x
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THUỲ LINH NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ
CỦA NGUYỄN KHOA CHIÊM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Gia Võ
THÁI NGUYÊN - 2012
Header Page 2 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các
nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Xác nhận
của người hướng dẫn khoa học
giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thuỳ Linh
Header Page 4 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn4
i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
Chương 1 GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM NAM TRIỀU CÔNG
NGHIỆP DIỄN CHÍ VÀ KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ LÍ THUYẾT
TỰ SỰ HỌC 8
1.1. Khái lược về tác giả, tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 8
1.1.1. Về tác giả Nguyễn Khoa Chiêm 8
1.1.2. Về tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí 11
2.3.1. Nhân vật và hoàn cảnh 71
2.3.2. Chiều sâu tâm linh và đạo lý 75
2.4. Tự sự bằng thơ 77
2.4.1. Truyện giới thiệu về thơ 77
2.4.2. Lời bình bằng thơ trong truyện 82
Chương 3 HÌNH THỨC TỰ SỰ CỦA NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP
DIỄN CHÍ 87
3.1. Vai trò của người kể chuyện trong Nam triều công nghiệp diễn chí 87
3.1.1. Người kể chuyện ngôi thứ ba khách quan 87
3.1.2. Điểm nhìn nghệ thuật từ bên ngoài 90
3.2. Nghệ thuật kể chuyện trong Nam triều công nghiệp diễn chí 92
3.2.1. Cách mở đầu trực tiếp 92
3.2.2. Cách dẫn dắt chuyện lôgic 94
3.2.3. Kết thúc chuyện khép kín 96
PHẦN KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
toàn dân tộc.
Tuy có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng dường như tác phẩm Nam
triều công nghiệp diễn chí vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện và sâu sắc.
Hầu như khi nhắc đến tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thì người ta chỉ nhắc
nhiều đến Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, một đỉnh cao của
thể loại này. Điều đó chưa thật công bằng với Nam triều công nghiệp diễn chí.
Header Page 7 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn72
Vì vậy, việc tìm hiểu nghiên cứu tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí
một cách khoa học sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc đánh giá đúng mức giá trị
của tác phẩm và góp phần đem đến cho bạn đọc các thế hệ sự hiểu biết đầy đủ
hơn nữa về một tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán đặc sắc trong nền văn học
Việt Nam.
1.2. Đọc Nam triều công nghiệp diễn chí, ta không chỉ thấy ấn tượng ở
chỗ tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật mà còn tài hoa
trong cách kể chuyện. Việc các nhân vật lịch sử được đưa vào tác phẩm và trở
thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo đã khẳng định tài năng sáng tạo
của tác giả. Các nhân vật trong tác phẩm vừa được bảo lưu những đặc điểm
vốn có thật trong lịch sử vừa được hư cấu, sáng tạo thành những nhân vật văn
học thực sự. Cách dẫn chuyện, kể chuyện thật tự nhiên và linh hoạt khiến cho
tác phẩm thu hút được sự theo dõi chú ý của bạn đọc chứ không khô khan
cứng nhắc như những truyện kể lịch sử thong thường. Do đó, việc tìm hiểu
nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí sẽ giúp ta đi
sâu vào một phương diện quan trọng trong giá trị nghệ thuật của tác phẩm,
góp phần lý giải được câu hỏi vì sao đó lại là tác phẩm được đánh giá là có ý
nghĩa khai sinh ra nền tiểu thuyết lịch sử chương hồi của Việt Nam.
của Nguyễn Khoa Chiêm là danh sĩ triều Nguyễn, Trịnh Hoài Đức (1765 –
1825) Phó Tổng đài Sứ quán triều Minh Mệnh, tiếp đó là một học giả người
Pháp tên là L. Cadière.
