóa. Về mặt
nguyên lý, sức sống của một thời đại văn học phụ thuộc vào sự phong phú và
khả năng hồi sinh, đổi mới của các thể loại. Văn học Việt Nam trong thời
gian qua và cả trong kỷ nguyên tới đang vận động và phát triển theo chiều
hướng song song ấy.
1.1.3.3. Những đổi mới về nội dung và nghệ thuật
Trước hết là những đổi mới trong quan niệm về con người. Trước năm
1975, đối tượng của văn học chủ yếu là con người lịch sử, là nhân vật sử thi;
sau năm 1975, con người được nhìn nhận ở phương diện cá nhân và trong
quan hệ đời thường: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng

của độc giả.
Có thể khẳng định, quá trình đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra khá
toàn diện và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư
cách nghệ sĩ, từ tư tưởng đến thi pháp. Những thành tựu đó nói lên rằng: đổi
mới là quy luật tất yếu. Vận động trên con đường ấy, chắc chắn, văn học sẽ
còn đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong tương lai. "Cánh đồng" văn học
Việt Nam đương đại sẽ ngày càng đơm hoa kết trái.

17

1.2. Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 - những vấn đề đổi mới tư duy và
cách tân nghệ thuật
1.2.1. Quan niệm mới về tiểu thuyết
“Trong cuộc kiếm tìm và hướng tới sự đổi mới, điều quan trọng là phải
thấy được sự cần thiết phải thay đổi bản thân khái niệm của tiểu thuyết dẫn
đến sự thay đổi của bản thân khái niệm về văn học cùng với sự phát triển của
nó” (M. Butor). Ở nước ta, quá trình thay đổi quan niệm về hệ thống thể loại
được khởi động từ trước những năm 1986 nhưng chỉ trở nên rõ rệt từ sau năm
1986 mà người khởi đầu là Nguyễn Minh Châu. Trong bài tiểu luận Hãy đọc
lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987), Nguyễn Minh Châu
đặt ra vấn đề văn học phải trở về với chính mình, chống nguy cơ “nhà văn
đánh mất cái đầu và những tác phẩm đánh mất tư tưởng - nghĩa là những tư
tưởng mới và độc đáo, mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”.
Từ tiếng nói “mở đường” cho nền văn học mới của Nguyễn Minh Châu và
những định hướng về đổi mới văn hoá, văn nghệ của Đảng, sau Đại hội Đảng
lần thứ VI (1986) đến nay, đời sống văn nghệ của ta trở nên sôi nổi với sự
xuất hiện liên tục các cuộc hội thảo, các bài viết được đăng tải trên báo chí
của các nhà văn, nhà lý luận - phê bình về những chặng đường đã qua của tiểu
thuyết cũng như yêu cầu cần phải thay đổi quan niệm về nghệ thuật, tư duy
tiểu thuyết. Tiêu biểu nhất là một loạt bài viết của các tác giả trên tuần báo

nay không được trốn tránh những mặt trái của hiện thực là nhận định của nhà
văn Nguyễn Xuân Khánh khi bàn về tính cấp thiết của yêu cầu đổi mới văn
xuôi, tiểu thuyết tại cuộc Hội thảo ngày 7 tháng 11 năm 2002. Trọng tâm
trong tác phẩm vẫn là hình tượng con người nhưng không được nhìn ở cái
nhìn đơn giản mà ở nhiều chiều, nhiều góc độ. Con người với những góc
khuất trong tâm hồn và thế giới tâm linh.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là tiểu thuyết chuyển hướng
(từ “hướng ngoại” sang “hướng nội”) mà có sự “đẳng hướng về thi pháp”

19

(Nguyễn Ngọc Thiện). Đây là một nét mới trong quan niệm về tiểu thuyết của
các nhà văn. Quan niệm về sự “đẳng hướng” ấy trong thi pháp tiểu thuyết ở
góc nhìn tinh tế và sâu sắc, nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng, viết về
người bình thường, viết về cuộc đời thường là vấn đề mà những người viết
tiểu thuyết không thể không quan tâm. Tiểu thuyết được xem là thể loại “năng
động” nhất, vừa có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn (vĩ mô) vừa có khả
năng đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người (vi mô).
Theo quan niệm mới, tiểu thuyết còn là thể loại không có một hình thức
hoàn kết mà luôn có sự biến hóa, không đứng yên, luôn có sự đấu tranh thay
thế lẫn nhau giữa cái cũ và cái mới trong bản thân thể loại, bởi vì nó là “sử
thi của thời đại chúng ta”, tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng ngày,
hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa với
cái thực tại dang dở “chưa xong xuôi”, cái thực tại đang hình thành, cái thực
tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại. Chúng ta không thể khuôn tiểu thuyết vào
một số nguyên tắc nghệ thuật cứng nhắc, bất biến, mà chính là phải mở ra
những khả năng tiềm tàng vốn có của thể loại này, phát triển và làm phong
phú nó. Chỉ có như vậy, cái “máy cái” của văn học mới có thể đáp ứng được
yêu cầu của người đọc, phù hợp với tư duy của con người thời nay và đáp ứng
tốc độ phát triển nhanh chóng của đời sống hiện đại.

