1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƯỚC” (TRƯỜNG CA
“MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG” - NGUYỄN KHOA ĐIỀM)
TỪ HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
5. Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau
8
6. Cấu trúc luận văn
8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TRI THỨC VĂN HOÁ TRONG
TRƢỜNG CA “MẶT ĐƢỜNG KHÁT VỌNG”
9
1.1. Vài nét về văn hoá
9
1.1.1. Khái niệm văn hoá
9
1.1.2. Đặc trưng văn hoá
13
1.1.3. Chức năng của văn hoá
14
1.1.4.Văn hoá phản ánh và lưu giữ bản sắc dân tộc ở mọi thời đại
14
1.2. Mối quan hệ giữa văn học và văn hoá
15
1.2.1. Văn học là nơi lưu giữ, phản ánh và sáng tạo ra văn hoá
15
1.2.2. Tri thức văn hoá là chìa khoá để hiểu các giá trị tác phẩm văn học
16
1.2.3. Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hoá
17
1.3. Biểu hiện của tri thức văn hoá trong trường ca “Mặt đường khát
vọng” và đoạn trích “Đất nước”
19
60
2.3.1. Bổ sung tri thức văn hoá về “đất nước” cho học sinh
60
2.3.2. Các phương pháp, biện pháp thích hợp dạy học đoạn trích “Đất
nước” theo hướng tiếp cận văn hoá
64
Chƣơng 3: THIẾT KẾ VÀ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC ĐOẠN
TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM THEO
HƢỚNG TIẾP CẬN VĂN HOÁ 77
3.1. Thiết kế đoạn trích “Đất nước” theo hướng tiếp cận văn hoá
77
3.1.1. Mục tiêu bài học
77
3.1.2. Chuẩn bị
77
3.1.3. Phương pháp
78
3.1.4. Thiết kế bài học
78
3.1.5. Thuyết minh giáo án thực nghiệm
112
3.2. Thực nghiệm sư phạm
114
3.2.1. Tổ chức thực nghiệm
114
3.2.2. Kết quả thực nghiệm
phẩm văn chương sẽ có một kĩ năng tiếp xúc, cảm nhận, hiểu nội dung văn
học một cách thấu đáo, toàn diện, sâu sắc, thú vị hơn.
1.2. Xuất phát từ mục tiêu của việc dạy học văn trong nhà trường
Đất nước đang đứng trước xu thế hội nhập toàn cầu trên mọi lĩnh vực:
kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá và giáo dục không phải là một thành phần
ngoại lệ. Vì vậy để làm thế nào cho ngành giáo dục cũng phù hợp và bắt nhịp
được xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập và theo kịp các nước có nền giáo dục tiên
tiến? Chính vì thế mà trong nhiều năm gần đây giáo dục đã có nhiều cuộc đổi
mới, cách tân về phương pháp, cách thức, nội dung của dạy và học. Dạy và
học văn trong nhà trường cũng thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của thực
tiễn. Trong cuốn “Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn” do Nhà 2
xuất bản Giáo dục ban hành đã chỉ rõ: “Môn Ngữ văn cung cấp cho học sinh
những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ
(trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là phần văn học Việt Nam),
phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Môn Ngữ văn hình
thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn
học, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập, tư duy, đặc biệt là phương pháp
tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Môn Ngữ văn
bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá, tình yêu gia
đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc; ý thức tự lập, tự cường, lí
tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn; giáo dục cho học sinh
trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng
và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại”.
Như vậy, việc dạy và học môn Ngữ văn không chỉ đơn thuần cung cấp,
trang bị cho học sinh kiến thức về văn học mà bên cạnh đó cần bổ sung cho
các em các kiến thức liên ngành khác trong đó có kiến thức về văn hoá để phù
tiếng vang cho tên tuổi Nguyễn Khoa Điềm. Năm 1975, Nguyễn Văn Long có
bài viết “Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng” in trên Tạp chí Văn
nghệ Quân đội. Ở bài viết này, tác giả đã lí giải nội dung của tập thơ và phân
tích con đường đi theo cách mạng của tuổi trẻ Miền Nam nói chung của
Nguyễn Khoa Điềm nói riêng. Tác giả bài viết cho rằng: “Có thể thấy những
dấu ấn rõ rệt của một vốn văn hoá nhà trường và sách vở, một ảnh hưởng của
cách suy tưởng cả bài “Mặt đường khát vọng”có được sức rung động, âm
vang chính là tác giả thực sự sống với cảm xúc của mình” [47, tr 136]. Cả tập
thơ là sự tìm tòi, khám phá, suy nghĩ, trải nghiệm của Nguyễn Khoa Điềm về
quê hương, đất nước.