Năm 1969, sử gia Phan Khoang khi nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong
đã được tham khảo một truyền bản của Nam triều công nghiệp diễn chí có
tên sách là Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí. Ông xác
nhận “Tác phẩm của Nguyễn Khoa Chiêm có giá trị tư liệu lịch sử quí giá, nhưng
cũng tinh tế để khỏi sa vào những tình tiết ít nhiều đã bị tiểu thuyết hóa”.[8,9]
Năm 1974, Tập san Sử Địa đã đăng bài khảo cứu công phu Đúng ba
trăm năm trước của tác giả Hoàng Xuân Hãn. Nhân kỷ niệm ba trăm năm
ngưng chiến Nam – Bắc phân tranh thời Trịnh – Nguyễn, Hoàng Xuân Hãn đã
căn cứ vào tác phẩm của Nguyễn Khoa Chiêm để trình bày một cách tóm tắt
những sự kiện chính của thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Ông viết: “…đối
Header Page 9 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn94
với những triều chúa Nguyễn, sách này có giá trị tương đương với sách
Hoàng Lê nhất thống chí đối với các triều cuối Trịnh và đầu Tây Sơn…Tôi
nghĩ rằng về đại cương cũng như về chi tiết sách này khá đáng tin cậy, nhất
là về khoảng từ Chúa Sãi về sau”. [8,10]
Hai nhà sử học là Hoàng Xuân Hãn và Phan Khoang đều khẳng định
giá trị chân chính của tác phẩm, dẫu rằng mỗi người nhấn mạnh về một
phương diện văn hoặc sử. Điều thú vị là dù thiên về văn hay sử thì cả hai nhà
nghiên cứu trên đều khẳng định giá trị đặc biệt của tác phẩm này.
Trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại - Tập 3, Nguyễn
Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000, ở phần giới
thiệu chung: Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam thời trung đại – quá trình hình
– một biện pháp nghệ thuật quan trọng, góp phần chủ yếu vào thành công của
tác phẩm.
3.2 Phạm vi đề tài
Văn bản nghiên cứu là tiểu thuyết Nam triều công nghiệp diễn chí của
Nguyễn Khoa Chiêm, do các tác giả Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga giới
thiệu, dịch và chú thích, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003. Ngoài ra, trong quá
trình thực hiện, người viết có thể sử dụng một số cuốn tiểu thuyết chương hồi
tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam như Hoàng Lê nhất thống chí, Việt
Lam tiểu sử… để so sánh nhằm đánh giá đúng đắn hơn giá trị của Nam triều
công nghiệp diễn chí. Bên cạnh đó, người viết còn tham khảo thêm tiểu thuyết
chương hồi Trung Quốc là Tam quốc diễn nghĩa của tác giả La Quán Trung
để đặt tác phẩm vào thế đối sánh từ đó nhận thức sâu sắc hơn giá trị đích thực
của tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Làm nổi bật tài năng, lối kể chuyện độc đáo của Nguyễn Khoa Chiêm
qua những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Nam
triều công nghiệp diễn chí.
Góp phần khẳng định vị trí mở đầu xứng đáng của tiểu thuyết Nam triều
công nghiệp diễn chí đối với nền tiểu thuyết chương hồi Việt Nam.
Header Page 11 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn116
Có thêm những tri thức cần thiết để vận dụng vào việc học tập, nghiên
cứu các tác phẩm cùng thể loại cũng như việc giảng dạy tác phẩm văn học ở
trường phổ thông.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
luận văn được triển khai thành ba chương sau đây:
Chương I: Giới thiệu tác giả, tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí
và khái lược chung về lí thuyết tự sự học
Chương II: Cấu trúc tự sự của Nam triều công nghiệp diễn chí
Chương III: Hình thức tự sự của Nam triều công nghiệp diễn chí
Header Page 13 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn138
NỘI DUNG
Chương 1
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM
NAM TRIỀU CÔNG NGHIỆP DIỄN CHÍ VÀ KHÁI LƯỢC CHUNG
VỀ LÍ THUYẾT TỰ SỰ HỌC
1.1. Khái lược về tác giả, tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí
1.1.1. Về tác giả Nguyễn Khoa Chiêm
Tác giả Nguyễn Khoa Chiêm sinh năm Kỷ Hợi 1659, mất năm Bính Thìn
1736, người huyện Hương Trà, nay là Thừa Thiên Huế. Từng làm quan to cho
triều Nguyễn và được phong tước Bảng Trung hầu, tự Bảng Trung.
Ông vốn gốc người Hải Dương, cụ nội Nguyễn Đình Thân là thuộc hạ
của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng, theo Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận
Hóa từ năm 1558, rồi nhập tịch ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, và
trở thành khởi tổ của một dòng vọng tộc ở cố đô Huế.
Nguyễn Đình Thân sinh ra Nguyễn Đình Khôi (1594 – 1678), tước
Thuần Mỹ Nam. Đến năm 1638, Nguyễn Đình Khôi theo chúa Nguyễn Phúc
Lan rời phủ chúa về vùng Hương Trà, Thừa Thiên Huế và ở luôn đấy rồi đổi
triều công nghiệp diễn chí lưu hành ở đời”.[8,9]
Thời đại Nguyễn Khoa Chiêm sống là thời đại đất nước đổ nát, nhân dân
kiệt quệ vì các cuộc giao tranh nội quốc, giá trị đạo đức văn hóa bị băng hoại
nặng nề. Nguyễn Khoa Chiêm được may mắn là người có chỗ đứng trong bộ
máy thống trị, có bố vợ là một đại thần trong triều, được tham gia bàn việc quân
cơ cho nên những tư liệu mà ông có được là đáng tin cậy.
