nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết nam cao - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ XUYẾN
NGHỆ THUẬT TỰ SÙ
TRONG TIỂU THUYẾT NAM CAO
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SÈ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐĂNG
XUYỀN
HÀ NỘI - 2007
Lời cảm ơn
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ quỹ báu của:
- Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam.
1
- Ban giám hiệu, Phòng quản lý khoa học, Ban chủ nhiệm
khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Nhân đây tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với
Giáo sư Tiến sỹ Trần Đăng Xuyền, người đã tận tình hướng dẫn
và dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp đã
có sự góp ý và trao đổi chân thành trong quá trình thực hiện
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã
cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Hà nội, ngày 10 tháng 11 năm 2007
Tác giả luận văn
Trần Thị Xuyến
MỤC LỤC

Kết cấu trong Truyện người hàng xóm 57
Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
61
1 Từ quan niệm nghệ thuật về con người của Nam
Cao
61
2 Đến các thủ pháp xây dựng nhân vật 65
2.1 Khắc họa nhân vật từ đời sống nội tâm 65
2.2 Miêu tả thiên nhiên, ngoại cảnh thể hiện nội tâm nhân vật. 75
2.3 Miêu tả ngoại hình thể hiện nội tâm nhân vật 79
2.4 Nghệ thuật phân tích tâm lý 82
Chương 4

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 88
1 Quan điểm trần thuật 88
2 Nhịp điệu trần thuật 94
PHẦN KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
3
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Nam Cao là một nhà văn lớn có vị trí quan trọng lịch sử văn học
Việt Nam hiện đại. Ông là một trong số những gương mặt nổi bật của
nền văn xuôi hiện đại. Sù nghiệp văn chương của Nam Cao đánh dấu một
bước phát triÓn vượt bậc của văn học hiện thực giai đoạn cuối (1940 -
1945). Nếu như ở giai đoạn này, các trào lưu văn học khác dường như
chững lại, thậm chí trào lưu lãng mạn với Tù lực Văn đoàn và thơ mới đi
vào suy thoái thì trào lưu hiện thực với sù góp mặt mang ý nghĩa lớn lao
của Nam Cao đã lại là một bước tiÕn míi so víi chính nó giai đoạn
trước. Nguyên nhân này có thể được lý giải bằng hoàn cảnh lịch sử, văn

hầu nh quên rằng trong quãng đời cầm bót chưa dài của mình, Nam Cao đã
viÕt nhiÒu tiÓu thuyết (tuy phần lớn đã thất lạc bản thảo), bên cạnh Sống
mòn còn có Truyện người hàng xóm- truyện dài được đăng báo vào năm
1944. Tác phẩm Truyện người hàng xóm còn Ýt được chú ý, nhất là những
thành công về nghệ thuật. Tác phẩm này có được nhắc đến trong nghiên
cứu về Nam Cao nhưng thường được gộp trong việc nghiên cứu với
phương diện néi dung tư tưởng, hoặc được gộp trong quá trình đánh giá
chung về thế giíi nghệ thuật của Nam Cao. Nam Cao víi tư cách là một nhà
5
tiÓu thuyết vẫn còn cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện
hơn nữa.
Sống mòn là một tiÓu thuyết xuất sắc của Nam Cao, là một cái mốc
quan trọng đánh dấu sự phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam theo hướng
hiện đại hoá. Đây là tác phẩm hiện nay đã được khẳng định thống nhất về
phương diện thể loại. Truyện người hàng xóm là mét trong hai tác phẩm
truyện dài còn lại của Nam Cao. Xoay quanh nhận định cho rằng tác phẩm
này là một tiểu thuyết, trong giới nghiên cứu còn có ý kiến chưa thống
nhất. Có những ý kiến cho rằng tác phẩm chỉ là một truyện vừa, song
những ý kiến khẳng định đây là một tiểu thuyết vẫn có nhiều căn cứ thuyết
phục. Bên cạnh những truyện ngắn đặc sắc, Nam Cao còn để lại cho chóng
ta hai tác phẩm tương đối dài hơi hơn là Sống mòn và Truyện người hàng
xóm. Để thuận lợi cho việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong
hai tác phẩm khá dày dặn có dấu hiệu đặc trưng của tiểu thuyết này, căn cứ
vào đặc trưng thể loại thể hiện trong tác phẩm, chúng tôi tạm xếp Truyện
người hàng xóm vào thể loại tiểu thuyết. Truyện người hàng xóm tuy
không xuất sắc bằng Sống mòn, song vẫn nằm trong sự thống nhất phong
cách tiÓu thuyết Nam Cao và có giá trị nghệ thuật đặc sắc, khẳng định
những sáng tạo vừa độc đáo, mới mẻ, vừa rất đa dạng trong ngòi bót của
Nam Cao. Có thể nói, Nam Cao là mét cây bót tiÓu thuyết có nhiÒu cách
tân mới mẻ về nghệ thuật, có một phong cách tiÓu thuyết riêng, đóng

