Nghiên cứu, tìm hiểu nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Nam
Cao
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nam Cao là một nhà văn lớn, nổi bật của nền văn xuôi hiện đại.
Bên cạnh truyện ngắn, Nam Cao đã viÕt nhiÒu tiÓu thuyết (tuy phần
lớn đã thất lạc bản thảo), bên cạnh Sống mòn còn có Truyện người hàng
xóm- truyện dài được đăng báo vào năm 1944. Tác phẩm Truyện người
hàng xóm còn Ýt được chú ý, nhất là những thành công về nghệ thuật.
Nam Cao víi tư cách là một nhà tiÓu thuyết vẫn còn cần được nghiên
cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn nữa.
Sống mòn là một tiểu thuyết xuất sắc, đã được khẳng định thống nhất
về phương diện thể loại. Truyện người hàng xóm là mét trong hai tác
phẩm truyện dài còn lại của Nam Cao. Nhận định về thể loại tiểu thuyết,
trong giới nghiên cứu còn có ý kiến chưa thống nhất. Để thuận lợi cho
việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự của Nam Cao trong hai tác phẩm khá dày
dặn có dấu hiệu đặc trưng của tiểu thuyết này, căn cứ vào đặc trưng thể
loại thể hiện trong tác phẩm, chúng tôi tạm xếp Truyện người hàng xóm
vào thể loại tiểu thuyết. Nghiên cứu nghệ thuật tự sù trong tiÓu thuyết
của Nam Cao chính là góp phần khẳng định vị trí xứng đáng của nhà văn
trong hàng ngũ những tiÓu thuyết gia Việt Nam giai đoạn 1940- 1945.
2. Lịch sử vấn đề
Đương thêi, các sáng tác của Nam Cao chưa được đánh giá đúng
mức. Trước Cách mạng tháng Tám, giíi phê bình chưa biÕt đến bên
cạnh mét Nam Cao- Cây bót truyện ngắn còn một Nam Cao- Cây bót
tiÓu thuyết và về phương diện thể loại tiÓu thuyết, Nam Cao cũng có
những thành công xuất sắc. Năm1956, Nguyễn Đình Thi đánh giá
Sống mòn mới bước đầu chỉ ra cách tiÕp cận hiện thực mới mẻ của
tiÓu thuyết Nam Cao. Khoảng những năm 60, Hà Minh Đức đánh giá
1
cao Sống mòn về quá trình tâm lý của nhân vật Thứ trong việc thể
tự sự trong các sáng tác của Nam Cao về nhiÒu phương diện loại hình,
thi pháp nhưng tập trung trong sự phân tích đánh giá các sáng tác của
Nam Cao nãi chung, bao gồm cả truyện ngắn.
Luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn của Hà Bình Trị đã có một
bài phân tích về những thành công của Truyện người hàng xóm nhưng
trong khuôn khổ một chương viết nên chưa phân tích thật cụ thể.
Nh vậy, nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Cao
là tiếp tục đi vào một vấn đề vẫn đang được mở ra , mét việc cần thiÕt để
khẳng định tư cách nhà tiÓu thuyết và tài năng tiÓu thuyết của Nam Cao
3. Nhiệm vụ của đề tài
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu, tìm
hiÓu nghệ thuật tự sự của tiÓu thuyết Nam Cao trên các phương diện
về cách tiÕp cận hiện thực, sự độc đáo về cốt truyện và kết thúc, nghệ
thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật, là những phương
diện chủ yếu trong nghệ thuật tự sự của một tác phẩm, cũng là những
phương diện thể hiện rõ nhất tài năng tiÓu thuyết của Nam Cao. Từ đó
khẳng định lại thành công của Nam Cao trong thể loại tiÓu thuyết, sự
đa dạng, phong phú, đặc sắc trong phong cách của Nam Cao, góp phần
khẳng định vị trí không thể thay thế của Nam Cao trong tiÕn trình
phát triÓn của tiÓu thuyết Việt Nam hiện đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp hệ thống
2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
3. Phương pháp so sánh
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn chính
được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cách tiếp cận hiện thực đời sống của Nam Cao trong
tiểu thuyết
3
vậy). Mỗi nhân vật trong tác phẩm là mét kiÓu sống mòn. Tập hợp những
kiÕp người trong Sống mòn lại ta thấy cả một thế gian nhân loại đang rên
xiÕt ngột thở, đang quằn quại trong một cuộc đời mòn ra, rỉ ra, mốc lên, tù
đọng, giÉm chân tại chỗ, bế tắc không lối thoát. Truyện ngưêi hàng xóm
xoay quanh cuộc đời một số nhân vật ở một xóm ngoại ô nghèo lại có cái
5
tên khá thơ mộng “xóm Bài Thơ”, xoay quanh những lặt vặt thường ngày,
những va chạm hết sức nhỏ nhặt của lũ trẻ con, những tính toán, ghen
tuông, đố kỵ vặt vãnh dẫn đến va chạm của những người lớn. Nhưng đằng
sau những mảnh đời tư Êy, ta vẫn nh thấy những vấn đề lớn lao của cuộc
đời sống thế sự . Đấy là những cuộc đời lầm than, mái mòn không lối
thoát. Tất cả cho thấy một xã hội thuộc địa quằn quại trong bế tắc.
