Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết tô hoài - Pdf 10

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Tô Hoài Mai Thị Nga Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đoàn Đức Phương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Luận văn tìm hiểu cách nhà văn trần thuật để từ đó lý giải những vấn đề
nhà văn đặt ra trong cuộc sống, đồng thời rút ra được phong cách nghệ thuật độc đáo
của Tô Hoài. Luận văn lựa chọn các phương diện của nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết của Tô Hoài để nghiên cứu. Đó là Nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật
xây dựng nhân vật, người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật.

Keywords. Văn học Việt Nam; Nghệ thuật tự sự; Ngôn ngữ trần thuật; Tiểu thuyết

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tô Hoài là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông đa dạng về
thể loại và đề tài. Mỗi lần tìm hiểu về tác phẩm của Tô Hoài là một lần người ta tìm ra những
tầng vỉa ngầm ẩn sau lớp chữ nghĩa giản dị, đời thường.
Tiểu thuyết là thể loại mà ở đó Tô Hoài nếm đủ vị đời của văn chương. Cũng chính ở
thể loại này người ta nhận ra sự tích tụ từ những thể loại khác mà nhà văn đã có cả một quá
trình vun góp. Tìm hiểu về tiểu thuyết của Tô Hoài theo hướng tự sự học sẽ góp phần làm
sáng tỏ sự tích tụ, sự thống nhất, sự phát triển của phong cách nhà văn theo dòng thời gian
2. Lịch sử vấn đề


NỘI DUNG

CHƢƠNG 1
KHÁI LƢỢC VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TÔ
HOÀI
1.1. Khái lƣợc về nghệ thuật tự sự
1.1.1. Tự sự
Tự sự được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra trong quá trình giao
tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và tự sự có thể thực hiện bằng nhiều
phương thức, con đường và nó là một khái niệm được sử dụng rộng rãi và có tính chất liên
ngành . Chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, và nó làm thành đối tượng chủ yếu của tự sự
học.
1.1.2. Tự sự học
Từ thời cổ đại, đã có tự sự học, nhưng tự sự học lúc đó được hiểu trong giới hạn của tu
từ học. Cuối thế kỉ XIX tự sự học hiện đại mới manh nha hình thành. Những thập niên đầu
B.Tomasepxki, V.Shklovski, V.Propp, Bakhtin là những người mở đường cho tự sự học hiện
đại. Và sự phát triển của tự sự học theo thời gian, thành tựu có thể chia làm ba thời kì: thời kì
trước chủ nghĩa cấu trúc, thời kì cấu trúc chủ nghĩa, thời kì hậu cấu trúc chủ nghĩa.
Nghiên cứu tự sự học đang là một xu thế có nhiều triển vọng trong lí luận văn học và
nó ngày càng có ý nghĩa văn hóa rộng lớn. Tìm hiểu về tự sự học sẽ cho ta thấy kĩ thuật trần
thuật của các thể loại, các nhà văn, truyền thống văn hóa và từ đó nhìn nhận các vấn đề văn
học sử một cách sâu sắc hơn.
1.2. Hành trình sáng tác của Tô Hoài
1.2.1. Sơ lược tiểu sử
1.2.2. Hành trình sáng tác
1.2.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám
Trước năm 1945, ngòi bút Tô Hoài cùng lúc viết về hai đối tượng. Một là cuộc sống
xung quanh mình, hai là sự theo đuổi thế giới riêng của trẻ thơ, của loài vật. Tuy viết về hai
mảng đề tài khác nhau nhưng có một sự thống nhất trong phong cách nhà văn khám phá thế