Đến cuối thế kỷ XVII, về cơ bản chiến tranh đã kết thúc nhưng lúc này
đời sống nhân dân đã lâm vào cảnh khốn cùng, không thể vực lên ngay được,
mọi mặt trong quốc gia đều bị suy thoái trầm trọng. Đất nước ta những năm
tháng này do lâm vào cảnh nội chiến triền miên cho nên bộ máy chính quyền
rất đặc biệt. Ở Đàng Ngoài, đã có vua (triều Lê) cai trị đất nước mà lại có
chúa (Trịnh) cũng nắm quyền hành sinh sát như vua, thậm chí còn thâu tóm
Header Page 15 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1510
quyền hành và lấn lướt vua. Người dân lâm vào cảnh một cổ hai tròng: vua Lê
– chúa Trịnh.Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn cai quản, tình hình cũng chẳng
sáng sủa hơn là bao khi mà nhân dân vẫn bị xoáy vào cuộc nội chiến giữa hai
miền Nam - Bắc triều.
Tất cả những khổ cực đau thương đều đè nặng lên cuộc sống của nhân
dân hai miền, khiến cho lòng dân oán thán đến ngút trời . Điều đó đã buộc họ
phải đứng lên đấu tranh chống lại chính quyền phong kiến, và cuộc nổi dậy ấy
đã diễn ra trên phạm vi toàn quốc với qui mô lớn chưa từng có. Họ đấu tranh
nhằm thống nhất giang sơn xã tắc, đấu tranh cho chính cuộc sống của họ và
đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ
lãnh đạo. Phong trào Tây Sơn đã đập tan chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đánh
sập tập đoàn Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế với
chính của hồi. Mỗi hồi viết về một sự kiện chủ yếu và kết thúc hồi có lời dẫn
dắt đến hồi tiếp. Căn cứ theo dung lượng, có thể chia tiểu thuyết chương hồi
thành hai loại lớn và nhỏ. Loại lớn gồm khoảng một trăm hồi trở lên thường
là những tiểu thuyết diễn nghĩa như Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt
quốc…; hay những tiểu thuyết anh hùng như: Thủy hử; tiểu thuyết thần ma
như Tây du ký; tiểu thuyết tình đời như: Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng
….Tiểu thuyết chương hồi loại nhỏ có thể bao gồm hai- ba chục hồi có các
tiểu thuyết tài tử giai nhân kể những mối tình của các đôi trai gái, thể hiện ước
mơ hạnh phúc lứa đôi hay những tiểu thuyết khiển trách vạch trần những ung
nhọt xã hội như tác phẩm Quan trường hiện hình ký.
Nói về nguồn gốc của tiểu thuyết chương hồi, các nhà nghiên cứu thống
nhất cho rằng từ những thoại bản (những văn bản làm gốc để người kể chuyện
thuật lại cho thính giả nghe). Thoại bản chính là những câu chuyện sống thực,
hình thành từ thói quen kể chuyện kết hợp với lối diễn xướng của người dân
để trở thành một loại hình văn học bình dân đô thị tiêu biểu, thu hút được
nhiều người xem. Truyện đem kể không chỉ gói gọn trong một đêm mà có thể
kéo dài ra rất nhiều đêm. Dung lượng tăng nên cốt truyện phải ngắt nhiều
Header Page 17 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1712
khúc, mỗi khúc đều có sự trọn vẹn tương đối về kết cấu, đồng thời cũng móc
xích với khúc trước và khúc sau nhằm đáp ứng nhu cầu của khán giả và làm
cho khán giả không thể bỏ cuộc giữa chừng. Do nguồn gốc sâu xa là thoại bản
như vậy nên tiểu thuyết chương hồi cơ bản là tiểu thuyết hành động. Nhân vật
chiếm lĩnh người nghe, người đọc bằng hành động và qua hành động mà biểu
hiện tính cách. Lời trần thuật cô đúc, các chi tiết trữ tình ngoại đề ít có dịp
chen vào câu chuyện. Thời lượng mỗi chương cũng đòi hỏi phải miêu tả hành
nên đời sau có thơ than rằng, Mới thực là… Và kèm theo đó là những bài thơ
tuy gần gũi với tư tưởng của tác giả nhưng lại không hoàn toàn mang dấu ấn
chủ quan của tác giả. Do đó, có thể nói rằng ngôn ngữ trong tiểu thuyết
chương hồi khá mờ nhạt.