Cao míi thực sự được tiÕn hành và có những công trình công phu.
Trong cuốn Nam Cao- Nhà văn hiện thực xuất sắc (NXB Văn hoá-
1961), một công trình nghiên cứu khá dày dặn về các sáng tác của Nam
7
Cao, nhà nghiên cứu phê bình văn học Hà Minh Đức đánh giá cao Sống
mòn víi nhận định: trong văn học công khai giai đoạn 1930-1945, Sống
mòn là một trong những tác phẩm có giá trị nhất. Ông đã phân tích về
quá trình tâm lý của nhân vật Thứ và thấy được vai trò của nó trong việc
thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Ông đánh giá Nam Cao là người
có hướng đi riêng trong cách tiÕp cận và phản ánh hiện thực: “Tìm tòi
trong những chuyện bình thường hàng ngày ý nghĩa sâu xa của đời sống
và gợi lên bên trong phần lặng lẽ nghiêm ngặt của hiện thực một cái gì
sôi nổi nồng cháy”(13,171). Song những thành công khác về phương
diện nghệ thuật của tiÓu thuyết này nh cốt truyện, kết cấu, cách xây
dựng nhân vật… trong tiÓu thuyết thì hầu nh chưa được chú ý đến.
Thậm chí trong quá trình đánh giá Sống mòn, bên cạnh khen, tác giả còn
chê tác phẩm có nhiÒu hạn chế và cho rằng tiÓu thuyết có vấn đề trong
việc “khắc hoạ tính cách điÓn hình”. Ông cho rằng yêu cầu của người
đọc đòi hái Nam Cao phải cá tính hoá nhân vật Sống mòn hơn nữa. Theo
ông, nhân vật được gọi là “Tâm trạng điÓn hình mà chưa gọi là tính cách
điÓn hình là vì tâm trạng đó chưa kết hợp thể hiện víi những cá tính
sinh động khác. Nhân vật chưa được gọi là nhân vật điÓn hình vì tâm
trạng Thứ có ý nghĩa phổ biÕn và tiêu biÓu nhưng ở Thứ còn thiÕu
những biÓu hiện sinh động của một con người cá biệt"(13,187). Như
vậy, Sống mòn được đánh giá cao về nội dung nhưng về nghệ thuật thì
chưa được đánh giá chính xác và thấu đáo. Cũng trong chuyên luận này,
khi đánh giá về Truyện người hàng xóm, Hà Minh Đức lại cho rằng đây
là tác phẩm mà “Nam Cao định đưa vào tác phẩm một số suy nghĩ và
quan điÓm tích cực nhưng chưa biÕn thành hiện thực. Các quan điÓm
và suy nghĩ Êy chưa chuyển hoá được vào các hình tượng nghệ thuật.