Năm 1976, Tôn Phương Lan đã khẳng định tiềm năng của nhà thơ trẻ
Nguyễn Khoa Điềm qua bài giới thiệu “Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có
nhiều triển vọng”, bài viết có cái nhìn bao quát về “Mặt đường khát vọng”. 4
Tác giả đã nhận thấy một phong cách rất riêng của Nguyễn Khoa Điềm giữa
các gương mặt trẻ khác của thế giới thơ ca thời đó. Tác giả khẳng định “Một
phong cách Nguyễn Khoa Điềm khá rõ. Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy
nghĩ và diễn đạt có âm hưởng rất riêng”.
Năm 1985, Nguyễn Xuân Nam tìm hiểu về phong cách Nguyễn Khoa
Điềm trong “Mặt đường khát vọng” với bài viết “Mặt đường khát vọng của
Nguyễn Khoa Điềm”. Trong bài viết tác giả nhấn mạnh điểm nổi bật của
Nguyễn Khoa Điềm “Không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhưng có sức liên
tưởng mạnh” và đặc biệt thơ Nguyễn Khoa Điềm “Có được cái nhìn vừa phân
tích vừa khái quát” [41, Tr 106-109] là một điều cần thiết cho thơ ca.
Tôn Phương Lan, Vũ Văn Sĩ, Vũ Tuấn Anh đều đánh giá cao tài năng
Nguyễn Khoa Điềm, cho rằng “Mặt đường khát vọng” đã góp một phong cách
mới, đi sâu vào khía cạnh nội dung lịch sử - dân tộc, thời đại, triết lí - trữ tình,
thể hiện nét tinh tế, tài hoa. Lối diễn đạt giàu sức khái quát hiện thực, suy tưởng
luôn gần gũi, gắn bó với mỗi gia đình. Tác giả cũng khẳng định “giúp người
đọc cảm nhận được đất nước sâu sắc và mới mẻ nhưng lại rất bình dị: đất
nước- văn hoá – con người” [15, Tr. 236].
Khi nghiên cứu về “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Văn
Long chỉ ra cái đặc sắc, độc đáo của đoạn trích là cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp
để làm nổi bật tư tưởng “Đất nước của nhân dân”. Tác giả thấy chủ đề đất
nước được thể hiện trên ba bình diện:
- Chiều dài thời gian lịch sử: quá khứ - hiện tại – tương lai.
- Chiều rộng không gian địa lí.
- Chiều sâu văn hoá phong tục, lối sống, tâm hồn và tích cách dân tộc.
Trong cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam” Trần Đăng Xuyền có bài
nghiên cứu về đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Trong bài viết
tác giả cũng khẳng định chiều sâu của thi tứ, cảm hứng của mỗi phần bám
chắc vào tư tưởng cốt lõi: Đất nước của Nhân dân. Đặc biệt, tác giả nhấn
mạnh cả chương thơ như được bao bọc bởi không khí văn hoá dân gian: “ 6
Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rộng rãi và linh hoạt các chất liệu của văn hoá
dân gian, từ ca dao tục ngữ, đến truyền thuyết, cổ tích, từ phong tục tập quán
đến thói quen sinh hoạt” [47, Tr. 128]. Để từ đó tác giả cũng định hướng phân
tích hình tượng đất nước thì phải đặt trong những truyền thống, lịch sử, văn
hoá, phong tục ngàn đời của dân tộc.
Năm 2000, Chu Văn Sơn trong bài phê bình chương “Đất nước” của
Nguyễn Khoa Điềm lại đi sâu vào khẳng định tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm
là tư duy trữ tình - triết luận. Sự hoà hợp, đan quyện giữa hai tư duy này hình
thành nên một phong cách thơ rất riêng của Nguyễn Khoa Điềm: “Nét chủ
đạo trong tư duy triết luận trữ tình là đào sâu vào cái bản chất của sự vật dưới
dạng những biểu tượng thi ca sống động. Tư duy ấy chuyển động dựa trên
mạch lôgic biện chứng với những mối liên hệ bất ngờ kì thú”.[50, Tr. 11]
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là đề ra phương hướng tiếp cận văn hoá khi
đọc hiểu đoạn trích “ Đất nước” để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc
giảng dạy.