2. Từ những cái xoàng xĩnh, tầm thường mà đề cập đến những vấn
đề lớn lao của đời sống con người
Xu hướng viÕt về phong tục nông thôn là xu hướng chung của nhiều
tác phẩm giai đoạn 1940-1945 do ảnh hưởng của những yếu tố khách quan
xã hội với những tiÓu thuyết Quê người của Tô Hoài, Ngoại ô của Nguyễn
Đình Lạp, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư
Song cùng phản ánh hiện thực đời sống theo hướng đời tư, thế sự,
nhưng ngòi bót Nam Cao lại hướng tới khuynh hướng triÕt lý hoá, khái
quát hoá. Những cái hàng ngày trong sáng tác của Nam Cao bên cạnh phản
ánh một đời sống hiện thực tăm tèi, ngột ngạt còn vươn tới bề sâu bề xa
những triÕt lý nhân sinh quan về đời sống con người, những trăn trở,
những câu hỏi thậm chí còn bỏ ngỏ.
Nhà văn không đóng vai trò chỉ là người kể lại một câu chuyện nữa
mà còn nh một người nêu ra vấn đề, đặt ra một vấn đề để cùng đối thoại víi
người đọc. Cái gánh nặng Sống mòn đâu phải chỉ là vấn đề của thời đại
Nam Cao và đến bây giờ đâu phải đã hết. Cuộc vận lộn giữa cái tôi cá
nhân Ých kỉ, ham thích phàm tục với sự vươn lên, hoàn thiện chính mình,
sống đúng với nhân cách con người là cuộc vật lộn muôn đời. Sù ham
dồn nén, tãi ra chứ không bó chặt tập trung chặt chẽ như tiÓu thuyết
truyền thống. TiÓu thuyết Sống mòn hầu như không có biÕn cố sự kiện gì
lớn. Toàn bộ tác phẩm từ đầu chí cuối chỉ xoay quanh những vặt vãnh, tẹp
nhẹp diÔn ra trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi con người là một mảnh đời
tư dẫu kết hợp tất cả lại, ta có một bức tranh hiện thực đời sống đang “mốc
lên, mòn ra, rỉ đi”, đang sống mà như chết, giữa các nhân vật hầu như
không có một va chạm nào lớn hay một sù kiện làm thay đổi số phận của
họ. Cuối truyện míi có một biÕn cố xuất hiện: cuộc chiÕn tranh thế giíi
thứ hai, nhưng vừa míi thấp thoáng hiện ra thì cuốn tiÓu thuyết lại đã vội
vàng khép lại.
Cốt truyện Truyện người hàng xóm có nhiÒu sù kiện hơn nhưng lại
được tãi ra chứ không dồn dập tập trung, cũng không rõ được đâu là sự
kiện chính, đâu là sự kiện phô. Cả tác phẩm hầu như không có sự kiện nào
lớn trừ sù kiện cậu bé HiÒn đến ở nhà ông giáo Toản. HiÒn chuyÓn ra
ngoài, tách rời khái xóm Bài Thơ, nhưng cuộc sống của cậu bé vẫn thế.