sản. Ở đây không có cái nhìn ảo tưởng, tô vẽ về họ như một số nhà văn
khác cùng thời. Nam Cao đã vẽ đúng hình ảnh họ và đặt họ đúng vào vị
trí của họ trong đời (…) trong Sống mòn không còn bóng dáng nhân vật
nào có thể được xem là nhân vật chính diện thật sự"(33,36). Ông cũng đã
nhận ra “sự han gỉ trong tâm hồn một líp người trÝ thức tiÓu tư sản”,
biÓu hiện “một cách nhìn sâu”, cũng là “một cách nhìn dũng cảm”. Tác
giả cũng đã chú ý tíi cách thức thể hiện riêng của Nam Cao nhưng vẫn
mới chỉ đi sâu vào nội dung mà Ýt chó ý về giá trị nghệ thuật của tiÓu
thuyết Nam Cao.
Phan Cự Đệ trong công trình nghiên cứu công phu:TiÓu thuyết
Việt Nam hiện đại (NXB ĐH & THCN, HN, 1974) cũng đã bàn đến nghệ
thuật của tiÓu thuyết Nam Cao trong sù so sánh với tiÓu thuyết của các
nhà văn khác cùng thời. Ông cho rằng Tắt đèn có lối kết cấu “trong một
không gian ngắn, những mâu thuẫn dồn dập, cọ xát nhau nảy lửa. Những
sự kiện tíi tiÕp diÔn ra, dồn nhân vật vào chỗ cùng đường và làm nổ ra
những phản ứng kịch liệt. Nam Cao muốn diÔn tả những bi kịch không
lối thoát của Thứ nên đã sử dụng lối kết cấu vòng tròn"(10,245). Khi
đánh giá về ngôn ngữ của tiÓu thuyết Nam Cao, ông đã nhận thấy: “Nam
Cao chó ý hơn đến những động tác tâm lý bên trong. Ông đã xây dựng
thành công những đoạn độc thoại néi tâm nhân vật”(10,220) và thấy tính
chất “đa thanh” của trong ngôn ngữ tiÓu thuyết Sống mòn. Song những
đánh giá về nghệ thuật tiÓu thuyết của Nam Cao nh trên còn là những ý
kiÕn lẻ tẻ chưa thành hệ thống, chưa làm nổi rõ sự cách tân của Nam
Cao trong tiÓu thuyết hiện đại Việt Nam.
Có thể nói trong suốt 60 năm trở về trước, Sống mòn còng đã được
chú ý nhiÒu hơn song chưa có một công trình nghiên cứu công phu về
giá trị nghệ thuật của tiÓu thuyết này. Các công trình nghiên cứu mới chỉ
10
chú ý ở tác phẩm này về phương diện néi dung chứ chưa có khám phá
bao nhiêu về mặt nghệ thuật. Truyện người hàng xóm hầu nh chưa được

về Nam Cao luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò cách tân nghệ thuật
của Nam Cao. Ông khẳng định vị trí của Nam Cao, “bản sắc độc đáo”
của Nam Cao là một “cây bót luôn tìm tòi, khám phá và sáng tạo”, đồng
thời khẳng định bản lĩnh và tài năng của Nam Cao khi viÕt về những
“cái hàng ngày” là xuất phát từ “những tư tưởng sâu, những tình cảm
lớn, từ cõi thơ cao khiÕt mà quan sát, miêu tả cái “văn xuôi” phàm tục
của cuộc đời”(40,62). Ông đánh giá tiÓu thuyết Sống mòn là “thật sự đạt
tới hình thức hiện đại”. Ông cho rằng đứng về mặt thÓ tài, tiÓu thuyết
Sống mòn là một hiện tượng độc đáo và đột xuất: "Một lèi tiÓu thuyết cứ
phóng bót một cách tuỳ tiện theo dòng tâm sự của nhân vật với nhiÒu
đoạn tạt ngang dài dòng tưởng như lạc đề. Vậy mà tác phẩm vẫn giữ
được tính thống nhất chặt chẽ xoay quanh quan niệm nhất quán của nhà
văn về sự sống và cái chết trong tâm hồn con người. Chủ đề triÕt lý
thấm sâu, liên kết các số phận nhân vật và đem đến cho những câu
chuyện vụn vặt, tủn mủn của mấy người tiÓu tư sản ý nghĩa khái quát, xã
hội rộng lớn…"(40,63). Về Truyện người hàng xóm, ông cho rằng:
“Theo dõi sát ngòi bót của Nam Cao, người đọc có thể cảm nhận được
Truyện người hàng xóm một vài yếu tố mới mẻ về tư tưởng và bót pháp,
một cái nhìn xã hội theo quan điÓm đối lập dứt khoát giữa nhân dân lao
động nghèo khổ nhưng tốt bụng với bọn bóc lột tàn ác. Một chủ nghĩa
lạc quan tươi sáng, làm cơ sở cho mét giọng văn Ýt chua chát hơn và
một bót pháp thiên về lý tưởng hoá khi viÕt về bản chất tốt đẹp, nghị lực
12
sống và mối tình cao cả như sen nở giữa bùn lầy của ba nhân vật trẻ
tuổi"(40,42).
Nhìn chung, tiÓu thuyết Sống mòn và Truyện người hàng xóm đã
bước đầu được các nhà nghiên cứu, được khẳng định nhưng mới chỉ chủ
yếu trên phương diện néi dung tư tưởng hoặc có đánh giá về mặt nghệ
thuật thì cũng mới chỉ là những nhận xét tản mạn, chưa có một công
trình nghiên cứu hoàn chỉnh. Sau này, trong các công trình nghiên cứu

