ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN MẠNH HÙNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT NAM BỘ
TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1932 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN TP. Hồ Chí Minh, năm 2014
TP. Hồ Chí Minh, năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
khác. Tác giả luận án
Phan Mạnh Hùng MỤC LỤC
– NHÌN TỪ KẾT CẤU TRẦN THUẬT
2.1. Các kiểu kết cấu trần thuật 78
2.1.1. Kết cấu tuyến tính 79
2.1.2. Kết cấu phi tuyến tính 101
2.2. Người kể chuyện và nhân vật 107
2.2.1. Mối quan hệ giữa người trần thuật và cốt truyện 108
2.2.2. Mối quan hệ giữa người trần thuật và nhân vật 123
Tiểu kết: 137
Chương 3
TIỂU THUYẾT NAM BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN 1932
– NHÌN TỪ NHÂN VẬT VÀ VIỆC KIẾN TẠO DIỄN NGÔN
3.1. Kiểu nhân vật 142
3.1.1. Nhân vật anh hùng 144
3.1.2. Nhân vật dục vọng 153
3.1.3. Nhân vật oan khuất 158
3.2. Các dạng thức tạo nghĩa diễn ngôn tự sự 160
3.2.1. Dạng kể và tả 163
3.2.2. Dạng đối thoại, độc thoại và lời nửa trực tiếp 186
3.2.3. Nhịp điệu câu văn xuôi 191
Tiểu kết: 195
KẾT LUẬN 196
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN . 201
TÀI LIỆU THAM KHẢO 203
PHỤ LỤC 218
1
MỞ ĐẦU
đầy đủ và chính xác về tiến trình hiện đại hóa văn học ở Việt Nam, nếu không
chạm đến cái con đường mà truyện Thầy Lazarô Phiền đã mở ra: nhân vật xưng
tôi trực tiếp kể về mình, nhân vật xưng tôi phơi bày tâm trạng của chính mình với
kẻ khác.
Và sẽ thật không trọn vẹn nếu không khẳng định vai trò và đóng góp của
tiểu thuyết Nam Bộ khi đã khai sinh ra dòng tiểu thuyết trinh thám võ hiệp mang
dấu ấn kỹ thuật của phương Tây; dòng tiểu thuyết lịch sử mang âm hưởng hào
hùng, khí phách dân tộc; dòng tiểu thuyết xã hội phản ánh gần như trọn vẹn đời
sống văn hoá vật chất và tinh thần của con người phương Nam trong thời kỳ xã
hội chuyển biến mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá nửa đầu thế kỷ XX.
1.3. Trong tiến trình hiện đại hóa, tiểu thuyết vốn được mệnh danh là thể
loại tự sự chủ đạo lên ngôi, trở thành thể loại chủ lực của nền văn học mới. Tiểu
thuyết thời kỳ đầu ở Nam Bộ thuộc loại hình văn học đại chúng, thiên về cốt
truyện và nhân vật hành động: tập trung vào thủ pháp kể chuyện. Tiểu thuyết Nam
Bộ cho thấy sự dung hợp kỹ thuật tự sự của tiểu thuyết Trung Quốc và tiểu thuyết
Phương Tây. Điều đó cho thấy cần thiết có một công trình tập trung nghiên cứu
cách kể - nghệ thuật tự sự, vốn là phương diện bản chất của tiểu thuyết để góp
phần nhận chân được con đường hình thành, vận động (trong kế thừa, ảnh hưởng
Đông Tây) của tiểu thuyết Việt Nam.
1.4. Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ thực sự đã có những đóng góp quan
trọng cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, từng làm say
mê và để lại những dấu ấn trong kí ức của nhiều thế hệ độc giả. Những năm gần
đây, nhiều tác phẩm của các nhà văn Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bửu Đình được tái
bản, đã được đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Thậm chí, những tác phẩm của nhà văn
Hồ Biểu Chánh do nhà xuất bản Tiền Giang in và phát hành đã tạo ra một “hiện
tượng” trong ngành xuất bản những năm thập niên 80 của thế kỷ XX.