nhân vật là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự vận động của mạch truyện, tạo ra những điểm
thắt nút, tạo nên cao trào cho sự phát triển của cốt truyện
Không xây dựng những xung đột xã hội gay gắt, không tạo ra những mâu thuẫn đòi hỏi
nhất định phải giải quyết nhưng tác phẩm của Tô Hoài vẫn hấp dẫn người đọc, vẫn có những
sự kiện thu hút, kích thích khả năng tưởng tượng của độc giả. Vấn đề mà Tô Hoài hướng đến
là những chuyện thường nhật, hàng ngày của mỗi người.
Cả ba tiểu thuyết trên theo dòng thời gian là sự trải nghiệm của Tô Hoài ở mỗi chặng
khác nhau của cuộc đời nhà văn. Cốt truyện mang tính chất truyền tạo được hiệu quả nghệ
thuật, phù hợp với ý đồ của nhà văn. .
Vẫn là cốt truyện ít cầu kì, phức tạp; ít biến cố, xung đột, nhưng ở Ba người khác đã có
sự linh hoạt trong cách tổ chức các sự kiện, chi tiết. Hành động, sự việc trong truyện không
còn tuân thủ nguyên tắc trước sau về mặt thời gian mà nó đã bị đảo lộn, nhảy cóc. Cốt truyện
không phát triển theo một chuỗi sự kiện có trình tự mà nó là sự lắp ghép các sự việc của một
thời kì đã qua và hiện lên qua hồi ức của một nhân vật anh đội xưng “tôi”.
2.1.2. Tổ chức diễn biến cốt truyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài
Trong tiểu thuyết, Tô Hoài chủ yếu sử dụng loại cốt truyện sự kiện nên diễn biến của
cốt truyện cũng được nhà văn tổ chức theo mô hình vận động của một câu chuyện hoàn chỉnh
với ba phần: phần trình bày, phần vận động, phần kết thúc.
Một số tiểu thuyết của Tô Hoài có phần trình bày được bắt đầu bằng cách giới thiệu
tóm tắt về nhân vật và bối cảnh của câu chuyện. Ta có thể nhận thấy điều đó qua tiểu thuyết
Miền Tây và Ba người khác. Trong tiểu thuyết Miền Tây, sau khi giới thiệu về đoàn lái buôn
mang hàng lên vùng cao, là những lời giới thiệu về gia đình bà Giàng Súa, một cách bài bản
về gia cảnh, về cuộc sống và số phận hiện tại của bà. Phần trình bày trong tiểu thuyết Ba
người khác cũng là những lời giới thiệu sơ lược về bối cảnh nảy sinh câu chuyện và lai lịch
của anh đội Bối – nhân vật “tôi”. Tác giả đã để cho anh đội Bối tự giới thiệu về phần đời
trước của mình từ lúc còn bé, đến khi bắt đầu đi làm, và hai mươi năm sau đó khi kết thúc
câu chuyện. Cách giới thiệu ở phần đầu mang tính truyền thống này dự báo phần diễn biến
sau đó là các lớp sự kiện, chi tiết tập trung làm nổi bật tính cách nhân vật và môi trường hoạt
động của nhân vật đó.
, Tô Hoài cũng sử dụng cách thức tổ chức phần trình bày linh hoạt với phần mở đầu