soi rọi vào đó một luồng ánh sáng rất mạnh của tư tưởng, bắt những
chuyện vặt vãnh, những cảnh đời thường hàng ngày quen thuộc nói lên
những ý nghĩa sâu sắc về con người, về cuộc sống và nghệ thuật", và
“Sáng tác của Nam Cao đánh dấu sự đổi míi về thi pháp của tiÓu thuyết
hiện đại so víi tiÓu thuyết trung đại, tiÓu thuyết truyền thống”(52.45).
Còng trong cuốn chuyên luận này, nhà nghiên cứu đã phân tích sâu sắc
về những mới mẻ của tiÓu thuyết Nam Cao về các phương diện kết cấu,
xây dựng xung đột, mâu thuẫn, không gian và thời gian nghệ thuật, nghệ
thuật khắc hoạ tâm lý nhân vật sắc sảo có một không hai và các thủ pháp
nghệ thuật hướng vào làm sáng tỏ nội tâm nhân vật như nghệ thuật miêu
tả diện mạo nhân vật, nghệ thuật miêu tả thiên nhiên… Tuy nhiên, những
thành công về phương diện nghệ thuật trong tiÓu thuyết Nam Cao của
công trình nghiên cứu này vẫn tập trung trong sự phân tích đánh giá về
nghệ thuật tự sự trong các sáng tác của Nam Cao nãi chung, bao gồm cả
truyện ngắn.
Gần đây nhiÒu công trình nghiên cứu văn học đã có chú ý nhiÒu
hơn tới Truyện người hàng xóm. Trong luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn
Những vấn đề trong sáng tác của Nam Cao qua thực tiÔn nghiên cứu về
14
nhà văn, bên cạnh việc xem xét lại mét số vấn đề về bi kịch vỡ mộng
trong Sống mòn, nhân vật Thứ là “tính cách điÓn hình” hay “tâm trạng
điÓn hình”, “tiÓu thuyết Sống mòn phải chăng là dấu hiệu lôi tàn của
văn học hiện thực trước cách mạng”, Hà Bình Trị đã có một bài phân
tích về những thành công của Truyện người hàng xóm là một bức tranh
hết sức chân thực đầy ám ảnh về những cảnh đời lầm than trong cuộc
sống đời thường của líp dân nghèo ngoại ô trước cách mạng. Đồng thời
trong luận văn khoa học này, Hà Bình Trị đã chỉ ra một số thành công về
nghệ thuật của tác phẩm vẫn “quen thuộc trong phong cách nghệ thuật
của Nam Cao, đồng thời tác phẩm cũng có những đặc sắc riêng Ýt thấy
trong các sáng tác khác của ông"(49,149) về các phương diện cốt truyện,