Cuối tác phẩm, Nam Cao chỉ còn chú ý tíi Léc, HiÒn và TiÒn, một chút
tới cô Viên, Đạc, ông Ngã. Còn những nhân vật khác dường như bị bỏ
lửng. Nhà văn không nhằm kể một câu chuyện gây cấn kịch tính có đầu có
cuối mà nhằm khắc hoạ những kiÕp sống mù xám, quẩn quanh, bế tắc
trong một xã hội đen tối, thiÕu điÒu kiện cho một cuộc sống trong lành.
Trong sáng tác của Nam Cao, cốt truyện được xây dựng dựa trên cơ
sở miêu tả những cuộc đấu tranh néi tâm của nhân vật. Các sù kiện trong
tiÓu thuyết chỉ như một nguyên nhân, một nguồn gốc, một cái cớ cho
những dòng chảy miên man của cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của nhân
vật. Sự vận động của cốt truyện chủ yếu là sự vận động của nội tâm nhân
8
vật. Cái bị thay đổi không phải là cuộc đời nhân vật, mèi quan hệ giữa các
nhân vật mà chủ yếu là trạng thái tâm lý của nhân vật.
Nam Cao thể hiện cuộc sống chân thật, khách quan đúng như nó tồn
tại: đầy những điÒu vặt vãnh tẹp nhẹp nhưng nó bủa vây, nó bào mòn con
phẩm thấm đến từng bộ phận nhỏ, từ những mảnh đời thường, xoàng xĩnh
mà nói lên những vấn đề lớn lao của thời đại.
Bên cạnh kết cấu lắp ghép nhiÒu số phận, mảnh đời, nhà văn còn
lồng ghép nhiÒu vấn đề của mỗi cá nhân nhưng lại có âm vang của hiện
thực đời sống, những mâu thuẫn giữa ước mơ và hiện thực, giữa khát khao
vươn lên sống có ý nghĩa, sống có Ých víi những dục vọng phàm tục, thấp
hèn, giữa một chủ nghĩa nhân đạo, sâu sắc, thÊm thía víi lèi sống nhỏ
nhen, Ých kỷ, hẹp hòi… Trong Truyện người hàng xóm, Nam Cao chó ý
sắp đặt cạnh nhau những mối quan hệ: Người lớn với người lớn, người lớn
với trẻ con, trẻ con víi trẻ con… tạo nên cho tiÓu thuyết của Nam Cao tính
chất đa tầng nghĩa, tạo kiÓu kết cấu tưởng như kết cấu phóng túng, lỏng
lẻo nhưng kỳ thực hết sức chặt chẽ, thống nhất.
Tiểu thuyết của Nam còn sử dụng lối kết cấu mở. Sống mòn khÐp
lại nhưng cuộc đời mòn mỏi, bế tắc, chết mòn về tinh thần của tất cả các
nhân vật vẫn còn. Bi kịch tinh thần vẫn tiếp tục dai dẳng thậm chí còn đau
đớn hơn
Truyện người hàng xóm kết thúc bằng cái chết của Hiền. TiÒn, Lộc
đến với nhau, cái kết thúc có vẻ như có hậu nhưngchẳng có câu trả lời nào
cho tương lai của họ. Chính lối kết cấu mở này đã giúp vấn đề mà nhà văn
đề cập tới trong tác phẩm trở nên gay gắt, gây Ên tượng mạnh mẽ, sâu
đậm, bức thiết con người phải có hành động giải phóng.
2.2. Kết cấu trong tiÓu thuyết Sống mòn
Lựa chọn khắc hoạ nhân vật từ đời sống nội tâm bên trong, Nam
Cao lựa chọn kiÓu kết cấu tâm lý,có cảm giác thế giíi nghệ thuật hết sức
tản mạn, tuỳ tiện, bởi luôn hướng theo logic tâm lý của nhân vật. Chuyện
nọ gọi ra chuyện kia, cảnh này gắn cảnh nọ liên miên diÔn ra trong trí óc
Thứ. Nếu có mét sù việc nào đó chen vào thì lại tạo cơ hội cho hàng loạt
những suy nghĩ miên man, những đấu tranh, dằn vặt, những phán xét mình
10
và mọi người khác của Thứ. Chuyển cảnh diÔn ra liên tục, các bình diện
mèi quan hệ với hoàn cảnh, khám phá tác động của hoàn cảnh lên con
người. Song quan niệm nghệ thuật về con người ở mỗi nhà văn hiện thực
lại có những biÓu hiện phong phú khác nhau.Nguyễn Công Hoan nhìn con
người bị tha hoá.Ngô Tất Tố nhìn con người ở khía cạnh đạo đức. Khắc
hoạ bức tranh hiện thực đời sống khắc nghiệt, nhưng ngòi bút xây dựng
nhân vật chính diện của Ngô Tất Tố Ýt nhiều có màu sắc lí tưởng hoá.