Sự phát triển cốt truyện trong tiểu thuyết củaTô Hoài là sự phát triển của những sự việc
nhỏ nhặt, những sinh hoạt hàng ngày, trong đời sống. Qua cốt truyện, bức tranh cuộc sống,
sinh hoạt và cả những suy nghĩ, tình cảm của con người được thể hiện một cách sinh động.
Đó là lối đi riêng của nhà văn.
Với tiểu thuyết Đảo hoang và Ba người khác tác giả đã dựng nên một cái kết trọn vẹn
(câu chuyện được kết thúc với vấn đề được giải quyết triệt để.). Kết thúc Đảo hoang là sự trở
về của gia đình An Tiêm giữa niềm vui hân hoan, sự đón chào của nhân dân, và sau đó là
hành trình ngược ra đảo của Mon. Ở Ba người khác, ta thấy có hai mảng sự kiện lớn song
song nhau nên khi kết thúc ta cũng nhận thấy có hai kết thúc. Đối với sự kiện đội cải cách
xuống làm cải cách ở vùng“hai trăm ngày” thì được kết thúc là đợt cải cách không thành
công, cấp trên phải cử một đội cải cách khác xuống. Còn đối với mảng sự kiện về ba anh đội
thì cuối cùng ba anh có ba kết cục khác nhau: Đình bị bắt, vì bị nghi là thủ lĩnh của Quốc dân
Đảng nhưng sau đó được thả và tìm đến vùng đất mới; Bối làm thuê cho Tư Nhỡ, bị hắn lừa
đánh cho thê thảm; Cự trở thành tên phản bội và bị tiêu diệt. Cách kết thúc phản ánh đúng
quy luật của đời sống con người – gieo nhân nào gặp quả ấy.
Tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ và Miền Tây có kết thúc theo mô hình dang dở.
Kết thúc của tiểu thuyết Miền Tây là những suy nghĩ của Nghĩa, những sinh hoạt thường
ngày của người dân vùng cao và cuộc trò chuyện của Nghĩa và Mỵ. Ta nhận thấy đó dường
như vẫn là những chi tiết của cuộc sống, mọi thứ vẫn đang diễn ra như trong các bước diễn
biến của chuyện. Kết thúc của tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ là hình ảnh nhân vật tiếp
tục đi, nhưng đi trong sự thành công, đi trong sự trưởng thành và cái kết đó khiến người đọc
có ấn tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ cách mạng. Cách kết thúc tưởng như là hết nhưng
lại đang mở ra những diễn biến khác của đời sống và kết thúc như vậy giống với “thì hiện tại
chưa hoàn thành”, nó để lại dư âm, khơi gợi sự tiếp nối trong trí tưởng tượng của người đọc.
Không hấp dẫn ở các sự kiện, biến cố lắt léo, giàu kịch tính như Nam Cao, Nguyễn
Công Hoan, cũng không thâm trầm, tinh tế, giàu chất thơ như Thạch Lam, cốt truyện trong
những tiểu thuyết của Tô Hoài mang đến những khám phá sâu sắc, tỉ mỉ, sinh động, giàu hình
ảnh về cuộc sống sinh hoạt của con người. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện của Tô Hoài có sự
linh hoạt, có sự đan xen giữa truyền thống và hiện đại, có sự tiếp nối giá trị cũ và lĩnh hội
thêm nét mới tạo nên tạng riêng của nhà văn. Đó là một trong những lí do khiến tác phẩm của