Tóm lại, tiểu thuyết chương hồi là thể loại tiểu thuyết được viết theo kết
cấu chương hồi. Nó là kết quả đúc kết, kết tinh hệ thống hóa của các thoại bản
dân gian. Thể loại này được khơi nguồn từ Trung Hoa vào đời Tống và phát
triển nở rộ ở đời Minh – Thanh với hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng như: Tam
quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Hồng lâu
mộng của Tào Tuyết Cần…
Với sự phát triển nở rộ như vậy, thể loại tiểu thuyết này đã được du nhập
sang một số nước lân cận trong đó có Việt Nam. Tiểu thuyết chương hồi
Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam thời trung đại từ thế kỷ X đến thế kỷ
XIX thể hiện rõ nét nhất trong bộ phận văn học chữ Hán. Ở thời kỳ trung đại,
mỗi một thể loại văn học đều bị chi phối bởi yếu tố xã hội, với tiểu thuyết
chương hồi cũng vậy. Không phải khi mới được du nhập vào Việt Nam thể
loại này đã phát triển ngay mà phải đến gần cuối thế kỷ XVIII- XIX trong
những điều kiện nhất định của lịch sử xã hội, tiểu thuyết chương hồi mới
được chính thức ra đời và phát triển ở nước ta.
Trong bối cảnh văn học Việt Nam thời kỳ trung đại chịu ảnh hưởng lớn
từ văn học Hán thì tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán lại là một hiện
tượng độc đáo của văn học nước nhà thời kỳ này. Tiểu thuyết chương hồi
phản ánh một chủ đề hoàn toàn khác với những tiểu thuyết đã ra đời trước đó,
không hề đề cập đến đề tài tình yêu trai gái mà chỉ đề cập đến các vấn đề lịch
Header Page 19 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1914
15
vui. Để đáp ứng lòng mong mỏi ấy của nhân dân, người anh hùng áo vải
Nguyễn Huệ đã đứng lên kêu gọi nhân dân và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn. Cuộc khởi nghĩa đã được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân,
cộng với tài năng, trí tuệ của người lãnh đạo đã giành được thắng lợi vang
dội. Quét sạch các tập đoàn phong kiến lúc bấy giờ, thống nhất giang sơn
đồng thời đánh tan cuộc xâm lược của nhà Thanh, giúp đất nước thoát khỏi
ách thống trị của ngoại bang.
Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, đất nước ta đã trải qua biết bao biến cố,
và những biến cố ấy đã được văn học ghi lại bằng hàng loạt các tác phẩm cụ
thể. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng với văn xuôi chữ Hán, đặc biệt là với thể
loại tiểu thuyết chương hồi với khả năng bao quát quy mô lớn mới đủ khả
năng để tái hiện toàn cảnh bức tranh lịch sử rộng lớn đó.
So với thể loại tiểu thuyết chương hồi trong văn học Trung Quốc, tiểu
thuyết chương hồi của Việt Nam còn kém xa về mặt số lượng, chất lượng
cũng như quy mô của tác phẩm. Thực sự mà nói thì số lượng tiểu thuyết
chương hồi của nước ta không nhiều, ngoài tác phẩm Nam triều công nghiệp
diễn chí được coi như là tác phẩm khai sinh ra nền tiểu thuyết lịch sử chương
hồi của Việt Nam thì còn có một số tác phẩm khác nữa như: Thiên Nam liệt
truyện (chưa rõ tác giả); Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái); Tây
Dương gia tổ bỉ lục (Phạm Ngô Hiên, Nguyễn Hòa Đường); Việt Lam tiểu sử…
Tuy nhiên,với số lượng tác phẩm không nhiều nhưng tiểu thuyết chương
hồi Việt Nam đã để lại dấu ấn đậm nét trong kho tàng văn học dân tộc góp
phần tái hiện lại được toàn cảnh đất nước giữa thời kỳ lịch sử đầy biến động
nêu trên. Có thể nói, lịch sử đất nước đã được tái hiện một cách sinh động,
sâu sắc và khá toàn diện trong tiểu thuyết chương hồi Việt Nam.