Nhân vật trong các sáng tác của Nam Cao không chia thành tuyến.
Nam Cao phát hiện ra các bề sâu, bề xa của hiện thực qua phân tích tâm lý
nhân vật, có một cái nhìn về con người và cuộc sống hiện thực nghiêm
ngặt, tỉnh táo. Phần lớn nhân vật trong các sáng tác của Nam Cao đều
không hoàn hảo, lý tưởng. Con người trong tác phẩm của ông vừa có mặt
đáng thương, đáng thông cảm, đáng trân trọng, vừa có mặt đáng trách.
Nam Cao khắc hoạ con người thật như chính cuộc sống, xác định cho
mình một "đôi mắt", một cách nhìn con người luôn “cố tìm mà hiÓu”.
Các sáng tác của Nam Cao cho thấy rõ, quan niệm nghệ thuật của
nhà văn về con người, đó là con người tâm lý và con người bị tha hoá, con
người dị dạng nhưng vẫn giữ tính cách, phẩm chất người.Quan niệm nghệ
thuật về con người của Nam Cao vừa tiếp thu kiểu con người xã hội, con
người là sản phẩm của hoàn cảnh của văn học hiện thực, vừa tiếp thu kiểu
con người tâm lí, con người cảm giác vốn là thế mạnh, là thành tựu của
văn học lãng mạn.
2. Đến các thủ pháp xây dựng nhân vật
2.1. Khắc họa nhân vật từ đời sống nội tâm
KiÓu nhân vật của văn học hiện thực con người đời thường, con
người của đời sống hiện thực, không tô vẽ, không cường điệu hoá.Khác
với các tiÓu thuyết trước Nam Cao, trong hầu hết các sáng tác của Nam
12
Cao ta đều nhận thấy nhân vật của Nam Cao được khắc hoạ chủ yếu từ đời
sống nội tâm. Từ những toan tính lo âu những dằn vặt khổ đau, chiêm
nghiệm hay triÕt lý của nhân vật mà ta nhìn ra bản chất của người Êy cao
Câm. Vẻ bề ngoài “có vẻ ngây ngô và dữ tợn” nhưng tâm hồn lại là một
con người chân chính, một đời sống nội tâm phong phú với những phẩm
chất cao thượng hiÕm thấy.Đặc biệt nhà văn đã chú ý phát hiện khơi sâu
và đã thấm thía mốt tình câm lặng của con người tàn tật Êy.
2.2. Miêu tả thiên nhiên, ngoại cảnh thể hiện néi tâm nhân vật
Nam Cao Ýt miêu tả thiên nhiên. Phong cảnh thiên nhiên thường
được nhìn nhận qua lăng kính tâm hồn nhân vật, trở thành phương tiện để
nhà văn thể hiện trạng thái tâm lý nhân vật. Đọc Sống mòn, người đọc bị
ám ảnh mãi bởi những không gian úa tàn được cảm nhận qua tâm hồn
đang chết mòn của Thứ. Víi ngòi bút đi sâu miêu tả kỹ lưỡng tinh tế mọi
ngóc ngách của đời sống tâm hồn con người, coi tâm trạng con người có ý
nghĩa thực sự to lớn, thiên nhiên trong tiÓu thuyết của Nam Cao luôn gắn
với dông ý khắc hoạ chiÒu sâu nội tâm nhân vật. Không những thế thiên
nhiên gắn với cái nhìn của nhà văn về cuộc sống, khắc hoạ những số phận
lay lắt, những kiÕp sống lầm than mòn mỏi. Trong Truyện người hàng
xóm, Nam Cao hay chó ý đến hình ảnh của ánh sáng: những cái bóng đèn
điện những ngọn đèn hoa kỳ hay búp măng cũng như những kiÕp người
tăm tối.
