ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
LÊ THỊ THÚY LAN
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
KHUẤT QUANG THỤY
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
5. Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA KHUẤT QUANG THỤY 8
1.1.Khái lược về nghệ thuật tự sự 8
1.1.1 Về tự sự học 8
1.1.2 Nghệ thuật tự sự 9
1.2. Sáng tác của Khuất Quang Thụy 15
1.2.1. Hành trình sáng tác 15
1.2.2. Quan niệm sáng tác 19
Chương 2 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT VÀ TỔ CHỨC
CỐT TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT KHUẤT QUANG THỤY 23
2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 23
2.1.1.Khái lược về nhân vật và nhân vật trong tiểu thuyết Khuất Quang Thụy . 23
2.1.2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật 31
2.1.3 Nghệ thuật miêu tả hành động của nhân vật 38
2.1.4. Nghệ thuật biểu hiện nội tâm của nhân vật 44
2.1.5. Ngôn ngữ nhân vật 49
2.2. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 57
2.2.1. Khái niệm cốt truyện 57
2.2.2. Các kiểu tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Khuất Quang Thụy 60
Chương 3 ĐIỂM NHÌN, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT KHUẤT QUANG THỤY 71
3.1. Điểm nhìn trần thuật 71
3.2. Ngôn ngữ trần thuật 75
3.3. Giọng điệu trần thuật 84
3.3.1 Giọng điệu trào lộng, giễu nhại 85
3.3.2. Giọng điệu triết lý 90
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
2
chiến tranh biên giới Tây Nam. Các tác phẩm này là điển hình, tiêu biểu cho
các tác phẩm văn học viết về chiến tranh những giai đoạn này.
Quan tâm đến đề tài chiến tranh cả ở việc sáng tác, thưởng thức và quá
trình nghiên cứu về tác phẩm là rất cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay. Nhà văn Ngô Thảo trong cuốn Văn học về người lính đã đúc kết sự quan
trọng của việc quan tâm đến đề tài chiến tranh trong văn học: "Quan tâm tới
đề tài chiến tranh chính là tìm về ngọn nguồn để hiểu đúng, nhận thức đúng,
khám phá đúng những vấn đề xã hội của đời sống hôm nay. Quan tâm tới đề
tài chiến tranh là để tìm hiểu cái áp lực, cái xu hướng cùng những qui luật
đang chi phối sự phát triển của xã hội và con người hiện nay. Quan tâm tới đề
tài chiến tranh, còn là tìm chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào thế giới tinh
thần, tình cảm từng con người, từng thế hệ cũng như toàn thể xã hội mà văn
học đang có ước muốn tích cực tham gia vào việc biến cải nó ngày càng tốt
hơn, hoàn thiện hơn" [19, tr. 144]. Rõ ràng, cả ba tiểu thuyết Những bức
tường lửa, Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng đã khai thác triệt để
đề tài chiến tranh trên cả diện rộng và bề sâu, dưới nhiều góc nhìn khác nhau.
Ở mỗi tiểu thuyết có phạm vi đề tài khác nhau, nhưng tựu chung lại, tác giả đã
khai thác tối đa và hiệu quả đề tài chiến tranh, đem lại giá trị biểu hiện cao
trong việc khắc họa hình ảnh đất nước con người Việt Nam từ kháng chiến
chống Mỹ cứu nước cho tới nay.
Đến nay, vẫn chưa có công trình nào nhận diện một cách đầy đủ và hệ
thống về văn học Việt Nam sau 1975. Các công trình khoa học thường chỉ đi
sâu khảo sát một số vấn đề nổi cộm của văn học đương thời. Đó là những
bước đi cần thiết để có một sự nghiên cứu toàn vẹn về giai đoạn văn học sôi
động này. Thiết nghĩ, ba cuốn tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy mà chúng ta
đang nghiên cứu được coi là khá đặc sắc và có những nét riêng so với những
tiểu thuyết viết về chiến tranh, sau chiến tranh như các tác phẩm của Bảo
Ninh, Dương Hướng, Chu Lai, Hữu Mai Việc nghiên cứu những nét riêng
cả tính chất chuyển giai đoạn của đời sống xã hội sau 1975.