Sự ra đời của thể loại này chủ yếu là do sự tiếp nhận từ nền tiểu thuyết
rất chính xác và đúng đắn về phong trào Tây Sơn. Nói chung, mọi tinh hoa
bút lực của dòng họ Ngô đều được dồn cả vào Hoàng Lê nhất thống chí để tạo
nên một dấu ấn riêng đặc sắc trong nền tiểu thuyết chương hồi Việt Nam. Sự
cố gắng của Ngô gia văn phái cũng như của Nguyễn Khoa Chiêm đã giúp tiểu
thuyết chương hồi Việt Nam khẳng định được vai trò to lớn của mình trong
tiến trình vận động mạnh mẽ của văn học dân tộc.
Header Page 22 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2217
Sau Hoàng Lê nhất thống chí, tiểu thuyết chương hồi Việt Nam tiếp tục
phát triển nhưng không gặt hái được những thành tựu to lớn nào. Đầu thế kỷ
XIX, tình hình xã hội nước ta có nhiều biến động: triều Nguyễn được thành
lập, Nho giáo suy yếu, thực dân Pháp xâm lược nước ta… . Với những biến
động xã hội đó, văn học trung đại rơi vào tình cảnh bế tắc trong khi văn học
hiện đại chưa kịp ra đời. Điều đáng ngạc nhiên là giữa buổi giao thời ấy lại
xuất hiện hai bộ tiểu thuyết chương hồi là Hoàng Việt hưng chí (Ngô Giáp
Dậu) và Việt Lam tiểu sử (chưa xác định được tác giả). Hai tác phẩm này ra
đời sau Hoàng Lê nhất thống chí khoảng một trăm năm, do đó được thừa
hưởng một nền tảng vững chắc do các tiểu thuyết gia chương hồi tiền bối gây
dựng. Nhưng đáng tiếc là hai tác phẩm này lại non kém về chất lượng nghệ
thuật, không phát huy được vai trò và những thành tựu truyền thống. Long
hưng chí thì muốn phá bỏ công thức kết cấu chương hồi nên chỉ thực hiện
công thức mở đầu còn bỏ đi công thức kết thúc. Chính việc làm đó đã làm cho
tác phẩm rời rạc, thiếu hấp dẫn. Cộng với số lượng nhân vật quá đông khiến
cho tác phẩm mất đi chất văn mà chỉ còn chất sử. Một yếu tố nữa khiến hai
tác phẩm không thành công là bởi vì đã đi theo con đường của tiểu thuyết
chương hồi Trung Quốc như: đưa tiểu thuyết chương hồi quay về lối biên
giả lấy tên tác phẩm là Nam triều công nghiệp diễn chí, sau đó được Dương
Thận Trai đề tựa, Nguyễn Giản viết lời bạt rồi đổi tên thành Việt Nam khai
quốc chí truyện.
Tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí lần đầu tiên được giới thiệu
bởi sử gia Trịnh Hoài Đức, qua việc ông dùng một ghi chép của Bảng Trung
hầu Nguyễn Khoa Chiêm để so sánh với Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
trong Gia Định thành thông chí: “Án Nguyễn Bảng Trung, Nam Việt chí viết
Nặc Ô Đài; Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục viết Nặc Đài”.[8,8] Ngoài ra, ta còn
thấy Sử quán triều Nguyễn đã sử dụng truyền bản của sách để làm tài liệu
tham khảo trong khi biên soạn phần chép tay về thời kỳ các chúa Nguyễn như
Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Khâm định Việt sử
thông giám cương mục….
Học giả tiếp theo nghiên cứu về tác phẩm là một người Pháp tên là
L.Cadière. Ông đã sử dụng một bản của Nam triều công nghiệp diễn chí với
Header Page 24 of 112.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn2419
tên gọi là Việt Nam khai quốc chí truyện để làm tài liệu tham khảo khi ông
viết Le mus de Đồng Hới. Sau L.Cadière, có một sử gia người Pháp tiếp tục
nghiên cứu tác phẩm này là Henri Maspéro, ông đã mượn được bản của
L.Cadière và nhờ người chép hộ đồng thời chỉnh lý và bổ sung những điều mà
L.Cadière còn thiếu sót. Cũng dịp này, ông còn chép tặng Viện Viễn Đông
Bác cổ ở Hà Nội một bản.
Tác phẩm lần đầu tiên được dịch sang chữ quốc ngữ vào năm 1986 bởi
dịch giả Ngô Đức Thọ. Ông đã tìm và so sánh nhiều văn bản rồi dịch sang
chữ quốc ngữ dưới tên gọi Trịnh – Nguyễn diễn chí. Sau đó, Ngô Đức Thọ lại
tiếp tục sửa và xuất bản lại các tác phẩm này dưới nhiều tên gọi khác nhau