cách và bản chất tham lam, giả dối của các anh đội. Ở Miền Tây, để diễn tả cuộc sống đói
nghèo, tủi cực, xô bồ, hỗn loạn của người dân vùng cao trước cách mạng, Tô Hoài đã chọn ra
các chi tiết rất hay về cảnh phiên chợ Phiềng Sa. Trong tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ,
tác giả sử dụng chi tiết Thụ tự làm lấy băng đỏ đeo lên cánh tay áo, xách mã tấu vào huyện để
đòi làm cách mạng…
Sự kết hợp một cách linh hoạt các chi tiết hàng ngày với các chi tiết tiêu biểu giúp Tô
Hoài dựng nên những nhân vật, những tính cách mà mỗi lần nhắc đến ta đều biết nó là sản
phẩm của Tô Hoài.
2.2.2. Khắc họa nhân vật qua ngoại hình và hành động
Tô Hoài lại có biệt tài miêu tả ngoại hình nhân vật. Khi miêu tả ngoại hình của các
nhân vật, Tô Hoài đã quan sát rất kĩ, tìm ra đặc điểm riêng và vận dụng vốn ngôn ngữ đời
sống phong phú của mình để lột tả nhân vật.
Nhà văn có khi miêu tả ngoại hình nhân vật chỉ bằng vài chi tiết thoáng qua khi nhân
vật đó “ngẫu nhiên xuất hiện” như trường hợp của vị thường trực đoàn ủy; nhưng cũng có khi
tác giả để tâm, “chăm chút” cho vẻ bề ngoài của nhân vật ngay từ khi giới thiệu về họ, như
trường hợp của nhân vật Cự (Ba người khác).
Ngoại hình là vẻ bên ngoài của nhân vật, nhưng nó cũng thể hiện thần thái, tính cách
của nhân vật, do đó Tô Hoài đã chọn lọc các chi tiết rất nhỏ, rất cụ thể để chỉ bằng mấy dòng
có thể làm cho nhân vật đó hiện lên sắc nét, sinh động như thực. Cùng là miêu tả anh đội
nhưng mỗi anh đội dưới con mắt của Bối lại hiện lên với đặc điểm nhận dạng khác nhau.
Trong khi miêu tả ngoại hình của nhân vật, Tô Hoài thường ít khi miêu tả hình dáng
chung chung, mà thường chú ý đến khuôn mặt nhiều hơn. Trong khuôn mặt, Tô Hoài hay
miêu tả đôi mắt. Ở mỗi nhân vật, mỗi hoàn cảnh, mỗi tình huống ta lại bắt gặp một đôi mắt
khác nhau. Tác giả miêu tả những đôi mắt như “biết nói”, chúng thể hiện được hết thần thái,
tính tình của nhân vật.
Tô Hoài cũng thường quan sát và miêu tả ngoại hình các nhân vật ở những bộ trang
phục khác nhau, để qua đó người đọc vừa nhận dạng nhân vật, vừa thấy được những nét bản
sắc của từng vùng miền, từng thời kì.
Cùng với việc tập trung khắc họa nhân vật ở ngoại hình, Tô Hoài cũng thường miêu tả
hành động của các nhân vật. Tần số nhân vật hành động trong truyện là tương đối nhiều, đủ

Tuy thường khắc họa nhân vật ở hành động, nhưng cũng có một số nhân vật được Tô
Hoài chú ý miêu tả đời sống nội tâm như nhân vật Giàng Súa, Thào Nhìa, trong Miền Tây.
Đời sống nội tâm của các nhân vật trong tiểu thuyết của ông không được biểu hiện
toàn bộ với sự phức tạp của nó, cũng ít có những “ca” tâm lý dữ dội, những dằn vặt, mâu
thuẫn sâu sắc mà thường chỉ là những biểu hiện tâm lý đơn giản. Đời sống bên trong của
nhân vật thường gắn bó hữu cơ với hành động, với suy nghĩ, và thường được miêu thuật chủ
yếu qua lời của người kể chuyện. Cũng có khi nó xuất phát từ tâm lý bên trong, trong lời độc
thoại của nhân vật nhưng trường hợp đó ít.
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng để biểu hiện tính cách của nhân vật, có tác dụng
thúc đẩy diễn biến của cốt truyện và đóng vai trò quan trọng trong quá trình cá biệt hóa nhân
vật.
Tô Hoài đã chú ý khắc họa nhân vật qua ngôn ngữ để mỗi nhân vật có một ngôn ngữ
riêng thể hiện tính cách riêng. Mai An Tiêm được khắc họa là một nhân vật lịch sử, có chí
khí, có nghị lực và nhân cách của một anh hùng. Vì thế trong lời nói của An Tiêm với mọi
người rất ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát”. Đọc Ba người khác, các nhân vật thể hiện rõ nhân
cách của mình qua đối thoại và qua lời kể của anh đội Bối. Ở Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Thụ
đã giải thích cho Mã Hợp một cách đơn giản về cách mệnh. Đó là ngôn ngữ của anh khi anh
còn rất trẻ, đang trên những bước đầu tiên đến với cách mạng.