Vậy, điều gì khiến những cuốn tiểu thuyết cách nay gần cả trăm năm sống
lại trong lòng xã hội hiện đại? Hẳn là người đọc tìm đến với tiểu thuyết Nam Bộ
3
và làm việc tại khu vực này như: Bửu Đình, Phạm Minh Kiên cũng là đối tượng
nghiên cứu của công trình. Bởi theo chúng tôi, các nhà văn này đã có một thời
gian dài sống ở mảnh đất Nam Bộ, các tác phẩm của họ được sáng tác, xuất bản và
hướng đến người đọc nơi mảnh đất họ gắn bó. Do vậy, những tác phẩm này cần
được xem là thành tựu của văn chương Nam Bộ.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn khảo sát một số tiểu
thuyết xuất bản ở miền Bắc cùng một giai đoạn để phục vụ cho việc so sánh đối
chiếu.
Về khái niệm tiểu thuyết: đây là giai đoạn nền văn học Việt Nam nói chung
đang từng bước hiện đại hóa. Các thể loại của nền văn học hiện đại đã từng bước
định hình trong đó có tiểu thuyết. Khái niệm tiểu thuyết cần phải được hiểu một
cách uyển chuyển, có tính lịch sử cụ thể. (Vấn đề này sẽ được chúng tôi trình bày
kĩ hơn trong chương một: Những vấn đề chung).
3. Lịch sử vấn đề
Vấn đề nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ đã được quan tâm từ khá sớm.
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm lại lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ (sự
hình thành, diện mạo và tiến trình vận động) nói chung và tập trung chú ý những ý
kiến bàn luận về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ qua ba chặng chính:
- từ đầu thế kỷ XX đến 1945
- từ 1945 đến 1975
- từ 1975 đến nay
2.1. Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945
Những ý kiến luận bàn về nghệ thuật tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này
phần lớn là những bài phê bình, trao đổi văn chương đăng trên báo chí ở Nam Bộ.
Có thể xem đây là những ý kiến của những người đương thời bàn về tiểu thuyết
Nam Bộ. Trong điều kiện lịch sử cụ thể, những ý kiến bình giá vẫn chỉ dừng ở
mức độ khen chê về mặt nội dung, văn thể của các tác phẩm cụ thể và vẫn rất hiếm
những đúc kết khái quát. Nhìn chung, cách tiếp cận thể loại của các cây bút phê
bình trên báo chương Nam Bộ vẫn ở mức độ khám phá bước đầu.
cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một người có kinh nghiệm, hiểu rộng, biết nhiều về
6
nhân tình thế thái, có quan sát, đã thâu vào cặp mắt tinh thần được nhiều bức tranh
xã hội. Lại thấy một nhà tâm lí đã khám phá được nhiều điều bí ẩn ở tâm giới
người đời một nhà thi sĩ đã cùng với nước non cây cỏ mà cảm thương thiết tha;
một nhà luân lí đã từng vì nhiều điều thảm mục thuơng tâm mà tỏ lòng bất mãn…”
[135/47]. Bên cạnh đó, nhận xét về Hòn máu bỏ rơi của Phan Huấn Chương,
Thiếu Sơn cho rằng: “Ông Phan Huấn Chương đã làm được bộ phong tục tiểu
thuyết Hòn máu bỏ rơi, rất xứng đáng với cái phần thưởng của Đuốc nhà Nam
ngày nọ” [135/104]. Với Người vợ hiền của Nguyễn Thới Xuyên, Thiếu Sơn phân
tích tâm lí, hành động của các nhân vật, chỉ ra những ưu điểm và những chỗ hạn
chế của tác phẩm. Theo Thiếu Sơn “Nhờ ở cây viết tài tình linh động của Nguyễn
quân nó đã gây cho cuốn sách có được cái giá trị văn chương ít có” [135/79].
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) đã trang trọng đặt Hồ Biểu
Chánh vào hàng Các tiểu thuyết gia thuộc thế hệ mở đầu. Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra
những điểm khác nhau giữa tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu
Chánh: “Tiểu thuyết họ Hoàng thiên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ ủy mị cầu
kỳ, không tự nhiên, còn tiểu thuyết của họ Hồ thiên về tả việc và lời văn mạnh mẽ,
giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường” và “tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có tính chất
bình dân, bình dân cả từ những nhân vật ông chọn đến những lời văn ông viết
nữa” (PMH - nhấn mạnh) [119/337]. Nên nhớ là Nhà văn hiện đại xuất hiện vào
thời điểm tiểu thuyết Nam Bộ có hơn 40 năm phát triển với một diện mạo và chất
lượng tương đối. Thế nhưng, trong rất nhiều các hiện tượng văn học Nam Bộ, chỉ
một mình Hồ Biểu Chánh vinh dự bước vào Nhà văn hiện đại.