- Bùi Việt Thắng trong bài viết Văn xuôi hôm nay (Nhân dân,
10/5/1987) lại đi từ nhận định văn xuôi đang mở ra nhiều hướng, nhiều cách
tiếp cận đời sống, để khái quát thành ba khuynh hướng chính: “xông thẳng
4
vào đời sống hiện tại”, “nhận thức lại thực tại” và vấn đề đạo đức, nhân cách
của con người mới trong xã hội. Ở phương diện nghệ thuật, tác giả điểm đến
dấu ấn của cá tính nhà văn và giọng điệu đối thoại trong tác phẩm. Trong một
bài viết khác: Những biến đổi trong cấu trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975
(1995), tác giả chỉ ra kỹ hơn đổi mới nghệ thuật ở một thể loại tiêu biểu là tiểu
thuyết từ phương diện cấu trúc. Khẳng định sau 1975, tiểu thuyết có sự biến
đổi từ cấu trúc lịch sử - sự kiện sang cấu trúc lịch sử - tâm hồn, tác giả cho
rằng ký ức là yếu tố quan trọng được nhà văn dùng để tổ chức tác phẩm và
bước đầu đặt ra vấn đề xác định ảnh hưởng của các loại hình nghệ thuật khác
đối với cấu trúc thể loại tiểu thuyết. Những vấn đề này một lần nữa đã được
tác giả đề cập đến trong chuyên luận gần đây: Tiểu thuyết đương đại (Nxb
Quân đội nhân dân, 2005).
- Vũ Tuấn Anh trong bài viết Đời sống thể loại trong quá trình văn học
đương đại (Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội,
2001) phác họa sự vận động của văn học Việt Nam trong khoảng hai mươi
năm cuối thế kỉ XX từ góc nhìn thể loại. Khẳng định sức mạnh nghệ thuật của
tiểu thuyết trong giai đoạn chuyển mình của đời sống xã hội, tác giả quan tâm
đến những biến đổi làm nên diện mạo mới của thể loại này. Đó là sự phong
phú về đề tài, sự đa dạng của các “chủng loại” tiểu thuyết, dấu ấn đậm nét của
cá tính sáng tạo, tư duy nghệ thuật với tính chất tổng hợp, đào sâu, tính đối
thoại gia tăng và những mô hình cấu trúc mới.
- Cho đến năm 2007, có thể nói, chuyên luận Văn xuôi Việt Nam 1975 –
1995 (Nxb Giáo dục) của Nguyễn Thị Bình là một công trình mang tính tổng
kết khái quát 20 năm văn học hậu chiến một cách đầy đủ và sâu sắc nhất. Tiền
hợp đến… Đối chiến của Dương Tử đăng trên website , hay
bài viết Chiến tranh dưới góc nhìn xã hội học của Khuất Quang Thụy của
Văn Chinh đăng trên website
Ngoài ra còn một số bài nghiên cứu, luận văn, khóa luận tốt nghiệp
cũng nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau trong sáng tác của Khuất
Quang Thụy, mà chủ yếu về phương diện nội dung.
6
3. Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đến nay, Khuất Quang Thụy đã sáng tác gần
chục tiểu thuyết và rất nhiều truyện ngắn, kịch. Luận văn lấy đối tượng
nghiên cứu là ba cuốn tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy: Không phải trò
đùa, Góc tăm tối cuối cùng và Những bức tường lửa. Ngoài ra, chúng tôi
cũng nghiên cứu các sáng tác còn lại của Khuất Quang Thụy để so sánh, đối
chiếu và rút ra những nhận định.
3.2. Mục đích nghiên cứu:
- Chỉ ra vai trò của nghệ thuật tự sự đối với sự hình thành, phát triển và biến
đổi của thể loại tiểu thuyết.
- Nghiên cứu nghệ thuật tự sự qua các tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy, để
từ đó thấy được dòng chảy, sự biến đổi về mặt hình thức nghệ thuật của tiểu
thuyết Việt Nam sau năm 1975.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này, bên cạnh việc làm việc
trực tiếp với văn bản ba cuốn tiểu thuyết: Những bức tường lửa, Không phải
trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng, chúng tôi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu,
từ các giáo trình, từ điển đến các bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí, các
trang web do giảng viên hướng dẫn và cung cấp, cũng như tư liệu khác sưu
tập được trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài.