Đề tài giải quyết các vấn đề sau:
* Nghiên cứu mối liên hệ giữa văn học và văn hoá.
* Tìm hiểu thực trạng giảng dạy và học tập đoạn trích “Đất nước” trong nhà
trường phổ thông.
* Tìm ra biểu hiện của tri thức văn hoá trong tác phẩm, cụ thể ở đoạn trích
“Đất nước”, luận văn chỉ lựa chọn những biểu hiện văn hoá trong trường ca
“Mặt đường khát vọng” cần thiết, có ý nghĩa cho việc giảng dạy đoạn trích.
* Tìm ra phương hướng, biện pháp cụ thể để vận dụng tri thức văn hoá vào
hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Đất nước”.
* Thiết kế giáo án thực nghiệm cho đoạn trích “Đất nước”, trong đó vận
dụng những phương pháp, biện pháp cách thức vận dụng tri thức văn hoá.
8
4. Đối tƣợng nghiên cứu
* Trường ca “Mặt đường khát vọng” và chương thơ “Đất nước”.
* Các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khoa
Điềm.
* Thực trạng dạy và học chương thơ “Đất nước” trong nhà trường phổ thông.
5. Để hoàn thành luận văn, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp sau
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thực nghiệm.
- Phương pháp so sánh loại hình.
- Phương pháp tiếp cận văn hoá.
- Các thao tác phân tích, tổng hợp, xử lí thông tin.
6. Cấu trúc luận văn
nếu như cuộc đời con người có các thời kì phát triển khác nhau thì mỗi dân
tộc cũng phát triển qua các thời đại không giống nhau về văn hoá. Ông coi
văn hoá như một phức thể, trong đó bao gồm cả kinh tế, chính trị, khoa học và
nghệ thuật.
Cũng ở giai đoạn này, P. Voltaire (1694- 1778) – nhà văn, nhà triết học,
nhà sử học đã nhắc tới văn hoá khi bàn về sự phát triển của khoa học, nghệ
thuật, đạo đức Ông tán thành ý kiến cho rằng lịch sử thực sự của loài người
là lịch sử xã hội, lịch sử văn hoá, chứ không phải lịch sử của các vương triều.
Đến I.G.Herder (1744- 1803)- nhà triết học khai sáng, nhà văn, nhà
nghiên cứu văn học Đức- thì thuật ngữ văn hoá được sử dụng rộng rãi. Ông
gọi văn hoá là quá trình hình thành con người, là sự nắm bắt và sử dụng kinh
nghiệm, truyền thống, cho nên cần phải gắn văn hoá với việc giáo dục tính
nhân văn và lối sống của dân tộc. 10
Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc, người Trung Quốc đã dùng từ văn hoá
để dịch từ “culture” theo nghĩa gốc là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra. Văn có nghĩa
là hình thức đẹp đẽ trong lễ, nhạc, trong cách cai trị trong ngôn ngữ cũng như
trong cách cư xử lịch sự Còn “văn hoá” để dịch chữ culture là theo cái nghĩa
“trình độ phát triển lịch sử của xã hội và con người biểu hiện trong các kiểu
và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như
trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra” [20, Tr. 7].
Nhưng trước đó rất lâu, từ thế kỉ I trước Công nguyên, ở Trung Quốc,
Lưu Hướng (đời Hán đã quan niệm văn hoá là văn trị và giáo hoá hay “giáo
hoá bằng văn”.
Cho đến nay, chưa ai nói rõ khái niệm văn hoá được du nhập từ Trung Quốc
vào Việt Nam từ bao giờ, có thể là cuối thế kỉ XIV, hay đầu thế kỉ XX? Chỉ biết
rằng, trước cái thời điểm này từ rất lâu cha ông ta đã dùng khái niệm văn hiến và
văn vật ( như “Nước Việt Nam nghìn năm văn hiến” hay “ Hà Nội - Thăng Long
người nơi đó có văn hoá”.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt
Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB văn hoá
Thông tin, xuất bản 1998 thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh thần do
con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và
Trung tâm Từ điển học, 2004 đưa ra một loạt quan niệm về văn hoá:
- Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
- Văn hoá là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát).
