Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

VƢƠNG THÚY HÒA NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Tôn Thảo Miên

THÁI NGUYÊN, 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i

suốt thời gian qua.
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên và tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Học viên
Vương Thúy Hòa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 11
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN BẮC SƠN 11
1.1. Khái quát về nghệ thuật tự sự 11
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu 11

3.3.1. Giọng điệu triết lí 86
3.3.2. Giọng điệu hài hước mỉa mai 90
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tự sự học là ngành nghiên cứu còn non trẻ. Nó được định hình từ những
năm 1960 - 1970 ở Pháp nhưng đã nhanh chóng vượt biên giới, trở thành một trong
những lĩnh vực học thuật được quan tâm trên thế giới. Ở Việt Nam, các công trình về
tự sự học xuất hiện khá muộn và không đồng đều. Tuy nhiên, bước đầu đã có thể
cung cấp một số công cụ hữu hiệu cho người nghiên cứu. Một trong những hướng
nghiên cứu thi pháp học hiệu quả vào việc tiếp nhận tác phẩm văn học Việt Nam
chính là vận dụng các khái niệm tự sự học.
Ngày nay, cùng với sự vận động của đời sống xã hội Việt Nam là sự vận động
của tư duy văn học với những biên độ thẩm mĩ mới. Tiểu thuyết là nơi hội tụ nhiều
khát vọng cách tân và cho thấy khá rõ những mới mẻ trong nghệ thuật tự sự. Đặc biệt
trong những năm gần đây, xuất hiện một số tiểu thuyết gây được tiếng vang lớn và để
lại những ấn tượng sâu sắc cho người đọc bởi sự mới mẻ ở đề tài, cách đặt vấn đề của
nhà văn. Do vậy, tiểu thuyết được coi là mảnh đất hấp dẫn mời gọi người nghiên cứu
vận dụng lí thuyết về tự sự học giải mã tác phẩm.
1.2. Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn nổi tiếng và được đánh giá cao trong
dòng văn học Việt Nam đương đại. Nguyễn Bắc Sơn từng là nhà giáo, nhà quản lý
giáo dục, quản lý báo chí. Ông có sự từng trải và quan trọng hơn là tha thiết với cuộc
đời, bởi thế những trang viết của ông ấm nóng hơi thở của cuộc sống đương đại. Ông

quyết liệt giữa cái cũ và cái mới. Những vấn đề Lửa đắng đặt ra gai góc mà hấp dẫn.
Hai cuốn tiểu thuyết trên có nội dung chính trị sâu sắc, cho thấy nhà văn
Nguyễn Bắc Sơn đã có sự tiếp nối nguồn mạch tiểu thuyết luận đề của Nguyễn Mạnh
Tuấn. Nhiều nhà phê bình văn học đã so sánh lối viết của Nguyễn Bắc Sơn với
Nguyễn Mạnh Tuấn - tác giả của những Đứng trước biển, Cù lao Tràm… làm sôi nổi
văn đàn thời “tiền đổi mới”. Lựa chọn khuynh hướng này, Nguyễn Bắc Sơn chứng tỏ
ông là một công dân có ‎ý thức cao vì đề cập đến những vấn đề chính trị “nóng” mà
dường như mọi người biết nhưng ngại đụng chạm vì nhiều lí do khác nhau.
1.3. Đến nay tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã được tiếp cận trên nhiều phương
diện khác nhau, nhưng chưa có công trình chuyên sâu về nghệ thuật tự sự. Vì vậy
mục đích của đề tài là từ những tri thức lí luận về tự sự, tìm hiểu nghệ thuật tự sự của
tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn. Chọn đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn
Bắc Sơn, chúng tôi muốn nhận diện một hiện tượng đáng chú ý trong đời sống văn
chương nước ta mấy năm gần đây, qua đó tìm hiểu con đường vận động cùng những
thể nghiệm cách tân của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. 3
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những ý kiến bàn chung về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Việt Nam
đương đại
Trong văn học Việ t Nam đương đ ại, tiể u thuyế t chiế m mộ t v ị trí quan trọng.
Thể tài này được coi là “cỗ trọng pháo” trong nền văn học. Chính vì thế từ giữa thậ p
kỷ 90, trong bối cảnh hộ i nhậ p, tiể u thuyế t đã có sự tìm tòi theo mộ t hướng mới, ở đó
“hình thức của tiể u thuyế t đã trở thành chủ đề quan trọng”.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có cách tân cả về nội dung lẫn nghệ thuật,
nhất là giai đoạn từ sau đổi mới đến nay. Đây là giai đoạn mà văn học nói chung và
tiểu thuyết nói riêng có những bước tiến đáng ghi nhận, đội ngũ sáng tác ngày càng
đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, trong đó có những tác phẩm thực sự có giá trị.
Thực tế đó đòi hỏi giới nghiên cứu phải có sự quan tâm thích đáng đối với thể loại