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn góp phần làm rõ thêm về hệ
người nghiên cứu. GS Trần Đình Sử nhấn mạnh trong bài viết Tự sự học –
Một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng: “Lý thuyết tự sự có thể
coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm
nay. Còn nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là “một bộ phận cấu
thành của hệ hình lý luận hiện đại”. Tóm lại, trong nền lý luận văn học hiện
đại, vấn đề tự sự học nói chung và nghệ thuật tự sự nói riêng giữ một vai trò
quan trọng của nghiên cứu văn học.
Đến nay, mặc dù tự sự học đã có mặt ở Việt Nam cũng khá lâu nhưng các
nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa chung nhất về nghệ
thuật tự sự, vẫn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “tự sự”. Có
ý kiến cho rằng tự sự và trần thuật là một; lại có ý kiến muốn nhìn nhận hai
vấn đề này theo hai phương diện khác nhau. TS Đỗ Hải Phong (ĐH Sư phạm
HN) trong bài viết Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại nhấn
mạnh rằng: “ Chúng tôi dịch thuật ngữ Naratology là “ trần thuật học” chứ
không phải là “tự sự học” vì thuật ngữ “tự sự đã được dùng để chỉ một trong
ba loại lớn của văn học (phân biệt với “kịch”, “trữ tình”). Như vậy ở đây “tự
sự” được coi như một thể loại văn học để khu biệt “trần thuật” – một phương
thức, hay một cách kể chuyện.
9
1.1.2 Nghệ thuật tự sự
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Tự sự là phương pháp tái hiện đời
sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch”. Còn trần thuật được
coi là “Phương diện cơ bản của phương thức tự sự là việc giới thiệu, khái
quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo
cái nhìn của một người trần thuật nhất định”. Từ đó ta có thể thấy rằng, khái
niệm “trần thuật” được xác định một cách rõ ràng và cụ thể hơn. Tuy nhiên,
dù hiểu theo cách nào thì thực chất „tự sự học” hay “trần thuật học đều là cách
dịch từ thuật ngữ Naratalogie (tiếng Pháp), hay Naratology (tiếng Anh) –
nghĩa là lý thuyết kể chuyện. Ta có thể hiểu, tự sự là một phương thức tái hiện
hay điểm nhìn tự sự. Khi có nhiều giọng điệu, tác phẩm sẽ là tác phẩm “đa
thanh”. Sự chuyển đổi giọng điệu cũng đem lại những thay đổi mới mẻ trong
cách kể chuyện. Đây là một phương thức quan trọng để bộc lộ tư tưởng.
Nội dung nghệ thuật tự sự đã được nhiều tác giả đề cập đến khá rõ ràng.
Diệp Tú Sơn chia các khía cạnh của nghệ thuật tự sự thành: người tự sự, góc
nhìn tự sự, và phương thức tự sự. Tác giả Manfred Jahn trong một công trình
nghiên cứu công bố ngày 28/7/1993 đăng tải trên trang web Uni-koeln.de lại
đi sâu vào làm rõ nghệ thuật tự sự ở các khía cạnh: cấu trúc trần thuật; điểm
nhìn; tình huống trần thuật; bối cảnh và không gian hư cấu; tính cách và sự
mô tả tính cách; diễn ngôn hay cách sử dụng lời nói.
Sự nhận thức về tự sự nói chung và các khía cạnh của nghệ thuật tự sự nói
riêng đã được hoàn thiện dần theo thời gian cũng tương tự như chính bản thân
của nghệ thuật tự sự được hiện diện trong chiều dài phát triển của thể loại.
Như chúng ta đã biết, trong các câu chuyện cổ tích hay thần thoại của văn học
dân gian, nghệ thuật tự sự chưa được hình thành một cách rõ nét. Người kể
chuyện xa rời nội dung của câu chuyện kể. Những người kể chuyện trong văn
học dân gian hầu hết là những người biết tuốt, dẫn dắt người đọc tham gia vào
11
câu chuyện và chưa tạo được một bản sắc riêng, một phong cách riêng rõ
ràng. Đến văn học hiện đại, do ý thức được tầm quan trọng của giọng kể
(giọng kể là cảm nhận đầu tiên và cũng là ấn tượng cuối cùng, dư vị cuối cùng
của người đọc truyện) nên mỗi nhà văn đều tìm cách khẳng định mình bằng
một phong cách riêng thông qua một giọng kể riêng. Với nghệ thuật tự sự,
giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, nó không chỉ phản
ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả mà
còn có tác dụng quyết định trong việc tạo sức thu hút với người đọc.