Mộc Khuê (Kiều Thanh Quế), nhà phê bình tiêu biểu của Nam Bộ đầu thế
kỷ XX, người có vai trò như là một trong những cầu nối giữa hai vùng văn học
Bắc Bộ và Nam Bộ, trong công trình có tính chất tổng kết Ba mươi năm văn học
(1942) cũng chỉ dừng lại ở công việc “tính sổ” và “điểm mặt” các hiện tượng tiểu
thuyết Phú Đức, Bửu Đình, Phan Huấn Chương, Nguyễn Thới Xuyên. Cũng như
và làm rõ hơn các nhận định của Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế
trước đó. Nghiêm Toản cho rằng: “Ông (Hồ Biểu Chánh - PMH) chiếm được địa
vị cao trong làng tiểu thuyết vì ông đã quyến rũ nổi người đọc; họ ham theo dõi
8
các việc ông kể, xảy ra dồn dập: chính động tác đã gây hứng thú và gợi tính hiếu
kỳ của kẻ đọc ông. Ông chuyên tả tình một cách tỉ mỉ, tinh vi; những hành động,
các vai đủ biểu lộ tính tình; vẽ cảnh ông cũng chỉ dùng vài nét bút, tả rất đơn sơ;
tóm lại, như chúng tôi vừa nói ở trên, tiểu thuyết của ông “sống” về “việc” ông đã
trình bày với một lối văn mạnh mẽ, giản dị. Ông là nhà văn bình dân, không
những vì bút pháp mà lại còn vì các vai ông chọn phần nhiều trong đám công chức
trung lưu, dân quê hay thuyền thợ” [162/158]. Qua trích dẫn, Nghiêm Toản đã gợi
cho chúng ta một cách lý giải về sự hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: chính
là sự kể chuyện có chủ ý, sắp đặt tạo ra sự hiếu kỳ, đặc biệt nhà văn cố ý thức xây
dựng đời sống và tâm lý các nhân vật mà đối với độc giả, những công chúng
“công chức trung lưu, dân quê hay thuyền thợ” nhận thấy bóng dáng của mình
trong đó. Nói một cách khác, trong dự đồ sáng tạo của mình, Hồ Biểu Chánh đã
hướng đến một đối tượng độc giả trong xã hội Nam Bộ: đại chúng, bình dân.
Điểm mấu chốt của văn học hướng đến đại chúng, như nhận xét của Nguyễn Nam
Trân, là “làm cho độc giả được can dự vào văn hóa hiện đại dưới dạng lược gọn”
[170/607]. Từ trường hợp Hồ Biểu Chánh, chúng ta có thể có những căn cứ để suy
rộng ra một phương diện quan trọng về mặt xã hội cần tính đến khi nghiên
cứu tiểu thuyết Nam Bộ: hướng đến đại chúng. Về sau, trong khảo luận Khi
những lưu dân trở lại (1967), nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân sẽ nâng luận
điểm này thành một thao tác khoa học chính yếu khi nghiên cứu những đặc trưng
của văn nghệ miền Nam (hẹp hơn là tiểu thuyết miền Nam). Từ Nguyễn Văn
Xuân, một số nghiên cứu bắt đầu chú ý khía cạnh đặc biệt này của tiểu thuyết Nam
Bộ.
Nghiên cứu những vấn đề văn học sử Việt Nam qua thời gian đã đạt được
nhiều thành tựu, thể hiện rất rõ qua các bộ giáo trình lịch sử văn học. Theo đó, văn
miền Nam rồi” [110/356]. Tuy vậy, nhà nghiên cứu vẫn chưa đủ tự tin khi chỉ
chọn duy nhất Hồ Biểu Chánh làm đại diện tiểu thuyết miền Nam. Với sự khiếm
khuyết này, không thể viện dẫn vấn đề khó khăn tư liệu, vì dẫu sao so với các
đồng nghiệp đất Bắc, Phạm Thế Ngũ có những thuận lợi nhất định. Đó là chưa kể,
trong một vài chỗ, nhà nghiên cứu đã có những nhận xét chưa thật khách quan.