tiện truyền thông. Số lượng bài viết dồi dào, sắc thái, “cấp độ” tình cảm khác nhau,
người viết có thể là nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học chuyên nghiệp hay đơn
thuần chỉ là một độc giả yêu thích văn chương.
2.2.1. Về tiểu thuyết Luật đời và cha con
Các nhà nghiên cứu phê bình văn học đánh giá tác phẩm ở nhiều khía cạnh
nhưng đều thống nhất đánh giá cao thành công nổi bật của tác giả trong việc lựa chọn
đề tài sáng tác mới, xông thẳng vào những vấn đề nóng bỏng, thậm chí có thể là mạo
hiểm của cuộc sống hiện đại. Chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt một số bài viết đó:
Nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn trên báo Văn nghệ Trẻ số 40 (462)
ngày 2/10/2005 đã khẳng định: “Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam
đầu tiên mổ xẻ sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế , một sự
vận động đụng chạm đến từng gia đình, từng số phận” [47, tr.541]. Trong bài viết tác
giả cũng thẳng thắn chỉ ra một vài nhược điểm của tác phẩm là một số chương đoạn
còn lan man, xô bồ, dễ dãi, chạy theo sự vụ, mượn mồm nhân vật để kể chuyện đời
Nhưng kết luận cuối cùng của bài viết là một lời khen ngợi: “Luật đời và cha con là
một cuốn tiểu thuyết thuyết tình ái - chính trị gai góc và sinh động, một bước cố gắng
thể hiện những vấn đề của cuộc sống và con người hiện đại ở góc nhìn mới mang tính
luận đề, một cái nhìn trực diện về những diễn biến theo hướng suy đồi của xã hội
hôm nay và chia sẻ những khó khăn của những người lãnh đạo có tầm nhìn mới, bản
lĩnh mới và năng lực mới” [47, tr.543 - 544 ].
Bài viết Luật đời và cha con của nhà văn Hoàng Minh Tường (Báo Văn nghệ
số 49 ngày 3/12/2005) cho rằng câu chuyện của tiểu thuyết Luật đời và cha con xoay
quanh chuyện của một gia đình song cũng là chuyện của xã hội. Những tha hóa của
các thành viên trong một gia đình nhìn bề ngoài mẫu mực, những mối quan hệ nhằng 5
nhịt trong hôn nhân, những vấn đề tham nhũng, tệ nạn xã hội tất cả đều được phản
ánh trong tác phẩm. Từ đó Hoàng Minh Tường khẳng định: “Ở lĩnh vực nào, ngòi bút
của Nguyễn Bắc Sơn cũng tỏ ra hoạt náo và giàu chi tiết đời sống” [47, tr.549].