Cùng mét thiên nhiên, một cảnh vật nhưng trong ngòi bót Nam Cao,
nó được cảm nhận khác nhau khi con người có những tâm trạng khác nhau
tuỳ thuộc vào tâm trạng, tính khí của mỗi người. Trong nhiÒu trường hợp
để làm nổi bật nỗi u ám , nỗi khổ đau nỗi dằn vặt hay bấn loạn của nhân
vật, Nam Cao xây dựng một khung cảnh tương phản. Thiên nhiên trong
tiÓu thuyết Nam Cao Ýt xuất hiện, nhưng mỗi lần xuất hiện luôn mang
theo cả hồn người trong đó.
2.3. Miêu tả ngoại hình thể hiện néi tâm nhân vật
Ngoại hình nhân vật là một phương diện được các nhà văn luôn quan
tâm đến bởi ngoại hình nhân vật cũng béc lé đời sống nội tâm của nhân
vật, tính cách của nhân vật. Nam Cao thường đi vào hai cách: Miêu tả chi
14
15
gai gai trong người y như người ta đang bị chạm nọc” (Nguyễn Minh
Châu).
Đây cũng là cách để con người phải tự nhìn lại mình, quay lại víi
phần lương tâm, nhân cách của mình. Văn Nam Cao thường làm cho
người ta mệt là vì thế. Người lười nghĩ chắc chắn sẽ không phải là người
thích đọc văn Nam Cao. Ở nhân vật tật nguyền không thể nói năng, Nam
Cao không dùng nhiÒu đến lối độc thoại néi tâm quen thuộc mà khắc hoạ
chủ yếu bằng hành động, nét mặt, lời kể của nhà văn, đặc biệt là miêu tả
nước mắt của nhân vật. Víi nhân vật này, Nam Cao còn dùng hình ảnh đôi
mắt để diÔn tả những phức tạp, nỗi dằn vặt, những yêu thương và đau đớn,
cay đắng tuyệt vọng trong tâm trạng nhân vật.
Đặc biệt néi tâm nhân vật trong tiÓu thuyết của Nam Cao được miêu
tả là cả một quá trình đấu tranh, chuyển hoá lẫn nhau của những mâu
thuẫn, những mặt đối lập trong thế giíi của mỗi con người. Víi Nam Cao,
phân tích tâm lý nhân vật không tách rời phân tích đời sống xã hội nãi
chung. Thế giíi bên trong của nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao có
liên quan mật thiÕt đến xã hội bên ngoài, là một phương tiện quan trọng
để Nam Cao thể hiện thực trạng đời sống xã hội đó.
Ngòi bút phân tích tâm lý sắc sảo của Nam Cao vừa cho thấy mối
cảm thông đồng cảm vô cùng của một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, vừa cho
thấy một cảm quan hiện thực cực kỳ sắc bén.
Chương 4
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
Thành công của một tác phẩm có sự phụ thuộc đang kể vào nghệ
thuật trần thuật của tác giả.
TiÓu thuyết của Nam Cao có sự hấp dẫn với người đọc không phải
chỉ ở các phương diện néi dung tư tưởng mà còn ở một nghệ thuật kể
chuyện cuốn hút.
1. Quan điÓm trần thuật
ngôi thứ ba: hắn, y, thị…tạo nên tính chất đa thanh trong tác phẩm. Trần
thuật theo quan điÓm nhân vật gióp Nam Cao có một khả năng to lớn
17
trong tái hiện đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của nhân vật, làm cho
nhân vật và hiện thực được phản ánh có bề sâu, bề xa, từ chính những
điÒu nho nhỏ mà rót ra những bài học đạo đức, luân lý, những ý nghĩa sâu
sắc. Cách kể chuyện theo quan điÓm trần thuật của nhân vật tạo nên trong
tiÓu thuyết của Nam Cao ngôn ngữ nửa trực tiÕp độc đáo, có sức hút
riêng, kÐo gần khoảng cách giữa người đọc và nhân vật. Trần thuật theo
quan điÓm nhân vật chiÕm vị trí lớn trong các sáng tác của Nam Cao.