- Văn hoá là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống
tinh thần (nói tổng quát).
- Văn hoá là trình độ trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. 12
- Văn hoá là một cụm từ để chỉ một nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ
xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm
giống nhau,ví dụ: Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn
Từ những năm 70, 80 của thế kỉ XX Unesco đã có nhiều cuộc họp bàn về
văn hoá dưới sự chủ trì của Liên hợp quốc, qua đó có nhiều định nghĩa văn
hoá được đề xuất, có những định nghĩa được thừa nhận một cách rộng rãi,
được coi như là sự thể hiện quan niệm văn hoá của thế giới:
“Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc
khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục,
tập quán, lối sống và lao động” [49, Tr. 15].
“Văn hoá là năng lực và thành quả sáng tạo mà nhân loại đã đạt được
trong quá trình hoạt động thực tiễn trong xã hội Văn hoá hiểu theo nghĩa
rộng bao quát năng lực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần của nhân loại
cùng toàn bộ sản phẩm vật chất và tinh thần được làm ra. Văn hoá hiểu theo
hoá đó luôn mang dấu ấn của con người qua mọi thời đại. Nó biểu hiện cho
tài năng, tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn phong phú của con người. nó trở
thành sợi dây vô hình gắn kết con người trong mọi thời đại.
Văn hoá có tính giá trị, là thước đo độ nhân bản của xã hội loài người.
Tính giá trị phân theo mục đích có: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị
vật chất là của cải vật chất phục vụ nhu cầu sinh tồn của con người. Giá trị
tinh thần là những gì phục vụ cho thế giới tinh thần của con người. Tính giá
trị phân theo ý nghĩa có: giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ. Tính
giá trị phân theo thời gian: giá trị vật chất và giá trị vĩnh cửu. Ngoài ra tính
giá trị được phân biệt với tính phi giá trị. Tuy nhiên trong văn hoá không tồn
tại tính phi giá trị.
Văn hoá mang tính lịch sử. Văn hoá là sản phẩm được tạo ra trong suốt
chiều dài lịch sử. Nó được duy trì và liên thông từ đời này sang đời khác tạo
thành những truyền thống văn hoá của một dân tộc. 14
Văn hoá mang tính hệ thống. Tính hệ thống của nó chỉ ra mối quan hệ
mật thiết, gắn bó giữa các hiện tượng, sự kiện về một nền văn hoá cụ thể. Văn
hoá có mặt trong toàn bộ đời sống của con người gồm đời sống vật chất và
đời sống tinh thần (ngôn ngữ, đạo đức ). Vì lẽ đó mà tất cả các mặt của cuộc
sống trong một giai đoạn lịch sử cụ thể đều có mối liên hệ mật thiết, giằng
buộc lẫn nhau không thể tách rời tạo nên khái niệm văn hoá hay một nền văn
hoá nào đó.
Tóm lại, ngoài những đặc trưng cơ bản của văn hoá cũng cần lưu ý một
số thuộc tính cố hữu của nó như: tính phổ quát, tính vận động, tính thời đại,
tính khu vực, tính dân tộc và tính giai cấp.
1.1.3. Chức năng của văn hoá
Văn hoá có ba chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, văn hoá có chức năng điều chỉnh xã hội. Văn hoá giúp duy trì
1.2. Mối quan hệ giữa văn học và văn hoá
1.2.1. Văn học là nơi lưu giữ, phản ánh và sáng tạo ra văn hoá
Văn hoá là tổng thể các giá trị do con người sáng tạo ra, trước hết là
những giá trị tinh thần. Trong đó văn học là một thành tố rất quan trọng của
văn hoá. Văn hoá phản ánh sự hình thành, phát triển của văn hoá trong mọi
mặt của đời sống xã hội.
