Tiểu thuyết mẫu thượng ngàn và đội gạo lên chùa của nguyễn xuân khánh từ góc nhìn lý huyết cổ mẫu - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM VĂN DỰ

TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN
VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TỪ GÓC NHÌN LÝ THUYẾT CỔ MẪU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM VĂN DỰ

TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN
VÀ ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TỪ GÓC NHÌN LÝ THUYẾT CỔ MẪU
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH. Bùi Mạnh Nhị


trong suốt thời gian hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2018
Tác giả luận văn

Phạm Văn Dự

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.........................................................................................................
i LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................
ii MỤC LỤC ..................................................................................................................
iii

PHẦN

MỞ

ĐẦU

........................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................
1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................
4
4. Lịch sử vấn đề..........................................................................................................
4


1.2.2.
20

Các tính chất của cổ mẫu .............................................................................

1.2.3.
21

Phân loại cổ mẫu ..........................................................................................

1.2.4.
23

Giá trị của cổ mẫu.........................................................................................

1.3.
24

Phương pháp tìm và phân tích cổ mẫu trong văn học................................

Tiểu kết chương 1 ......................................................................................................
27

4


Chương 2. TIỂU THUYẾT MẪU THƯỢNG NGÀN, ĐỘI GẠO LÊN CHÙA
VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TỪ LÝ THUYẾT CỔ MẪU.....................
28

3.2.
56

Cổ mẫu ông Đùng bà Đà..............................................................................

3.3.
66

Cổ mẫu rừng .................................................................................................

3.4.
71

Cổ mẫu cây đa ..............................................................................................

3.5.
74

Cổ mẫu rắn ....................................................................................................

3.6.
80

Cổ mẫu tiếng đàn, tiếng hát .........................................................................

Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................
89
PHẦN KẾT LUẬN.................................................................................................. 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................
92

Ngàn - Nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh; Quỳnh Châu: Nguyễn
1


Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới; Hòa Bình: Mẫu Thượng NgànCơ duyên của Nguyễn Xuân Khánh; Văn Chinh: Nơi bắt đầu Mẫu Thượng
Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh; Yến Lưu: Nỗi đau lịch sử và sự đổi thay;...
Năm 2011, Đội gạo lên chùa ra mắt bạn đọc; tuy có những thành công
vang dội và nhận được sự quan tâm từ độc giả cũng như các nhà nghiên cứu,
phê bình nhưng do thời gian xuất hiện chưa lâu nên chưa có công trình nghiên
cứu chuyên sâu nào dành cho tác phẩm này. Chỉ có một số bài đăng trên báo
viết và báo điện tử như: Tiểu thuyết như một tham khảo Phật giáo (Đọc Đội
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh) của Mai Anh Tuấn; Nguyễn Xuân
Khánh Đội gạo lên chùa của Thu Hà; Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Đội gạo
lên chùa của Hoài Thương; Kiến giải về dân tộc trong Đội gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh của Đoàn Ánh Dương; Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt
qua tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Văn Chinh;
Gừng già mới cay của Hoài Nam.
Viết tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh luôn luôn trăn trở về những vấn đề lịch sử, văn hóa của đất
nước. Đổi mới về tư tưởng quan trọng hơn đổi mới về bút pháp là mục đích
chính yếu và đóng góp chính yếu của tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân Khánh.
Những lối viết tưởng như xưa cũ của ông vẫn có sức hấp dẫn lớn. Bạn đọc bắt
gặp trong tiểu thuyết của ông không phải những nhân vật, sự kiện, bức tranh lịch
sử đã hóa thạch mà là những chỉnh thể nghệ thuật sống động, luôn đối thoại với
bạn đọc và mời gọi bạn đọc tham gia đối thoại. Tái hiện lịch sử, văn hóa, phong
tục là phông nền để nhà văn đánh giá, đề xuất, kiến giải về quá khứ và gợi mở
những vấn đề ngay trong cuộc sống hôm nay.
Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh cho thấy rất rõ ý nghĩa của việc trở
về với văn hóa dân gian trong xã hội hiện đại và vai trò của cổ mẫu. Đó chính
là một trong những đặc sắc trong tác phẩm của ông. Tuy nhiên, trước Nguyễn

nhìn lý thuyết cổ mẫu; từ đó khái quát vai trò của cổ mẫu, của văn hóa
truyền thống trong đặc điểm sáng tác của nhà văn trong quá trình đổi mới
văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