Nghệ thuật tự sự còn bao hàm rất nhiều vấn đề như nhân xưng của tự sự:
mối quan hệ giữa người tự sự với nhân vật, tác giả, về góc độ tự sự, về
phương thức tự sự, thời gian – không gian tự sự. Về không gian và thời gian
ngắn, do đặc trưng thể loại nên yêu cầu về giọng kể, nhịp điệu dồn nén hơn;
ngôn ngữ phải ngắn gọn; không gian – thời gian tự sự cũng không mở rộng
như tiểu thuyết. Ngược lại, tiểu thuyết thường tái hiện hiện thực không gian
rộng, thời gian dài, hiện thực cũng phong phú hơn với cuộc đời của nhiều
nhân vật. Chính nhờ nghệ thuật tự sự độc đáo mà nhiều tác phẩm đã có sức lôi
cuốn với người đọc, tạo nên phong cách không thể xóa nhòa của nhà văn.
Nghệ thuật tự sự luôn gắn với đề tài và chủ đề của tác phẩm. Đề tài và chủ
đề là những khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung
tác phẩm văn học. Đọc bất cứ tác phẩm nào chúng ta cũng bắt gặp những
cảnh, những người, những tâm lý sống động.
Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa và miêu tả, thể hiện tạo
thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để
từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm. Có thể nói, đề tài là
khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm
và bản thân đời sống. Người ta có thể xác định đề tài trên hai phương diện:
bên ngoài và bên trong.
13
Nói đến phương diện bên ngoài là nói đến sự liên hệ thuần túy đến phạm
vi hiện thực mà tác phẩm phản ánh. Ở đây, sự xác định đề tài thường dựa trên
cơ sở các phạm trù lịch sử - xã hội. Có thể nói đến đề tài chống Pháp, chống
Mĩ, đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài công nhân, nông dân, bộ đội
Tuy nhiên, để tránh sự đồng nhất đề tài và đối tượng phản ánh và thấy
được tính chất của phạm vi được phản ánh, cần phải đi vào phương diện bên
trong của đề tài. Ðó là cuộc sống nào, con người nào được thể hiện trong tác
phẩm. Nói cách khác, đó chính là tính chất của đề tài bên ngoài. Trong trường
hợp này, đề tài chính là vấn đề được thể hiện trong tác phẩm và trong nhiều
trường hợp nó trùng khít với chủ đề. Chẳng hạn, Sống mòn của Nam Cao viết
về người trí thức tiểu tư sản nhưng đó là người trí thức tiểu tư sản quẩn
quanh, bế tắc, mòn mỏi. Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu viết về người
sự thay đổi số phận của những con người đã từng chịu nhiều bất hạnh trong xã hội
cũ, nay đã tìm lại được niềm vui, hạnh phúc và chỗ đứng trong xã hội mới.
Trong một tác phẩm, thường không phải chỉ có một chủ đề duy nhất mà có
nhiều chủ đề gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống chủ
đề (Pospelôp gọi là hệ vấn đề). Trong hệ thống chủ đề, có thể nổi lên vài chủ
đề có ý nghĩa trung tâm, quán xuyến toàn bộ tác phẩm, đó là chủ đề chính.
Bên cạnh đó, có những chủ đề có ý nghĩa bộ phận, góp phần bổ sung, làm nổi
bật chủ đề chính, được gọi là chủ đề phụ. Trong một tác phẩm, các chủ đề
không có giá trị ngang nhau nên việc xác định đúng đắn chủ đề chính, chủ đề
phụ sẽ góp phần quan trọng trong việc lí giải ý nghĩa của tác phẩm.
Khác với tác phẩm trữ tình, hiện thực được tái hiện qua những cảm xúc,
tâm trạng, ý nghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc
bạch, thổ lộ, tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó –
qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó. 15
1.2. Sáng tác của Khuất Quang Thụy
1.2.1. Hành trình sáng tác
Nhà văn Khuất Quang Thuỵ (các bút danh khác: Hưng Long, Vân Huyền)
sinh ngày 12 tháng 1 năm 1950 tại làng Thanh Phần, xã Phúc Hoà, huyện
Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Hiện ở Hà Nội, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1982).