6
như được tiếp xúc trực tiếp với những luồng điện nằm sẵn trong đời, được thấy phù
sa đời sống chạm vào xúc giác của mình, được hít thở vị mặn của cuộc sống đang
diễn ra trước mắt ta từng phút giây” [47, tr.563 - 567].
Tác giả cũng có ý kiến phát biểu trực tiếp, đánh giá thỏa đáng những thành
công của nhà văn: về mặt tư duy tiểu thuyết, tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn là tiểu
thuyết mang tính luận đề, thông thường những tiểu thuyết luận đề thì khô khan nhưng
Nguyễn Bắc Sơn đã biết mềm mại hóa, biết làm cho nó có khả năng chinh phục
người đọc. Bởi lẽ cách tổ chức các tuyến sự kiện, tuyến nhân vật, ngôn ngữ rất gần
gũi với đời sống. Chính điều này mang lại sự tươi mới cho tiểu thuyết của Nguyễn
Bắc Sơn.
Nhà phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan có bài Một cuốn tiểu thuyết về đổi
mới in trên báo Người Hà Nội ngày 31/3/2006 nói về những điểm đổi mới của Luật
đời và cha con gồm: Vấn đề xã hội mới được nói đến, tác phẩm được triển khai theo
hình mẫu ngôn ngữ tiểu thuyết hiện thực “truyền thống” - “Cuốn tiểu thuyết này đặt
trọng tâm và dựa cả vào nhân vật và cốt truyện, trong đó phần của các nhân vật có
vai trò lấn át” [47, tr.573], điểm nhìn mới của cuốn tiểu thuyết “chính là nhìn vào
một khía cạnh hiển nhiên nhưng không phải lúc nào cũng được chú ý”.
Trong buổi thảo luận về tiểu thuyết Luật đời và cha con do báo Văn nghệ tổ
chức ngày 26/12/2006 có rất nhiều ý kiến phát biểu trực tiếp, khen ngợi thành công
của cuốn tiểu thuyết. Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam phát biểu:
“Tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã thành công về mặt thể loại” [47, tr.580].
Nhà phê bình Lê Quang Trang cho rằng: “Thành công đáng chú ý nhất của cuốn tiểu
thuyết là tác giả dũng cảm và sắc sảo trong việc phô bày những vấn đề của xã hội.
Tác giả đã thông qua hình tượng nghệ thuật để nêu những bất cập của cơ chế, nêu độ
vênh giữa lý luận và thực tiễn đời sống” [47, tr.581]. Nhà văn Phạm Ngọc Tiến đánh
giá cao ý nghĩa thời sự của tác phẩm, theo ông: “Văn đàn năm nay có một số sự kiện,
trong đó có cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn. Lâu lắm mới có một cuốn tiểu
thuyết thế sự, xông thẳng vào đời sống chính trị như thế này” [47, tr.582]. Nhà thơ,
nhà phê bình Nguyễn Hoàng Sơn đánh giá: “ Luật đời và cha con dễ đọc, đọc được

tập thơ tên “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm” nhưng đây lại là Lửa đắng. Nó đặt ra trước
mắt chúng ta rất nhiều vấn đề nóng, nhiều vấn đề bức xúc về cơ chế, về đổi mới tư
duy, về cải cách hành chính mà anh Nguyễn Bắc Sơn đã đưa tất cả vào trong tác
phẩm của mình. Nói là tiểu thuyết chính trị, có thể nói là tiểu thuyết luận đề, ngay tên
Lửa đắng đã là tiểu thuyết luận đề, hoặc những vấn đề đặt ra đã mang tính luận đề.
Cái điều đáng nói ở đây là những nhân vật trong Lửa đắng không phải là cái loa 8
phát ngôn của tác giả. Những nhân vật hiện lên rất sống động, là những hình tượng
nghệ thuật đều nói lên điều mà nhà văn tâm huyết”.
Bài Cuộc trở dạ đau đớn của Đào Thị Mĩ Dung in trên báo Văn nghệ số 39 ra
ngày 26/9/2009 đã đề cập tới một số khía cạnh chính của tác phẩm: Đó là vị đắng của
cuộc sống được phản ánh qua Lửa đắng. Vị đắng của cơ chế mua bán càng ngày
càng ngấm sâu vào lòng độc giả, chà sát bao nhiêu tấc lòng còn nặng trĩu ưu tư về
tương lai đất nước. Đó là trận chiến cải cách xã hội được thể hiện qua hình tượng
nhân vật Trần Kiên - người đã thực hiện: “ nhất thể hoá hai vai trò trong một cương
vị trở thành một giải pháp tránh những bất cập trong công tác quản lí, lãnh đạo;
đồng thời bắt buộc người lãnh đạo phải luôn ý thức vai trò của mình trước Đảng và
chính quyền” [7].
Trong cuộc tọa đàm về cuốn tiểu thuyết Lửa đắng của nhà văn Nguyễn Bắc
Sơn (ngày 5/9/2011) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, có rất nhiều nhà văn, nhà
thơ, nhà nghiên cứu phê bình từ các nơi đến dự như: Nguyễn Trí Huân, Nguyễn
Quang Thiều, Phong Lê, Trần Đình Sử, Lê Thành Nghị, Bích Thu, Nguyễn Khắc
Trường, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Xuân Nguyên… nhiều bản tham luận đã được
trình bày, nhiều ý kiến trao đổi về đề tài, về nội dung của Lửa đắng đã diễn ra. Cụ
thể: Tham luận của nhà phê bình Lê Thành Nghị cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết viết
về đời sống hiện đại với nỗi đau trước cái ác và sự lộng hành của đồng tiền đang làm
biến dạng một bộ phận xã hội, nhưng không làm độc giả mất niềm tin vào cuộc đời.
Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn đã dám dũng cảm “xông

mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài nghiên cứu, bài báo, ý kiến phát biểu, phỏng
vấn… nên các tác giả chưa có điều kiện để đi sâu lí giải toàn diện, cụ thể về đặc điểm
tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn và những đóng góp của ông cho sự phát triển của tiểu
thuyết Việt Nam đương đại. Chúng tôi xin tiếp thu tất cả ý kiến của các nhà nghiên
cứu, các nhà văn, nhà báo, bạn đọc về tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn. Đó là những
gợi mở quý báu để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu trong luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm
nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn về các mặt nghệ thuật tổ chức cốt
truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật tổ chức trần thuật. Qua đó góp
phần làm sáng rõ những đặc điểm cơ bản, những nét độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật
tự sự trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định những khái niệm liên quan đến nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết. 10
- Tìm hiểu về nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết Nguyễn Bắc Sơn.
- Tìm hiểu về người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết
Nguyễn Bắc Sơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong
tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn qua nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng
nhân vật và nghệ thuật tổ chức trần thuật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát chủ yếu hai cuốn tiểu thuyết gây
tiếng vang của Nguyễn Bắc Sơn, đó là Luật đời và cha con (Nhà xuất bản Văn học,
2008) và Lửa đắng (Nhà xuất bản Lao động, 2011), đồng thời có so sánh với một số
tiểu thuyết cùng thời của một số tác giả khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

2003) dường như đã góp phần chính danh trong tiếng Việt tên gọi một chuyên ngành
nghiên cứu văn học quan trọng ở Âu - Mĩ, chuyên ngành Tự sự học - Narratology.
Tự sự học là một lĩnh vực tri thức rộng lớn, có lịch sử lâu đời. Tuy chủ nghĩa
cấu trúc và tiền thân của nó là trường phái hình thức Nga đã làm cho lý thuyết tự sự
trở thành một học vấn có hệ thống chặt chẽ, nhưng kiến thức về tự sự đã không
ngừng được khám phá từ xưa đến nay.
Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, nghiên cứu cấu trúc của
văn bản tự sự và các vấn đề liên quan, hay nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ
thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc. Tên gọi Tự sự học -
Narratology, Narratologie, là do nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari Tezvetan Todorov
đề xuất năm 1969, trong sách Ngữ pháp “Chuyện mười ngày”. Cái mà Todorov gọi
là ngữ pháp ở đây chính là kết cấu tự sự của tác phẩm. Thực ra nghiên cứu cấu trúc tự
sự là một truyền thống lâu đời trong văn học phương Tây. Hoàn toàn có thể xem Thi
pháp học của Aristotle là một trong những khởi đầu của truyền thống đó. Trong quá
trình phát triển, nó đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong ngành tự sự học,
trong khoa văn học và trong các khoa học nhân văn; là một bộ môn nghiên cứu liên
ngành, có tính quốc tế.
Bản chất của tự sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá
trình phát ra đơn phương trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin
được phát ra, và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều phương thức, con đường. Song
trong các hình thức tự sự, có thể nói tự sự trong văn học là phức tạp nhất và là đối
tượng nghiên cứu chủ yếu của tự sự học. Nó không chỉ có trong truyện ngắn, tiểu
thuyết mà còn có trong thơ, kịch. 12
Lý thuyết tự sự ngày càng được quan tâm hơn trên phạm vi thế giới bởi nó là
công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất để giúp ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên
cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa. Lý thuyết tự
sự có thể coi như một bộ phận không thể thiếu trong hành trang nghiên cứu văn học