Văn học là công cụ chuyển tải văn hoá và lưu giữ bóng dáng của con
người qua mọi thời đại. Các phong tục tập quán, các truyền thống văn hoá,
các lối sống ứng xử của con người được phản ánh trong văn học đều trở nên
đẹp và có giá trị hơn. Văn học giúp cho những giá trị văn hoá đến với đời
sống sinh hoạt của con người được dễ dàng tiếp nhận và phát triển hơn. Bởi
lẽ, đôi khi có những giá trị văn hoá còn tiềm ẩn, mơ hồ với con người mà
thông qua văn học nó mới được hiểu sâu sắc và đầy đủ.
Văn học không chỉ lưu giữ, truyền đạt, phản ánh văn hoá thời đại mà còn
góp phần sáng tạo ra văn hoá cho thời đại. Nếu không có văn học thì văn hoá
không được phát triển rộng rãi và lâu bền. Văn học là mảnh đất màu mỡ, giàu 16
tiềm năng để văn hoá gieo hạt, nẩy mầm, vun trồng để cho giá trị văn hoá mỗi
ngày trở nên đẹp hơn, hoàn thiện và giàu sức sống hơn.
Văn hoá bao giờ cũng là yếu tố có trước, là những nét đặc trưng về
truyền thống dân tộc. Văn học lưu giữ văn hoá tức là văn học giữ chức năng
bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc để nó không bị mất
mát, sai lệch. Nhưng đồng thời văn học còn sáng tạo ra văn hoá. Tức là, thông
qua văn học, văn hoá khẳng định được giá trị của mình và như vậy văn học
góp phần đem những giá trị văn hoá đó đến với đông đảo quần chúng nhân
dân để giúp họ biết và hiểu sâu sắc về văn hoá của dân tộc.
Giáo dục là chức năng bao trùm của văn hoá thì văn học là một thành
viên quan trọng trong gia đình văn hoá để thực hiện chức năng ấy. Văn học
thời, trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ tác động được đến con
người với tư cách là chủ - khách thể của văn hoá, làm cho con người chuyển
biến rồi mới phát sinh hành động cụ thể. Cho nên chúng ta thấy để hiểu được
giá trị tác phẩm văn học thì phải có những tri thức văn hoá cơ bản.
1.2.3. Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hoá
Tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn văn hoá là việc dùng văn hoá để lí giải tác
phẩm văn học, gọi là phương pháp văn hoá học. Phương pháp này nhằm khai
thác sâu hơn các giá trị văn học của tác phẩm. Có thể nói, cách tiếp cận này
đã mở ra thêm một con đường mới để khám phá văn học.
Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông dưới góc nhìn
văn hoá tức là không chỉ cung cấp thêm cho học sinh tri thức văn học như
ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nhân vật, biện pháp tu từ, phong cách, thi
pháp của nhà văn mà cao hơn nữa phải tăng cường tô đậm bản chất văn hoá
của văn học. Bởi văn hoá là “ngữ cảnh gần nhất luôn được cảm thấy của ngữ
bản văn học sử. Ngữ cảnh văn hoá ảnh hưởng tạo tác đến văn học trong tổng
thể của nó và đến từng thành tố của tác phẩm văn học” (Phan Cư Đệ).
Tiếp cận theo hướng văn hoá là một hướng tiếp cận ưu thế trong tay
nhiều nhà nghiên cứu trong thời gian qua. Trên thế giới, M.Bakhtin với tác 18
phẩm “Sáng tác của Francois Rabelais với văn hoá dân gian thời trung đại
và phục hưng” đã đưa ra cái nhìn văn hoá phân tích và lí giải tác phẩm của
nhà văn phục hưng Pháp Rabelair là đỉnh cao của xu hướng chính thống của
văn học dân gian. Ở Việt Nam, phương pháp này đã có một số tác giả đi vào
nghiên cứu như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thuý, Trần Nho
Thìn Ở đây, các tác giả đã vận dụng cái nhìn văn hoá để tìm hiểu văn học
trung đại Việt Nam, thơ Hồ Xuân Hương, “Truyện Kiều” với các cuốn sách
“Hồ Xuân Hương, hoài niệm, phồn thực” của Đỗ Lai Thuý, “Nho giáo và văn
học Việt Nam trung - cận đại ” của Trần Đình Hượu, “Nhà Nho tài tử và văn
Trường ca là loại tác phẩm mà yếu tố cốt truyện và yếu tố trữ tình kết
hợp hài hoà, còn gọi là trường thiên, là thơ dài có gắn với những sự kiện hoặc
tình tiết nào đó của cốt truyện hoặc của đời sống thực tế.