Xuất thân trong một gia đình nông dân, tốt nghiệp phổ thông trung học ở
quê, Khuất Quang Thuỵ nhập ngũ, từng tham gia chiến đấu trong đội hình sư
đoàn 320 (đại đoàn Đồng Bằng anh hùng) tại các mặt trận Quảng Trị, Tây
Nguyên những năm chống Mỹ cứu nước. Năm 1976 được điều về trại sáng
tác văn học của Tổng cục Chính trị và sau đó học Trường Viết văn Nguyễn
Du khoá I. Tốt nghiệp, nhà văn về làm biên tập viên rồi Trưởng ban văn xuôi
tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Khuất Quang Thụy đã từng là người lính
- Thềm nắng (Tập truyện, 1985)
- Người đẹp xứ Đoài (Tiểu thuyết, 1991)
- Nước mắt gỗ (Tập truyện, 1986)
- Những bức tường lửa (Tiểu thuyết, 2004)
- Đất và người (kịch bản phim, 2002)
- Đối chiến (tiểu thuyết, 2010)
Có thể nhận định chắc chắn rằng: hầu hết các sáng tác của Khuất
Quang Thụy đều tập trung vào hai đề tài lớn là chiến tranh cách mạng và cuộc
sống của con người hôm nay, trong đó hình tượng người lính trong và sau
chiến tranh được khắc họa đậm nét ở nhiều góc độ khác nhau. Các tiểu thuyết
Trong cơn gió lốc, Những bức tường lửa, Đối chiến được đánh giá là những
tiểu thuyết sử thi xuất sắc về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của toàn
dân tộc. Trong cơn gió lốc lấy cảm hứng từ chiến thắng của chiến dịch Tây
Nguyên với “trung đội gió lốc” của Mánh thuộc tiểu đoàn do Nguyên-một
hình mẫu người lính lý tưởng–làm tiểu đoàn trưởng. Một sư đoàn chủ lực
17
trong hệ thống quân đoàn tham gia chiến dịch Tây Nguyên đã được phác họa
cả ở quá trình vận động di chuyển cũng như đánh địch. Bằng việc tạo ra sự đa
dạng về điểm nhìn và người kể chuyện (tác giả, Mánh, sử dụng nhật ký chiến
trường của Mánh), Trong cơn gió lốc đã đem lại góc nhìn đa diện về chiến
tranh, hiện thực cuộc chiến hiện lên chân thực và sống động. Những bức
tường lửa ghi nhận sự đổi mới mạnh mẽ trong việc phản ánh về chiến tranh
cũng như xây dựng hình tượng người lính. Khác với tiểu thuyết sử thi giai
đoạn 1945-1975, tiểu thuyết Khuất Quang Thụy đã xây dựng kiểu nhân vật
tập thể và các nhân vật cá nhân khách quan và chân thực hơn. Bên cạnh
những thành tích, chiến công, ưu điểm, các nhân vật này cũng có những sai
lầm, khuyết điểm nhất định. Người lính có thể anh hùng trong chiến trận
nhưng lại “khốn nạn” ở ngoài đời thường (như đánh giá của chính ủy Lương
Xuân Báo về Hùng Phong). Với hệ thống người kể chuyện và việc sử dụng
được đặt ra. Khuất Quang Thụy xây dựng cốt truyện là đêm trước ngày Thảo
và Vân ra tòa để ly dị, hai vợ chồng thổn thức bên nhau, họ vẫn còn yêu nhau
lắm nhưng đành phải cách xa. Thế rồi sau một đêm thức trắng, sáng sớm Vân
đã chợt nảy ra ý tưởng “xin một đứa con nuôi” và được Thảo chấp nhận.
Hạnh phúc đã đến với họ và những người thân, ngày đứa trẻ được đưa về nhà:
“Tối hôm đó nhà Vân đông nghịt người đến chơi. Ông bố chồng Vân bỗng vui vẻ
hẳn lên, cười nói rang rang. Bà con hàng xóm kéo tới đầy nhà chúc mừng ông, chúc
mừng vợ chồng Thảo” [30, tr. 116].