CHƢƠNG 3
NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
3.1. Ngƣời kể chuyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài
3.1.1. Người kể chuyện
Bất cứ tác giả tiểu thuyết nào cũng đều phải chọn lựa ngôi kể cho tác phẩm của mình,
một trong hai cách chủ yếu là : kể ở ngôi thứ nhất và ở ngôi thứ ba.
Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài biến đổi đa dạng, linh hoạt để phù hợp
với ý đồ nghệ thuật của tác giả. Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài lúc ở ngôi thứ
nhất lúc ở ngôi thứ ba.
Ở ngôi kể thứ ba người kể chuyện giấu mình, không nhân danh một nhân vật trong
truyện để kể. Ngôi kể thứ ba trong các tiểu thuyết Miền Tây, Đảo hoang, Tuổi trẻ Hoàng

câu chuyện cũng được kể ở ngôi thứ ba điểm nhìn bên ngoài. Với điểm nhìn đó, toàn bộ cảnh
đời ở Phiềng Sa trước và sau cách mạng đều được mô tả một cách chi tiết, đầy đủ với cái nhìn
bao quát, khách quan. Tô Hoài cũng đã kết hợp điểm nhìn bên ngoài và bên trong trong đoạn
văn kể lại, cảnh bà Giàng Súa mua muối Không chỉ kết hợp điểm nhìn mà tác giả còn di
chuyển điểm nhìn. Đọc đoạn Thào Khay đi học trở về bản ta nhận thấy vẫn là ngôi kể thứ ba
nhưng đã có sự sự di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang người đi làm nương.
Bên cạnh điểm nhìn bên ngoài Tô Hoài còn sử dụng điểm nhìn bên trong từ một nhân
vật trong truyện xưng “tôi”. Điểm nhìn trong Ba người khác đặt trong điểm nhìn của anh đội
Bối khi Bối kể và nhận xét về các nhân vật khác. Điểm nhìn bên trong đó đã khiến cho sự
thật về một thời cải cách được phơi bày trần trụi và sống động. Điểm nhìn của Bối có khi ẩn
dưới điểm nhìn của người khác, của ngôi thứ ba. Cái nhìn của “tôi” vừa mang tính cá nhân lại
vừa mang tính đại chúng khiến cho điểm nhìn di chuyển linh hoạt đa dạng (qua đoạn kể của
Bối về cảnh làm đồng của người dân, việc Đình bị bắt giam và xử). Không chỉ di chuyển
điểm nhìn mà Tô Hoài còn kết hợp linh hoạt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài.
Bối với điểm nhìn bên trong đi sâu vào tâm lí, nội tâm của mình và của mọi người. Điểm
nhìn bên ngoài được thể hiện với cách nhìn nhận của Bối về cuộc cải cách ruộng đất. Việc sử
dụng kết hợp đó góp phần giúp người đọc cảm nhận bức tranh cải cách chân thực mà không
phải sự dối tránh né. Điều này còn giúp tạo ra giọng điệu đa thanh cho tác phẩm.
3.1.3. Giọng điệu trần thuật
3.1.3.1. Giọng dửng dưng, bình thản pha chút mỉa mai, châm biếm
Trong Ba người khác giọng của người kể chuyện rất bình tĩnh, thản nhiên và hết sức
ám ảnh. Trước cảnh Đình bị tra tấn, mặc dù là một người cùng đội nhưng Bối kể lại rất tỉ mỉ
những đau đớn Đình trải qua không một chút đau xót, không một chút thương tiếc. Chính
cách miêu tả chi tiết với giọng điệu bình thản, không chút biểu cảm gì đã tăng thêm hiệu quả
nghệ thuật khiến người đọc cảm nhận rõ hơn về mặt trái của cuộc cải cách, thấy ghê sợ chính
những con người tham gia cải cách đó.
Giọng điệu của người kể chuyện còn mang sắc thái mỉa mai châm biếm những việc các
anh đội làm. Hủ hóa là việc làm vi phạm kỉ luật nặng nhất mà Bối coi như không.
3.1.3.2. Giọng điệu trữ tình, ấm áp, vui tươi
Cùng với những trang văn khiến người đọc thấy người kể chuyện như đứng ngoài cuộc