Trường ca là một hiện tượng tiêu biểu của thời đại mang tính sử thi. Chất
sử thi trong trường ca là sự kế thừa thể loại sử thi dân gian. Sử thi (anh hùng
ca) miêu tả các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống
cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình. Nội dung
của sử thi là các sự kiện có ý nghĩa toàn dân tộc. Đó là cuộc chiến tranh, cách
mạng, là sự đổi thay, thử thách tồn vong của đất nước. Các sự kiện đó đòi hỏi
các thành viên dân tộc một quan điểm nhất trí, đòi hỏi mọi người phải đối xử
với nhau như anh em, đòi hỏi nhà thơ “dùng quan điểm của nhân dân mình để
xem xét sự kiện, chứ không phải tách mình ra ngoài sự kiện đó”.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ gian khổ và oanh liệt đã trở thành mảnh đất
hiện thực để khơi gợi cho bao nhà thơ sáng tác những bản trường ca hào
hùng, sâu lắng để phản ánh hiện thực cuộc sống chiến tranh, để ngợi ca khí
phách lòng dũng cảm của dân tộc: Bài ca chim ChơRao – Thu Bồn, Những
người đi tới biển – Thanh Thảo, Đường đi tới thành phố - Hữu Thỉnh và
trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm cũng không nằm
ngoài trào lưu này. 20
Trong trường ca “Mặt đường khát vọng” Nguyễn Khoa Điềm đã tái hiện
đời sống hiện thực trong tính chủ quan của nhà thơ và các hình tượng thế giới
nghệ thuật được xây dựng theo nguyên tắc này. Đây là điểm mới mẻ của
trường ca thời kì chống Mĩ so với trường ca sử thi, trường ca tự sự trước đó.
Trường ca là một thể loại có kết cấu dài nên nó cũng phải chú ý đến xây dựng
nhân vật và tuyến sự kiện. Đây là điểm tương ứng với lối triển khai của sử thi
dân gian. Vì thế mà trường ca cần có cốt truyện. Tuy nhỉên, cốt truyện trong
trường ca không nhất thiết phải có tình tiết và hành động mà cốt truyện chỉ
Trong thơ ca Việt Nam có không ít tác giả đã sử dụng vốn văn hoá dân
gian làm nền tảng sáng tác bởi dân tộc ta có một nền văn học dân gian phong
phú, đa dạng. Nền văn học dân gian là nơi hội tụ, kết tinh của trí tuệ, phẩm
chất, lối sống của cha ông qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng không phải nhà
thơ nào cũng khai thác, sử dụng thành công vốn văn hoá dân gian đặt trong
trường liên tưởng mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống như Nguyễn khoa Điềm.
Đến với trường ca “Mặt đường khát vọng” chất liệu văn hoá dân gian
được nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, tài tình có sức lay động lòng người sâu
sắc và là cơ sở chủ yếu tạo nên tính dân tộc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Chất liệu văn hoá dân gian thể hiện trong trường ca “Mặt đường khát
vọng” trước hết là truyền thống văn hoá nông nghiệp lúa nước của dân tộc ta.
Chính cái gốc văn hoá nông nghiệp đã chi phối lớn đến mọi dời sống sinh
hoạt của cha ông. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm gốc văn hoá nông nghiệp
gắn với nghề trồng lúa nước được thể hiện qua nhiều góc độ.
Có nhà nghiên cứu văn hoá đã nhận xét: hai yếu tố văn hoá chi phối
mạnh mẽ đến đời sống văn hoá Việt Nam là luôn phải đắp đê chống lũ và tồn
tại bên cạnh một nước lớn luôn muốn thâu tóm mình. Quả thật đúng như vậy,
Việt Nam là một nước sinh tồn bằng sản xuất nông nghiệp thì đắp đê chống lũ
là một hành động dũng cảm, cao cả để sinh tồn:
“Đất nước
Phải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy 22
Đất nước
Phải đan phên, đổ đất mà giữ lấy
Đất nước
Phải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy
Đất nước
Phải neo người xuống sông, chặn nước giữ lấy