Những vấn đề của xã hội cũng được phản ánh rõ nét trong các tập
truyện của Khuất Quang Thụy. Đó là nhân vật Vân trong Người ở bến Phù
Vân đứng trước nhiều khó khăn, cô “đang phải chiến đấu vất vả, căng thẳng
để bảo vệ sự thật, chống lại những kẻ lợi dụng chức quyền để chèn ép kẻ
khác, tham ô, móc ngoặc, ăn hối lộ” [30, tr. 66]. Đó còn là chuyện về các vấn
đề của nông thôn sau chiến tranh, từ chuyện sản xuất nông nghiệp, phát triển
kinh tế đến xây dựng đời sống văn hóa. Tập truyện Nước mắt gỗ thì đề cập
19
trực tiếp đến vấn đề sinh nhai của con người, đứng trước những khó khăn của
cuộc sống, con người dễ sa ngã và vi phạm pháp luật. Ông Chiến trong Lối rẽ
khi nhất quyết cứ phải lo cho vợ một cái máy bơm nước đã định làm vài
chuyến buôn phạm pháp, nhưng cuối cùng thì ông ngộ ra: “Thôi đi về! Chẳng
có máy bơm thì mẹ con nhà nó tát bằng gàu cũng chẳng sao. Chứ… thằng này
không thể… mà muốn có máy bơm cũng có. Vườn táo đấy… Rồi bán cha nó
cái đồng hồ quả lắc đi. Thiếu nữa thì sang cậu Khoái bảo ứng trước cho vài ba
nghìn, việc đếch gì phải…” [31, tr. 166-167]. Những vấn đề của nông thôn,
các quan hệ phức tạp giữa các dòng họ, đoàn thể chính quyền đã được nhà
văn Nguyễn Khắc Trường thể hiện rất thành công trong tiểu thuyết Mảnh đất
lắm người nhiều ma. Mảnh đất lắm người nhiều ma, một cái nhìn mới về
bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến, với gánh nặng không phải
chỉ là chiến tranh, về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc của con
người lính thời hậu chiến.
Là một nhà văn quân đội, Khuất Quang Thụy có cái nhìn chiến tranh
nói riêng và hiện thực cuộc sống hậu chiến tranh từ nhiều phía, và nhiều góc
độ khác nhau. Bên cạnh niềm vui chiến thắng còn có những số phận, những bi
kịch – những nạn nhân của chiến tranh. Khuất Quang Thụy như một họa sỹ
cần mẫn vẽ lên cho độc giả chiêm ngưỡng những bức tranh muôn màu về đời
sống con người trong chiến tranh và âm vang của nó. Những bức tranh của
một thời kì lịch sử không thể quên bởi nó chứa những hồi ức đan chéo nhau
của niềm vui, nỗi buồn và cả những bất hạnh. Trong tiểu thuyết của mình,
Khuất Quang Thụy nhìn chiến tranh đúng với bản chất của nó, với sự tàn phá,
chết chóc, với những tổn thất to lớn không chỉ của một số người mà của cả
một thế hệ, của cả một dân tộc. Bộ mặt khốc liệt của chiến tranh đặc biệt cụ
thể với những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng, những đứa trẻ sớm mồ côi
cha mẹ. Ở chiến trường, người lính coi sự hi sinh của mình là bình thường
nhưng chính những người thân của họ ở hậu phương phải chịu đựng hậu quả
21
của sự hi sinh ấy. Những tiểu thuyết viết về chiến tranh trong chiến tranh
thường tránh nói đến những tổn thất và nỗi ghê sợ chiến tranh. Nhưng ngay
sau khi chiến tranh kết thúc, khi viết vể chiến tranh đã bắt đầu có sự dồn nén
làm bật ra những vấn đề nổi cộm về số phận của con người. Mối quan hệ và
sự tác động qua lại phức tạp giữa hiện thực chiến tranh và con người ngày
càng được nhà văn quan tâm chú ý. Tác động đó còn kéo dài sau chiến tranh –
khi họ có thể cởi bỏ chiếc áo lính trận để khoác lên mình chiếc áo đời thường,
đó là cuộc hành trình nhận thức lại cuộc sống và nhận thức lại chính mình.
Khuất Quang Thụy luôn nhận thấy trong tâm hồn một con người có cả mặt tốt
và mặt xấu, cái thiên lương và cái xấu, mặt tối và mặt sáng chỉ có điều ở
người này hay người khác phần nào nó lấn át hơn mà thôi. Đôi khi, có những
thời điểm khác nhau trong cuộc đời phần này hay phần kia biến đổi khó phân
định.Vì thế những phẩm chất tốt đẹp được hình thành trong chiến đấu không