Sức hấp dẫn trong nghệ thuật trần thuật của Nam Cao còn ở chỗ nhà
văn không bao giờ chỉ dùng một điÓm nhìn trần thuật. Ông luôn có sự
phối hợp luân phiên, chuyển dịch nhiÒu quan điÓm trần thuật khác nhau,
tạo nên tính chất linh hoạt, uyển chuyển trong nghệ thuật dẫn chuyện. Lúc
ban đầu truyện được kể từ quan điÓm trần thuật khách quan, từ cái nhìn
bên ngoài thì đến một lúc nào đó lời kể chuyển dịch thành quan điÓm của
nhân vật và từ quan điÓm của nhân vật này chuyển sang quan điÓm của
nhân vật khác. Sự chuyển dịch này rất linh hoạt, uyển chuyển, tự nhiên
khó thấy. Người đọc thường không nhận ra sù thay đổi này, chỉ biÕt luôn
bị hút vào dòng tâm tư hay mạch cảm xúc, trạng thái tâm lý của nhân vật
từ lúc nào chẳng rõ. Và đó cũng chính là một thành công xuất sắc trong
nghệ thuật trần thuật của Nam Cao.
2. Nhịp điệu trần thuật
Nhịp điệu trần thuật chính là cách cảm, cách đánh giá của nhà văn về
sự vận động của cuộc sống, của hiện thực được miêu tả trong tác phẩm.
Trong Tắt đèn, để xây dựng không khí nóng bỏng của những ngày cuối
cùng trong vụ thuế ở làng Đông Xá, Ngô Tất Tố trần thuật bằng một nhịp
điệu nhanh, căng thẳng, gấp gáp.Trong Giông tè của Vũ Trọng Phụng,
nhịp điệu trần thuật nói chung cũng là gấp gáp, nhanh chóng, miêu tả một
xã hội đảo điên, thằng hoá ông, ông hoá thằng, hàng loạt những nghịch lý,
vỡ nổi nhịp điệu chủ yếu trong tiÓu thuyết của ông là chậm rãi, thong thả,
theo một cảm giác về cuộc sống trì trệ, nặng nề.
Đó là một cuộc sống đều đều, mòn mỏi, chậm chạp, quánh đặc trong
trì trệ, nặng nề nh cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của những kiÕp lầm than,
của những kiÕp sống mòn, chết ngay khi đang sống.
19
Với mét quan điểm trần thuật độc đáo, linh hoạt, kết hợp với một nhịp
điệu trần thuật chậm rãi, đó chính là một trong những sáng tạo mới mẻ,
một lối kể chuyện mới mẻ của nhà văn, đóng góp vào sự phát triển của văn
xuôi Việt Nam hiện đại.
20
PHẦN KẾT LUẬN
Nam Cao thực sự là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại.
Mỗi trang văn của nhà văn đều lấp lánh sự sáng tạo mà trong đó
người đọc không chỉ tìm thấy những mới mẻ về nội dung tư tưởng mà
còn thấy một lối văn thực sự độc đáo, hấp dẫn. Nhiều sáng tác của nhà
văn xứng đáng được xếp vào hàng những kiệt tác của văn học Việt
Nam hiện đại.
Nam Cao đã tự tìm cho mình một hướng tiếp cận hiện thực mới
mẻ có chiều sâu hiếm thấy. Phải có một cảm quan hiện thực sắc sảo,
một tầm tư tưởng lớn đến một mức độ nào đó, nhà văn mới có thể bắt
những cái hàng ngày nói lên những ý nghĩa sâu sắc về con người và
cuộc sống. Tiểu thuyết của Nam Cao đã thoát khỏi tính chất sử thi,
tràn đầy những sự việc vặt vãnh mà như nhà văn tự gọi là "những
chuyện không muốn viết". Nhưng những vặt vãnh trong tiểu thuyết
của Nam Cao là những vặt vãnh có chọn lọc kĩ lưỡng, có dụng công
nghệ thuật trong đó. Đồng thời khai thác đời sống hiện thực từ đời
sống tinh thần của nó, nhà văn cũng đã chạm đến những vấn đề lớn có
tính chất nhân loại, nhiều khi vượt ra ngoài phạm vi hạn hẹp của một
thời, một xã hội cụ thể.
Cao, chóng ta thêm một lần nữa khẳng định về tài năng xuất sắc của
nhà văn, thêm một lần được cùng nhà văn trăn trở với những buồn vui
của cuộc đời, để cùng chia sẻ và đồng cảm, để mà sống cho có ý nghĩa
hơn, sống xứng đáng với cuộc sống con người.
22