thiÕt để khẳng định tư cách nhà tiÓu thuyết và tài năng tiÓu thuyết của
Nam Cao.
III. Nhiệm vụ của đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 tuy không dài nhưng là
một giai đoạn văn học phát triển mạnh mẽ và có những đóng góp to lớn
cho sự phát triển của văn học dân téc. Đây là thời kì nở ré của biết bao
tài năng văn học, bởi trong bối cảnh xã hội lúc bấy giê, sù khẳng định cái
tôi trong văn học trước hết là nhà văn phải để lại một dấu Ên riêng.
Trong dòng chảy Êy, Nam Cao nổi lên như một hiện tượng văn học độc
đáo dù đương thời, nhà văn không được đánh giá cao. Với sự cần mẫn và
nghiêm tóc trong nghề cầm bót trở thành một ý thức tự giác thường trực,
Nam Cao đã tạo được cho mình chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc
16
và giới phê bình văn học nhiều thế hệ. Đã qua hơn nửa thế kỉ, người đọc
vẫn chưa thôi ngỡ ngàng cảm phục nhà văn và không ngừng tìm thấy
những phát hiện mới mẻ về những chiêm nghiệm, khái quát của nhà văn
về cuộc đời và con người. Thời gian càng lùi xa, người ta càng thấy rõ
hơn tầm vóc của một nhà văn lớn.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu, tìm
hiÓu nghệ thuật tự sự của tiÓu thuyết Nam Cao trên các phương diện về
cách tiÕp cận hiện thực, sự độc đáo về cốt truyện và kết thúc, nghệ thuật
xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật. Đây là những phương diện
chủ yếu trong nghệ thuật tự sự của một tác phẩm, cũng là những phương
diện thể hiện rõ nhất tài năng tiÓu thuyết của Nam Cao. Đây cũng là dịp
nhìn lại, khẳng định lại những thành công của Nam Cao về phương diện
thể loại tiÓu thuyết. Đồng thời việc nghiên cứu, tìm hiÓu nghệ thuật tự
sự trong tiÓu thuyết của Nam Cao sẽ góp phần khẳng định một lần nữa
sự da dạng, phong phú, đặc sắc trong phong cách của Nam Cao, góp
phần khẳng định vị trí không thể thay thế của Nam Cao trong tiÕn trình
phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại.

Theo Từ điÓn thuật ngữ văn học" ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi chủ biên), tiÓu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả
năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giíi hạn không gian và thời gian.
TiÓu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiÒu cuộc đời, những bức
18
tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điÒu kiện sinh hoạt giai
cấp, tái hiện nhiÒu tính cách đa dạng ….So víi các thể khác của loại tù
sự như ngụ ngôn, anh hùng ca ( sử thi ) thì đặc điÓm tiêu biÓu thứ nhất
của tiÓu thuyết là cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư. Đặc trưng này
thoạt đầu được hình thành ngay trong tiÓu thuyết cổ đại. Càng về sau
đời tư càng trở thành tiêu điÓm để miêu tả cuộc sống một cách tiÓu
thuyết. Tuỳ theo từng thời kỳ phát triÓn, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc
tới mức thể hiện được, hoặc kết hợp được víi các chủ đề thế sự hoặc lịch
sử dân téc. Nhưng yếu tố đời tư càng phát triÓn thì chất tiÓu thuyết càng
tăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân téc càng phát triÓn thì chất sử thi
càng đậm đà.”(19,122). Còng trong công trình này, các tác giả cũng chỉ
ra rằng: "Ngoài hệ thống sự kiện, biÕn cố và những chi tiÕt tính cách,
tiÓu thuyết miêu tả suy tư của nhân vật về thế giíi, về đời người, phân
tích cặn kẽ các diÔn biÕn tình cảm, trình bày tường tận tiÓu sử của nhân
vật, mọi chi tiÕt về quan hệ giữa người và người, về đồ vật, môi trường,
nội thất Xét từ phương diện này thì "Sống mòn của Nam Cao là tác
phẩm rất tiÓu thuyết"(19,224). Trong Từ điÓn văn học, tập II, phó giáo
sư Nguyễn Xuân Nam cùng ý kiÕn khi cho rằng : "TiÓu thuyết có khả
năng phản ánh những cuộc đấu tranh giai cấp phức tạp, những mối quan
hệ xã hội đan chéo vào nhau trong một cốt truyện. Nhân vật trong tiÓu
thuyết cũng được miêu tả tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm, nhất là ghi lại
quá trình hình thành và phát triÓn các tính cách nhân vật theo lịch sử các
biÕn cố”(56,389). Trong mục về tiÓu thuyết này, nhà nghiên cứu còn
chỉ ra: “ Kết cấu của tiÓu thuyết rất đa dạng, biÕn hoá, thường kết hợp
nhiÒu kiÓu kết cấu. Ngôn ngữ tiÓu thuyết phong phó: ngôn ngữ người