10
Công trình có tính chất tổng kết một chặng đường dài nghiên cứu về Hồ
Biểu Chánh phải kể đến chuyên khảo Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974) của
Nguyễn Khuê. Khi phân tích tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, trên cơ sở tư liệu phong
phú, nhà nghiên cứu đã xác định các phương diện nội dung và nghệ thuật cơ bản
như hệ thống nhân vật, cảnh vật, bố cục, ngôn từ, bút pháp. Trong phần kết luận,
nhà nghiên cứu nhấn mạnh ý hướng phong tục và luân lý vốn là nền tảng tư chất
con người Nam Bộ đã được phản ánh trong sáng tác, lý giải mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức, trên cơ sở đó đi đến khẳng định địa vị Hồ Biểu Chánh trong
văn học sử cả ở những đóng góp cũng như giới hạn: “Trong lịch sử tiểu thuyết
Việt Nam, Hồ Biểu Chánh là cây bút tiên phong sáng giá nhất của giai đoạn 1913 -
1932, bởi lẽ ông đã đạt được nhiều tiến bộ về kỹ thuật dựng truyện, nội dung cũng
như văn từ và sáng tác nhiều hơn hết so với các nhà văn đồng thời, (…) Là một
nhà văn lớn ở miền Nam, và có khuynh hướng đạo lý, Hồ Biểu Chánh đã đi tiên
phong và lập công đầu trong việc đưa tiểu thuyết mới từ tình trạng phôi thai tiến
đến giai đoạn thành lập và thịnh hành. Tiểu thuyết Việt Nam từ Hồ Biểu Chánh
mới bắt đầu bước những bước vững chắc và ông là nhà tiểu thuyết quan trọng bậc
nhất ở giai đoạn 1913 - 1932” [78/271].
Cũng theo hướng tiếp cận thể loại, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974)
của Phan Cự Đệ là một công trình đáng chú ý. Tiếp nối một số công trình trước
đấy, viết về tiểu thuyết Nam Bộ, nhà nghiên cứu cũng chỉ đặc biệt chú ý đến tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh. Ngoài ra, cũng cần nêu ra ở đây là trên quan điểm giai cấp,
nhà nghiên cứu đã có một số đánh giá chưa thật công bằng đối với Hồ Biểu Chánh
[35]. Đó cũng là điểm chung và cũng là giới hạn của một số công trình nghiên cứu
cùng thời.
Văn Xuân đã xuất phát từ phương diện xã hội của tiểu thuyết Nam Bộ, cụ thể là
vấn đề độc giả, để lý giải những lựa chọn của nhà văn Nam Bộ về đề tài và kỹ
thuật viết. Việc xem vấn đề người đọc như một nhân tố quan trọng cấu thành nên
đặc tính của văn nghệ nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong công trình của
Nguyễn Văn Xuân chính là hướng nghiên cứu mà ngày nay chúng ta gọi là nghiên
12
cứu xã hội học văn chương. Chính phương diện này, theo chúng tôi, Nguyễn Văn
Xuân là người trước nhất đã đề xuất một cách tiếp cận tiểu thuyết Nam Bộ rất hữu
lý, hứa hẹn nhiều khám phá thú vị. Theo thời gian, với sự truyền nhập của các lý
thuyết văn học, đặc biệt là mĩ học tiếp nhận vào Việt Nam, vấn đề người đọc - một
nhân tố cấu thành diện mạo và đặc điểm của tiểu thuyết Nam Bộ - càng được chú
trọng xem xét trong các công trình nghiên cứu. Và, dĩ nhiên trong quan niệm các
nhà nghiên cứu, đó mới chỉ là kiểu người đọc ở ngoài tác phẩm, không tham gia
trực tiếp vào sự sáng tạo tác phẩm như kiểu “người đọc hàm ẩn” mà lý thuyết tự
sự học đã chỉ ra.