Trên sáu mươi lăm năm sáng tác, dù viết về đề tài gì, đối tượng thẩm mỹ và thể loại
nào, Tô Hoài cũng chủ yếu dựa trên cảm hứng nhân văn đời thường. Chính cảm hứng ấy nó
khiến cho giọng điệu của nhà văn trở nên phức hợp. Ở đó có sự kết hợp giữa giọng dửng
dưng, lạnh lùng với giọng trữ tình, vui tươi và giọng dí dỏm, hài hước.
3.2. Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết của Tô Hoài
Ngôn ngữ trần thuật thể hiện quan điểm của tác giả hay quan điểm của người kể chuyện
đối với cuộc sống được miêu tả.
Người kể chuyện trong tác phẩm ít nhiều đều mang bóng hình của tác giả, do đó ngôn
ngữ của người kể chuyện là sự sáng tạo của tác giả.
3.2.1. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình.
Bức tranh thiên nhiên, đời sống và thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Hoài được
tái hiện qua lời người kể chuyện chân thưc, sinh động là bởi thứ ngôn ngữ giàu chất tạo hình
bắt nguồn từ tiếng nói dân dã của nhân dân.
Nhờ việc sử dụng đa dạng, phong phú các từ láy mà chân dung các nhân vật qua lời của
người kể chuyện trở nên sống động và có hồn. Tô Hoài đặc biệt sử dụng nhiều từ láy để miêu
tả ngoại hình và hành động của nhân vật. Không chỉ con người mà thiên nhiên và con vật
cũng được miêu tả rất sinh động nhờ hàng loạt các từ láy gợi hình, gợi cảm.
Trong tác phẩm của mình Tô Hoài rất chú ý đưa vào các hình ảnh so sánh ví von. Hầu
như trang nào ta cũng có thể bắt gặp những hình ảnh so sánh từ đơn giản đến tinh tế, từ giản
dị, dễ hiểu đến độc đáo, thú vị. Các so sánh của Tô Hoài hết sức sinh động và có hồn, chính
xác như lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân. Đó là một nét riêng biệt tạo nên phong
cách của Tô Hoài – nhà văn của đời thường.
3.2.2. Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ
Ở các thể loại truyện ngắn, kí, và ở cả tiểu thuyết, ngôn ngữ của Tô Hoài đều là thứ
ngôn ngữ của đời sống nhân dân, đặc biệt là những người nông dân, người lao động chân chất
Tô Hoài đã chú ý miêu tả suy nghĩ, thái độ, hành động và ngôn ngữ của nhân vật mang
bản sắc của người dân vùng cao. (Miền Tây ,Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ). Chất dân tộc, địa
phương trong ngôn ngữ còn được thể hiện qua những đoạn miêu tả thiên nhiên, đời sống sinh
hoạt của các dân tộc vùng cao. Mỗi trang sách, mỗi cảnh thiên nhiên, con vật đều mang hơi
hướng của người dân tộc.

Đó là bản hùng ca sôi nổi từ nghìn năm dựng nước tới nay trên bờ biển.
Nhờ ý thức bám lấy ngôn từ của đời sống và dám tạo nên những cách nói mới mà văn
Tô Hoài có khả năng gây ám ảnh.