cấu trúc chủ nghĩa); T.Todorov có tác phẩm Ngữ pháp “Chuyện mười ngày”… Sơ
khởi của quan niệm này là hình thái học truyện cổ tích của Propp, tiếp theo là nghiên
cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ của
Roman Jakobson. Đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ học
làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở
rộng của ẩn dụ. Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ, trong chủ
nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức chủ động, còn trong thần thoại là thuộc thức bị
động… A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu
cấu trúc tự sự. G.Genette tuyên bố mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ
yếu là vị ngữ động từ vì ông sử dụng tràn lan các thuật ngữ ngôn ngữ học. R.Barthes
cũng tán thành quan điểm đó. Mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất
ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần
đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan. Mặc dù không phủ nhận
được mối quan hệ văn học với đời sống, nhưng họ đã góp phần làm sáng tỏ bản chất
biểu đạt và giao tiếp của tự sự. Song sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho
tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại, bởi ông chỉ quan
tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự.
Giai đoạn thứ ba của tự sự học là gắn liền với kí hiệu học, một bộ môn quan
tâm tới các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở (Jean -
Claude Coquet). Ở đây, hình thức tự sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm.
Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M.Bakhtin. Các tác giả như
Iu.Lotman, B.Uspenski, cũng theo hướng này, nhìn thấy đằng sau điểm nhìn một lập
trường quan điểm xã hội thẩm mĩ nhất định. Đặc điểm của lý thuyết tự sự hiện nay,
tuy cũng coi trọng phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản
đơn các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo kí hiệu học và siêu kí hiệu học. Pierre
Macherey, nhà mácxít Pháp cho rằng bất cứ sự đồng nhất nào giữa phê bình văn học
với ngôn ngữ học đều sẽ thất bại, bởi nó bỏ qua vai trò tác động của hình thái ý thức,
còn Iu.Lotman cho rằng thông tin ngôn ngữ là thông tin phi văn bản, mà điểm xuất
phát của văn bản lại chính là chỗ bất cập của ngôn ngữ khiến nó trở thành văn bản.
Nếu văn bản trở về với ý nghĩa của ngôn ngữ học thì có nghĩa là sự sụp đổ của văn

“nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ giữa hai cái đó.
Định nghĩa 2: Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn
tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.Genette). Trong nghĩa hạn định này,
narratology không quan tâm bản thân câu chuyện, mà tập trung sự chú ý vào thoại
ngữ tự sự. 15
Như vậy có thể thấy, Narratology trong định nghĩa thứ nhất chính là một lí
luận tổng quát liên quan đến mọi tác phẩm tự sự trong một trọn vẹn chỉnh thể và quá
trình. Chúng ta có thể hiểu bao quát rằng, mọi tác phẩm tự sự ở đây là chỉ tất cả các
loại hình và dạng thức tự sự, cho dù là tự sự trên/bằng/với chất liệu/phương tiện nào
chứ không chỉ là ngôn từ lời nói. Nó cũng nghiên cứu hai đầu của cái quá trình giao
tiếp tự sự đó - chủ thể sản sinh tự sự và kẻ tiếp nhận tự sự. Đó không chỉ là hình ảnh
một người nói/viết và bên kia, hình ảnh người đọc/người nghe. Tất cả các tác phẩm tự
sự đều vật chất hoá thành một dạng “văn bản” bởi những chủ thể tác giả tồn tại/hiển
hiện trên những cấp độ bao hàm nhau “kể” cho những đối tượng thụ nhận cũng tồn
tại /hiển hiện trên những cấp độ bao hàm tương ứng một “câu chuyện”.
Narratology trong định nghĩa thứ hai có một sở chỉ hạn định hơn. Nó nghiên
cứu văn học tự sự ( tiểu thuyết, truyện kể là thực liệu điển hình). Thậm chí nó còn
tiếp tục giới hạn sự quan tâm trong phạm vi hình thức biểu đạt câu chuyện bằng lời
văn tự. Ở đây nhắc đến G. Genette như là đại diện tiêu biểu của khuynh hướng tự sự
học này. Ta đều biết tác phẩm đại biểu của Gérard Genette là Thoại ngữ tự sự
(Discours du recit. Seuil, 1972. J.E.Lewin dịch ra tiếng Anh Narrative Discourse.
Ithaca: Cornell Univ. Press, 1980). Trong đó Genette đề xuất khái niệm ngữ thái,
phân xuất thoại ngữ trần thuật và hành động trần thuật từ cái thực thể mà chẳng hạn
Mieke Bal (Hà Lan) cũng gọi bằng tiếng Pháp là văn bản tự sự (texte narratif).
Những tác phẩm tự sự bằng/trên chất liệu khác dĩ nhiên không liên quan đến khái
niệm ngữ thái của Genette.
Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt narrative và naration như là khu biệt giữa