Đặt nhiệm vụ nghiên cứu những hiện tượng văn học Nam Bộ trong giai
đoạn phôi thai, Bùi Đức Tịnh trong Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và
Thơ mới (1865 - 1932) (1975) đã giới thiệu một số gương mặt nhà văn tiên phong
của văn học Quốc ngữ Nam Bộ như: Trương Vĩnh Ký, Trương Duy Toản, Lương
Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt và tóm tắt,
trích tuyển tác phẩm: Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân, Oán hồng quần
Phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngoại sử, Kim thời dị sử, Nghĩa hiệp kì
duyên, Giọt máu chung tình. Tác giả đặc biệt lưu ý đến thực trạng những tác phẩm
mở đường trong văn học Nam Bộ như những “hòn máu bị bỏ rơi”. Trong khi nhấn
mạnh tính chất tiên phong của vùng văn học Nam Bộ, Bùi Đức Tịnh cũng đã
khẳng định mối quan hệ hữu cơ của văn học Nam Bộ và văn học dân tộc: “Các tờ
báo, các tiểu thuyết thoát thai từ văn học miền Nam trong khoảng từ 1863 đến
1932 (trong suốt hai giai đoạn chuyển tiếp từ văn chương cổ điển và hình thành
văn chương hiện đại) không phải là sản phẩm của nền văn học riêng một “xứ”,
một địa phương. Đó là những tác phẩm của nền văn học dân tộc nảy sinh trong
cứu của những người đi trước, Nguyễn Văn Trung đã đi đến kết luận: “chúng tôi
tạm thời nêu giả thuyết coi truyện Thầy Lazaro Phiền là tiểu thuyết bằng Quốc
ngữ viết theo lối Tây phương sớm hơn cả ở miền Nam” [176/16]. Ngoài ra nhà
nghiên cứu còn gợi mở hướng luận giải sự khác biệt của văn chương miền Bắc và
miền Nam xuất phát từ sự khác biệt văn hóa và hoàn cảnh địa chính trị giữa hai
14
miền. Theo ông, khác với miền Bắc, miền Nam “Khi tiếp xúc với văn hóa Pháp,
một văn hóa được trình bày trong chính sách đồng hóa đe dọa mất gốc, tiêu diệt
bản chất dân tộc, người miền Nam không những không thể bỏ văn hóa truyền
thống dựa trên Nho học, mà còn coi nó như điểm tựa, chỗ dựa chống lại chính
sách đồng hóa của người Pháp. Do đó đi tới chỉ tiếp thu kỹ thuật Tây phương nói
chung và ở đây là kỹ thuật viết tiểu thuyết (PMH - nhấn mạnh)” [176/19]. Thực
tế sáng tác cũng đã cho thấy: tinh thần đạo lý bàng bạc trong những thể nghiệm
hình thức mới mẻ du nhập từ phương Tây.
Nhà nghiên cứu Bằng Giang đã góp phần xoá bớt “vùng trắng” của văn học
Nam Bộ với công trình Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 - 1930 (1992) [47].
Trên phương diện tác giả tác phẩm, công trình đã giới thiệu những gương mặt nhà
văn tiêu biểu cùng thư mục tác phẩm phong phú với ghi chú tường minh đã đính
chính nhiều ngộ nhận của một số nhà nghiên cứu trước đó.
Trong những công trình có tính chất công bố thư mục tư liệu tiểu thuyết
Nam Bộ, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (1998) đã tích hợp được công
sức và thành tựu của các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Y,
Bằng Giang… đã cung cấp một bảng thư mục tương đối đầy đủ. Trên cơ sở khảo
sát những tiền đề lịch sử, xã hội, tư liệu tác phẩm, các tác giả địa chí đã đưa ra
nhiều kết luận xác đáng. Trong đó, đáng chú ý là có những nhận xét đã kế thừa và
nhấn mạnh ý kiến của Nguyễn Văn Xuân trong Khi những lưu dân trở lại (1967)
về đặc tính văn học miền Nam: “một loại văn chương nặng về nói lên, kể
chuyện và trình diễn, mang đậm tính chất dân chúng (PMH - nhấn mạnh) (…)
càng vào miền Nam, thì văn chương mang tính chất bác học riêng cho trí thức
giảm bớt đến phải chịu nhiều mất mát, để cho tính cách dân chúng, nói diễn trở