hồng hiện ra (Hồ Anh Thái), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương), Thiên
thần sám hối (Tạ Duy Anh), Người sông Mê (Châu Diên)… Tính trò chơi của
tiểu thuyết được thể hiện ở nhiều phương diện: những hư cấu nghệ thuật trong
tác phẩm; cách kết cấu tác phẩm (hỗn loạn, rời rạc, tùy tiện, chắp vá, người
đọc muốn hiểu, phải tự chơi, tự ráp các mảng nhật ký, hồi ức, đối thoại… lại
với nhau như cách chơi trong trò chơi rubich…
Cái thời kỳ tiểu thuyết chỉ chú ý duy nhất đến “thông điệp”, đến tư
tưởng được gửi gắm vào tác phẩm đã qua. Song điều này không có nghĩa văn
học không còn cần đến những “ẩn dụ”, những triết lí về đời sống, về thân
phận con người. “Lạ hoá” dĩ nhiên rất cần thiết. Nhưng mọi sự làm lạ ấy cũng

21

chỉ nhằm để chuyển tải hiệu quả nhất những lớp “ý nghĩa” nằm sâu dưới hình
thức biểu đạt Yêu cầu đặt ra đối với tiểu thuyết đương đại là phải đạt đến sự
thống nhất giữa trò chơi và ẩn dụ lớn. Đến với tác phẩm, người ta như đến
với những trò chơi, đến để được chơi nhưng không vì thế mà họ không nghĩ
đến những vấn đề nghiêm túc mà tác phẩm đặt ra.
Những quan niệm về tiểu thuyết hiện nay chưa hẳn đã ổn định nhưng sẽ
định hướng cho nhà văn trong sáng tác và góp phần vào quá trình phát triển,
đổi mới thể loại tiểu thuyết, đưa thể loại văn học này phát triển lên một bước,
phong phú hơn, hấp dẫn hơn; vừa đáp ứng được nhu cầu đổi mới của bạn đọc
hiện đại, vừa góp phần đưa văn học Việt Nam bắt “nhịp” văn học thế giới.
Những quan niệm này không chỉ có ý nghĩa đối với nhà văn mà còn có ý
nghĩa quan trọng đối với nhà nghiên cứu phê bình và cả bạn đọc khi tiếp cận
thể loại tiểu thuyết.
1.2.2. Một số khuynh hướng nổi bật
Trong nghiên cứu, việc phân chia tiểu thuyết thành các khuynh hướng
thường có nhiều tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào phương thức khám phá và thể
hiện đời sống của tiểu thuyết đương đại, chúng tôi đề cập đến bốn khuynh

đổi mới, phát triển và nổi lên như một dòng chủ lưu. Trong quá trình sáng tác,
các nhà văn thường xử lý chất liệu lịch sử theo hai hướng chính: lịch sử hoá
tiểu thuyết và tiểu thuyết hoá lịch sử. Hướng thứ nhất thực ra vẫn đi trên con
đường quen thuộc. Cách xử lý chất liệu lịch sử theo tinh thần tiểu thuyết hoá
chắc chắn giúp cho các sự kiện, số liệu lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
Bão táp cung đình, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (Hoàng
Quốc Hải), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn
(Nguyễn Xuân Khánh), Sắc đẹp khuynh thành (Kiều Thanh Tùng), Gió lửa,
Đất trời (Nam Dao), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác)… là những tác
phẩm đã và đang chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc. Mỗi tác phẩm

Trích đoạn Các kiểu nhân vật đặc sắc trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn Một số thủ pháp xây dựng nhân vật Tổ chức kiểu cốt truyện phân mảnh Cách tổ chức “truyện trong truyện” Tổ chức cốt truyện dựa trên những yếu tố kỳ ảo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status