KẾT LUẬN
Qua khảo sát, phân tích bốn phương diện của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Tô
Hoài (nghệ thuật tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, người kể chuyện và ngôn
ngữ trần thuật), chúng tôi nhận ra sự phát triển có tính chất tiếp nối, kế thừa, thống nhất về
nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Tô Hoài.
Điểm thống nhất trong nghệ thuật tổ chức cốt truyện của Tô Hoài là dạng cốt truyện
không có sự phức tạp, ít những sự kiện, biến cố quan trọng và do đó ít những tình huống kịch
tính, gấp gáp, căng thẳng. Cốt truyện mà Tô Hoài hướng đến chính là cốt truyện của “đời
sống hàng ngày”. Trong mạch thống nhất, tiếp nối ấy, nhà văn đã thể hiện sự lĩnh hội cái
mới, phát triển nó trên nền cái cũ. Từ cốt truyện nghiêng hẳn về hành động, sự kiện (Đảo
hoang, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ), đến cốt truyện có sự kết hợp đan xen sự kiện, hành động
với tâm lý (Miền Tây, Ba người khác). Từ cốt truyện được trần thuật theo dòng thời gian
tuyến tính (Đảo hoang, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ) đến cốt truyện có sự đảo ngược thời gian
(Miền Tây) và thời gian bị xáo trộn theo dòng hồi tưởng của nhân vật (Ba người khác).
Mạch vận động của cốt truyện cũng có sự kế thừa phát triển qua các tiểu thuyết.
Ở nghệ thuật xây dựng nhân vật, ta nhận thấy có điểm chung ở các tiểu thuyết của Tô
Hoài đó là các nhân vật được chú trọng miêu tả về ngoại hình và hành động. Thông qua đặc
điểm về ngoại hình, hành động người đọc nhận ra bản chất của nhân vật. Song bên cạnh lối
khắc họa nhân vật truyền thống ấy thì cũng đôi lúc tác giả tập trung miêu tả đời sống nội tâm
nhân vật khi cần thiết.
Tiểu thuyết của Tô Hoài về cơ bản là tồn tại dạng thức người kể chuyện hàm ẩn qua
hình thức trần thuật ngôi thứ ba, kể theo điểm nhìn của chính mình – một hình thức trần thuật
truyền thống. Tuy sử dụng hình thức truyền thống đó nhưng người kể chuyện trong tiểu
thuyết của Tô Hoài đã dần dần từ bỏ quyền uy của người kể chuyện “biết tuốt” bằng cách di
chuyển và kết hợp linh hoạt điểm nhìn cho nhân vật (ngôi thứ ba – nhân vật trong truyện).
Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Tô Hoài có lúc đã trần thuật theo ngôi thứ nhất, kể

16. Nguyễn Đăng Mạnh, Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách, Nxb văn
học, 2006.
17. Nguyễn Đăng Suyền, Nhà văn và cá tính sáng tạo , Nxb Khoa học xã hội, 2002.
18. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, 2005.
19. Trần Đình Sử, Tự sự học phần I, NXB Đại học Sư phạm, 2007.
20. Trần Đình Sử, Tự sự học phần II, NXB Đại học Sư phạm, 2008.
21. Trần Hữu Tá, Tô Hoài một đời văn phong phú và độc đáo, Nxb Trẻ hội nghiên cứu và
giảng dạy văn học Hồ Chí Minh, 2001.
22. Bùi Việt Thắng, truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học
Quốc gia, 2007.
III. KHÓA LUẬN, LUẬN VĂN, LUẬN ÁN
23. Nguyễn Thị Thùy Dương, Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Ba người khác của Tô
Hoài, Đại học KHXH & NV, 2007.
24. Hoàng Minh Đức, Nghệ thuật tự sự trong các tác phẩm của Tô Hoài, Đại học KHXH &
NV, 2007.
25. Đoàn Thị Thúy Hạnh, Nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài qua hồi ký, ĐH Sư phạm Hà
Nội, 2001.
26. Tăng Thị Hoàn, Tìm hiểu tự sự về cải cách ruộng đất trong tiểu thuyết Cỏ thiêng, Đi tìm
nhân vật, Ba người khác, Đại học KHXH & NV, 2009.
27. Mai Thị Nhung, Phong cách nghệ thuật Tô Hoài, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2005.
28. Trần Thị Mai Phương, Nhân vật kể truyện trong hồi kí và tự truyện của Tô Hoài, Đại học
KHXH & NV, 2009.
29. Phạm Thị Thanh Phượng, Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Thạch Lam, Đại học
KHXH & NV, 2008.
30. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Ba người khác, Đại
học KHXH & NV, 2007.
IV. BÁO, TẠP CHÍ, WEBSITE
31. Lê Huy Bắc, Giọng và giọng điệu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, Tạp chí văn học số
9, 1998.
32. Đặng Anh Đào, Điển hình hóa và tiểu thuyết ngày nay : Ba người khác có nhất thiết phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status