chặng đường khởi đầu. Tác giả đã lưu ý chúng ta đến “một truyền thống nhiều thế
kỷ của khu vực văn chương Công giáo” với những tên tuổi Jéronimo Maiorica
(1646), Dominique Martigia (1848), Joseph Marie Bigollet Kính (1905), Pierre
Marie Gendreau Đông (1902) và tác phẩm của họ: truyện các Thánh. Theo nhà
nghiên cứu, “các nhà văn thời kỳ đầu phần lớn là người Công giáo. Chính họ là
16
những người từ trong nền văn xuôi nôm Công giáo xuất thân nên không bỡ ngỡ
với văn xuôi Quốc ngữ”, “nên câu văn viết ‘trơn tuột như lời nói’ cũng là lẽ đương
nhiên”. Điều này, theo người viết, đã góp phần “xác định một phương diện trong
quan niệm nghệ thuật của văn xuôi tự sự buổi đầu” và, đồng thời đưa đến hai
thuận lợi lớn: “tạo nên được một cuộc cách mạng chóng vánh trong việc chối bỏ
các phép từ chương học cổ truyền” và “càng đáng nói hơn nhiều, là sử dụng tiếng
nói nôm na thì dù muốn hay không cũng góp phần giúp văn xuôi tự sự gia nhập
vào đời sống thông tục, hay đúng hơn là gia nhập vào cái đang diễn ra hàng ngày
trong sinh hoạt xã hội”. Sau khi mô thức hoá chu trình vận động 4 bước của văn
xuôi Quốc ngữ, Nguyễn Huệ Chi đã có những nhận xét về lối viết của một số cây
bút tiểu thuyết tiêu biểu: “Hồ Biểu Chánh đã không kế tục Nguyễn Trọng Quản
một cách đơn giản mà đạt tới một tầm vóc khác, có mặt không cách tân được như
Nguyễn Trọng Quản nhưng lại có mặt cao hơn hẳn: ấy là trong tư cách một ngòi
bút khắc hoạ diện mạo cuộc sống hiện thực bề bộn ở miền Nam trước Cách mạng
tháng Tám, với vô số không gian nghệ thuật đặc thù sinh động, và với đủ các loại
nhân vật phức tạp, đa dạng, có tính cách đặc biệt Nam Bộ và có vận mệnh không
chút giống nhau, trong vòng quay của chế độ thuộc địa Pháp trên đà khai thác và
đô thị hoá ào ạt mảnh đất miền Nam hồi nửa đầu thế kỷ trước, và trong sự va xiết
của đồng tiền” (…) “Phú Đức và Bửu Đình còn tiến xa hơn Hồ Biểu Chánh ở chỗ
câu văn hầu như đã rất ít dấu vết biền ngẫu, và chủ đề đạo lý, kết cấu chính - tà đã
có bước tha hoá khá rõ để trở thành cái kết cấu xoán quyện, đôi khi có chuyển hoá,
giữa phe chính phe tà trong các tiểu thuyết mang màu sắc trinh thám - võ hiệp của
hai ông”. Nhận xét chung, Nguyễn Huệ Chi cho rằng: “tiểu thuyết của họ nói
chung vẫn nằm lưng chừng giữa tả và kể, đường dây phát triển của tiểu
khởi đầu quan trọng ở Sài Gòn - Nam Bộ [188] đã đề cập đến chặng đường khởi
đầu của văn học Nam Bộ. Các luận điểm, đề xuất đều nhất quán ở chỗ thừa nhận
những đóng góp lớn của nền văn học này cho quá trình đổi mới văn học Việt Nam
đầu thế kỉ XX, về bước chuyển mình của văn học Nam Bộ gắn với thế hệ trí thức
Tây học với vai trò cầu nối văn hóa Đông - Tây của họ, những điều kiện góp phần
18
hình thành nên những phạm trù của nền văn học mới. Cũng trong hướng nghiên
cứu tiểu thuyết Nam Bộ, trường hợp tác giả, bài viết Phú Đức - Một mẫu hình nhà
văn Nam Bộ đặc biệt đầu thế kỉ XX [190] của Nguyễn Thị Thanh Xuân có nhiều
phát hiện lí thú về Phú Đức. Qua trường hợp Phú Đức, tác giả đã có nhiều gợi ý
trong việc tìm hiểu tình hình sáng tác, mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng,
giữa báo chí và văn học của văn học nói chung và của tiểu thuyết nói riêng. Nhân
trường hợp Phú Đức, nhà nghiên cứu đã bày tỏ niềm lạc quan đối với tương lai của
văn học nếu biết nắm bắt những kinh nghiệm của quá khứ, cụ thể qua trường hợp
Phú Đức.