truyện) chỉ có thể tiếp xúc với câu chuyện thông qua thoại ngữ tự sự đã sản sinh nên
nó. Họ cho rằng tự sự học giả định sự kiện tồn tại trước thoại ngữ nói về hoặc biểu
đạt chúng. Vì vậy đã kiến lập nên một trật tự tầng bậc. Thế nhưng tác phẩm tự sự
trong quá trình vận tác thường lật nhào trật tự đó. Các tác phẩm tự sự không phải là
biểu đạt sự kiện như là biểu đạt sự thực đã biết, mà là biểu đạt chúng như là sản vật
của sức mạnh hay yêu cầu của thoại ngữ.
Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu
trúc tự sự. Nó quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau của tác phẩm.
Tác giả không bao giờ hiện diện trong tác phẩm như là một người kể, người
phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn, một cái “Tôi” thứ hai của nhà
văn, với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm. Tác giả
thực sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể hoặc là người nghe trộm
người kể. Người trần thuật là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể. Và hành vi trần 17
thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm là văn bản tự sự. Người trần
thuật trong văn bản văn học là một hiện tượng nghệ thuật phức tạp nhất mà ngôi kể
chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ. Người trần thuật vốn không có gì là ngôi kể, mà chỉ
là chủ thể kể. Sự khác biệt của “ngôi thứ nhất”, “ngôi thứ ba” chỉ là khác nhau về
mức độ bộc lộ và ẩn dấu của người trần thuật mà thôi. Sự ẩn dấu của ngôi kể thứ ba
làm cho nó gần như là vô nhân xưng. Ngôi kể là yếu tố tạo thành tiếng nói, giọng
điệu. Điều quan trọng nữa là kể theo điểm nhìn nào. Đây là vấn đề tiêu cự trần thuật
làm phân biệt các hình thức tự sự khác nhau.
Ý thức chủ thể tự sự cũng là một hiện tượng phức tạp, nhiều tầng, bao gồm tác
giả hàm ẩn, người trần thuật (có thể nhiều vai) và nhân vật (có thể nhiều người). Từ
đó, cấu trúc tự sự có nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, có tính đối thoại, một vấn đề
đã được M.Bakhtin nêu lên.
Lí thuyết tự sự hiện đại lần đầu tiên làm cho người trần thuật vô hình vốn ít
được người ta chú ý phân tích, được hiện ra như một hệ thống biểu đạt. Nó cho người

Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn có tên khai sinh Nguyễn Công Bác. Sinh năm 1941.
Quê quán : Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Nội. Sinh ra ở Nam Định, kháng chiến chống
Pháp, gia đình ông tản cư lên Phú Thọ, ở xã Tân Phong, huyện Hạ Hòa. Ở đây ngay
từ tuổi thiếu niên, ông đã tham gia đoàn thiếu nhi nghệ thuật Lưu Hữu Phước, trong
trại Thiếu nhi Bác Hồ, biểu diễn múa hát phục vụ kháng chiến. Năm 1955, ông trở về
Hà Nội, tốt nghiệp đại học Sư phạm năm 1962 trở thành thầy giáo dạy Văn trường
THPT Hoàn Kiếm trong 10 năm. Ông kể, hồi còn học phổ thông, cũng đã từng ấp ủ
mộng văn chương vì cũng có chút năng khiếu, nhưng rồi theo thời gian, cái mộng văn
chương ấy cũng tắt ngấm. Năm 1972 ông vào bộ đội, tham gia kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, từ năm 1981 đến 1992 ông là phó hiệu trưởng trường Chu văn An danh
tiếng, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng nhưng ông từ chối sau đó vui vẻ về làm trưởng
phòng quản lý báo chí, xuất bản của sở Văn hoá thông tin Hà Nội, bởi vì: “Nghề báo
chí xuất bản, gắn với sách vở chữ nghĩa” là niềm đam mê từ lâu của ông. Chính
trong quãng thời gian 10 năm ở Sở Văn hoá thông tin Hà Nội, ông đã đến với thực tế
đời sống, cọ sát và va đập đến tận cùng với cuộc đời của một anh công chức ngành
văn hoá, chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong tiến trình đổi mới của đất nước.
Cơ chế thị trường đang xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn, đời sống con người, tư duy
và bản lĩnh cũng phải đổi thay chóng mặt để thích ứng với thời cuộc, vì thế có biết
bao bi kịch đau đớn trong cái đời sống phức tạp ấy. Nguyễn Bắc Sơn đã sống đến tận
cùng cuộc sống đang sở hữu, làm việc hết mình và tích lũy vốn sống hết mình. 19
1.2.2. Sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn
Nguyễn Bắc Sơn là một nhà văn đa tài. Ông đã thử bút với nhiều thể loại văn
học, từ bút ký, đến truyện ngắn, truyện vừa rồi tiểu thuyết,… Ở thể loại nào ông cũng
gặt hái được những thành công nhất định.
Với những thành công trong sáng tạo nghệ thuật của mình, Nguyễn Bắc Sơn
đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học lớn: Giải Ba viết về giao thông vận
tải của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Giao thông Vận tải; Giải Nhì và hai giải Nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status