20
Ýt những cảnh ngộ thê thảm với những kiếp sống đặc biệt kì lạ. Trên cái
nền hiện thực Êy, văn học hiện thực phê phán Việt Nam đã gặt hái được
những thành công rực rì. Mâu thuẫn xã hội được phản ánh trong nhiều
tác phẩm tuy mức độ , sắc thái đậm nhạt có khác nhau. Hầu hết các tác
phẩm văn học hiện thực trong những giai đoạn đầu đều hướng ngòi bót
của mình vầo các giai tầng với tư cách xã hội của nó.Tiểu thuyết hiện
thực với ưu thế và khả năng to lớn của nó trong nắm bắt và phản ánh
hiện thực đã góp phần không nhỏ trong tái hiện diện mạo và thực trạng
của đời sống xã hội đương thời. Ngô Tất Tố đặc biệt chú ý tới việc làng,
tới xã hội nông thôn Việt Nam thu nhỏ nơi một góc làng hay chốn đình
trung. Đằng sau luỹ tre làng là một nông thôn xơ xác, đói nghèo, càng
thảm thương hơn khi vào mùa nước lụt hay kì sưu thuế, lũ cường hào ác
bá bóp hầu, bóp cổ dân quê, mâu thuẫn giai cấp dồn nén âm ỉ, càng dập
càng dễ bùng lên. Đó là một suất thuế thân còn thiếu của người đã chết,
hay là cái ăn trong mùa nước nổi, nghệ thuật băm miếng thịt gà chia
nhau một miếng giữa làng Vũ Trọng Phụng xây dựng cả một xã hội thu
nhá với đủ mọi tầng líp người, từ Thống sứ, vua Xiêm, quan Tây, vua ta
cho tới mọi đại diện xã hội trong một tiểu thuyết hoạt kê bậc thày Số đỏ.
Sức khái quát hiện thực rộng lớn kết hợp với khả năng nhìn thấu tỏ bản
chất xã hội trên nét cơ bản nhất, cùng với thái độ căm uất không nguôi
cái xã hội "chã đểu"( chữ của Vũ Trọng Phụng) đã giúp nhà văn xây
dựng những tiểu thuyết lớn như Giông tè, Vỡ đê bên cạnh hàng loạt
những phóng sự nổi tiếng.
TiÓu thuyết của Nam Cao ra đời sau hàng loạt những tiÓu thuyết
lớn đã nổi danh, lừng lẫy trên văn đàn của các bậc nhà văn đàn anh n h
Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan. Trong bầu không khí
sôi nổi của Mặt trận Dân chủ1936-1939, các nhà văn đã kịp ghi lại
21
những bức tranh hiện thực chân thực, sống động về xã hội thực dân nửa