Bài viết Văn học quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945 - thành tựu
và triển vọng nghiên cứu [52] của Đoàn Lê Giang có tính chất tổng kết thành tựu
và định hướng nghiên cứu văn học Nam Bộ. Về triển vọng nghiên cứu, tác giả đã
đề xuất tiếp tục triển khai một số phương diện như: văn học sử, ngôn ngữ học,
nghệ thuật học, văn hóa học, xã hội học… Những ý kiến này bổ ích cho những ai
quan tâm nghiên cứu văn học Nam Bộ.
Tiểu thuyết Nam Bộ không chỉ được các nhà nghiên cứu trong nước quan
tâm mà cả những nhà nghiên cứu ở nước ngoài như: Cao Thị Như Quỳnh và John
C. Schafer (1988): “From verse narrative to novel: The development of prose
fiction in Vietnam”, trên The Journal of Asian Studies, Vol.47, No.4; John C.
Schafer và Thế Uyên (1993): “The novel Emerges in Cochinchina”, The Journal
of Asian Studies, Vol.52, No.4 (bản lược dịch tiếng Việt bài viết này có tên Tiểu
thuyết xuất hiện ở Nam kỳ, Tạp chí Văn học, số 11-1993). Ngoài ra, nỗ lực của các
nhà nghiên cứu người Việt ở hải ngoại như Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Vy
Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Huỳnh Ái Tông, Lâm Văn Bé đã góp phần quan trọng
văn xuôi nghệ thuật quốc ngữ giai đoạn giao thời (2009) [165], xuất phát từ vị trí
và vai trò của “tả thực”, tác giả đã bàn đến dòng văn học đại chúng khởi phát ở
Nam Bộ. Tác giả cho rằng: “Một đặc điểm của văn học giao thời là sự xuất hiện
của dòng văn học đại chúng bên cạnh dòng văn học chính thống. Tính thị trường
khiến văn học đại chúng đặc biệt quan tâm tới thị hiếu độc giả. Đặc điểm này
20
không phải lúc nào cũng mang tính tiêu cực. Thị hiếu độc giả, đặc biệt là độc giả
đô thị vốn tiềm tàng sự đối lập với những quy chuẩn đạo lí phong kiến nên không
hiếm khi những tác phẩm của dòng văn học đại chúng lại xuất hiện như những gợi
ý, những kích hoạt cho tinh thần dân chủ của dòng văn học chính thống. Mặt khác,
những thành tựu của văn học chính thống cũng có những tác động trở lại đến nghệ
thuật viết văn của văn học đại chúng” [165/26].
Hướng nghiên cứu nhấn mạnh tính tiên phong và những đóng góp của tiểu
thuyết Nam Bộ còn thấy ở một số luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học đã
được bảo vệ thành công ở Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh trong những năm qua.
Theo chúng tôi, trong thực tế, sự phát triển của văn học có tính chất đại
chúng (là bộ phận hết sức quan trọng của cả Bắc lẫn Nam) đã góp phần thúc đẩy
nền văn học Việt Nam bước vào thời hiện đại.
2.4. Trong hơn một thế kỷ, công việc nghiên cứu và tiếp nhận tiểu thuyết
Nam Bộ đã có những thành tựu đáng kể. Có thể nêu ra những nét lớn sau:
- tác giả được các nhà nghiên cứu quan tâm sớm và nhiều nhất là Hồ Biểu
Chánh. Nhiều nhà nghiên cứu xem Hồ Biểu Chánh là hiện tượng nổi bật, đáng chú
ý nhất của tiểu thuyết Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX;
- các nghiên cứu cũng thống nhất ở việc xem tiểu thuyết Nam Bộ đậm chất
đạo lý, cốt truyện giản dị, thiên về kể và ngôn ngữ gần với khẩu ngữ đậm chất
vùng miền;
- các tác giả nhấn mạnh tính chất tiên phong của văn học Nam Bộ nói
chung và tiểu thuyết Nam Bộ nói riêng. Sự truyền nhập lý thuyết văn học và đặc
biệt là mĩ học tiếp nhận của phương Tây vào đời sống văn học đã giúp cho nhà