sắc sảo. Còng trong thêi gian này, với sức sáng tạo mạnh mẽ, Vũ Trọng
Phụng còn cho ra đời hai cuốn tiÓu thuyết xã hội lớn khác là Giông tè và
Vỡ đê đề cập trực diện đến những vấn đề của xã hội đương thời. TiÓu
thuyết của Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố lại đề cập đến những mâu
thuẫn gay gắt không thể xoa dịu trong lòng xã hội nông thôn Việt Nam
dưới sù tác động mạnh mẽ của những chính sách thực dân tàn ác, vô
nhân đạo. TiÓu thuyết Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố đã dựng nên một
bức tranh chân thực, điÓn hình về xã hội nông thôn Việt Nam đương
thời, có sức tố cáo mạnh mẽ. Qua mấy ngày cuối vụ thuế - tác giả xoáy
sâu vào nạn thuế thân, một thứ thuế dã man, quái gở, tác phẩm đã vạch
trần bộ mặt tàn bạo của trật tự thực dân nửa phong kiÕn Tác phẩm tập
trung làm nổi bật mối mâu thuẫn giai cấp đối kháng gay gắt trong lòng
nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời thể hiện chân thực cuộc
sống cùng quẫn, đói khổ của người nông dân bị áp bức, bóc lột tàn tệ.
"Tuy dung lượng không lớn, Tắt đèn đã đưa ra đủ mặt những đại diện
của giai cấp thống trị trong xã hội nông thôn khi đó: bọn địa chủ độc ác,
keo kiệt, bọn cường hào tham lam, thô lỗ, bọn quan lại dâm ô, bỉ ổi, bọn
tay sai đầu trâu, mặt ngựa và sau bọn chúng thấp thoáng bóng "ông
Tây" víi chính sách sưu thuế dã man . Víi thái độ yêu ghét một cách dứt
khoát, rõ ràng, Ngô Tất Tố đã nhìn thấu bản chất tàn ác, xấu xa, không
chút tính người của chúng, miêu tả chúng bằng những nét sắc sảo, linh
hoạt, đòng thời xây dựng được một điÓn hình chân thực, đẹp đẽ, khoẻ
mạnh về người phô nữ nông dân lao động"(29,335). Qua nhân vật chị
Dậu, tác giả vừa khắc hoạ một cách thấm thía về nỗi khổ đau cùng cực
23
của người nông dân bị áp bức bóc lột, vừa khẳng định phẩm chất đẹp đẽ
của họ không gì có thể vùi dập được.
Có thể thấy hầu hết các nhà văn thời kì này đều đề cập tới những
vấn đề lớn của dân téc và thời đại mét cách trực tiÕp: Vấn đề nông dân,
vấn đề ruộng đất, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân téc ĐiÒu này đã

nước ta. (Nguyễn Khải đã từng đánh giá về Sống mòn: "Nếu Nam Cao
không phải là người khai sinh ra hai nhân vật văn học bất tử là Chí Phèo
và lão Hạc thì chẳng ai muốn nhắc đến tiểu thuyết Sống mòn của ông.
Theo tôi, đó là cuốn sách viết hỏng nhà giáo mà chỉ nghĩ đến chuyện
mưu sinh, đến miếng ăn, đến tiền bạc thì cuộc đời tầm thường lắm, nhạt
nhẽo lắm, dẫu một tài năng nh Nam Cao cũng không cứu vãn nổi").
Nhìn thoáng qua, có cảm giác nhà văn né tránh đề cập đến những
vấn đề lớn của hiện thực đời sống xã hội đương thời , nhưng thực chất
chúng được Nam Cao tiÕp cận và đề cập đến ở một góc độ khác: Góc độ
thế sù , đời tư. Và chính ở góc độ này, tiÓu thuyết của Nam Cao đã đạt
đến những chiều sâu mới. Những vấn đề xã hội mà tiÓu thuyết của nhà
văn đặt ra thì không những sâu sắc và rộng lớn hơn mà còn mới mẻ, táo
bạo nữa, nh muốn vượt ra ngoài tầm suy nghĩ của mấy cây bót đàn anh.
Sống mòn xoay quanh cuộc đời của những Thứ, San, Oanh, Đích
trong đó Thứ là nhân vật chính. Không có mâu thuẫn giai cấp, không có
đấu tranh xung đột giữa các tầng líp, chỉ có những kiÕp người mòn mỏi
lê thê. Nội dung của truyện chỉ loanh quanh trong những ngày Thứ dạy
học ở trường tư của Đích ven Hà Nội. Chịu không nổi sự bần tiện, keo
kiệt của Oanh- bạn gái của Đích- Thứ và San rủ nhau ra ngoài thuê nhà
ông Học. Cuộc sống ngày càng nặng nề. Sau kì nghỉ hè, Thứ quay trở lại
25

Trích đoạn Nghệ thuật phân tích tâm lý Nhịp điệu trần thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status