3


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lý thuyết cổ mẫu và các cổ mẫu trong tiểu thuyết
Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.
Nguyễn Xuân Khánh còn có một tiểu thuyết rất nổi tiếng: Hồ Quý Ly.
Tuy nhiên, đây là tiểu thuyết có “hơi hướng” lịch sử. Hơn nữa, và đây là lý do
chủ yếu, do phạm vi của luận văn thạc sĩ nên chúng tôi không đưa tiểu thuyết
này vào đối tượng nghiên cứu.
4. Lịch sử vấn đề
Về lí thuyết cổ mẫu, tôi thu thập được từ các công trình nghiên cứu
như: Tâm phân học (analitical psychlogy) của Karl Gustave Jung, Nước và
những giấc mơ của Gaston Bachelard, Giải phẫu phê bình (anatomy of
criticism) của Northrop Frye. Nguyễn Quang Huy, Thử dẫn vào nghiên cứu văn
học từ góc nhìn cổ mẫu (archetype). Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê bình cổ mẫu
và cổ mẫu nước trong văn học Việt Nam. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Đi tìm cổ
mẫu trong văn học Việt Nam.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về cổ mẫu chưa nhiều và đây là
hướng nghiên cứu mới của văn học thế giới và Việt Nam trong thế kỉ XX, đặc
biệt từ nửa sau thế kỉ XX cho đến nay. Các tác giả chủ yếu đi sâu vào nghiên
cứu về khái niệm cổ mẫu và mối quan hệ giữa cổ mẫu với văn học.
Nguyễn Xuân Khánh với những sáng tác từ năm 1958 (Làng nghèo 1958), Miền hoang tưởng (1990), Trư Cuồng, Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn,
Đội gạo lên chùa, Xóm nghèo đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt của độc
giả và hàng loạt giải thưởng danh giá. Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đã
được tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau như lịch sử và văn hóa Việt, yếu tố

- Phương pháp thống kê - khảo sát: Thiết lập và sắp xếp các vấn đề một
cách logic, khoa học; xem xét, đánh giá trong cấu trúc tổng thể của chúng.
6. Đóng góp của luận văn
(i) Luận văn lần đầu tiên nghiên cứu, phân tích, lí giải một cách hệ thống
tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh từ
góc nhìn lý thuyết cổ mẫu.

5


(ii) Luận văn bước đầu chỉ ra những đặc điểm nhân loại và dân tộc trong
tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh; góp thêm tiếng nói khuyến khích người
cầm bút và công chúng tăng cường tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa và tìm
hiểu văn hóa từ góc nhìn văn học.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Phần kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính
của luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1. Sơ lược về việc nghiên cứu văn học từ lý thuyết cổ mẫu.
Chương 2. Tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa và hướng
nghiên cứu từ lý thuyết cổ mẫu.
Chương 3. Tiếp cận Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa từ lý thuyết
cổ mẫu.

6


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
SƠ LƯỢC VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
TỪ LÝ THUYẾT CỔ MẪU

của con người còn có vương quốc của tiềm thức nữa. Tuyên bố này làm người
ta kinh ngạc, thán phục và được ví chẳng khác nào phát hiện ra một lục địa mới
trong lịch sử. Khi mọi người tôn xưng ông là người phát minh ra tiềm thức,
chính S. Freud đã nói: “Trước tôi, các thi sỹ và triết gia đã sớm phát hiện ra
tiềm thức, tôi chẳng qua chỉ khám phá ra những phương pháp khoa học để
nghiên cứu tiềm thúc mà thôi” [Dẫn theo 46, tr. 177]. Freud rất quý trọng các
nghệ sỹ vì ông tìm thấy ở họ, những người dễ dàng bước vào lĩnh vực của tiềm
thức và vô thức.
Kế tiếp S, Freud nhưng khác với người thầy của mình, K.G. Jung
(1875-1961) đã đưa ra lý thuyết “vô thức tập thể”. Cống hiến khoa học và
cũng là khác biệt của ông so với S. Freud là phát hiện “vô thức tập thể” nằm
dưới “vô thức cá thể”. Ông cho rằng “Vô thức tập thể” có gốc gác sâu xa từ
kinh nghiệm của nhân loại và chủng tộc, thậm chí có gốc gác cả đến hoạt
động của loại thủy tổ tiền nhân loại. Và nói đến vô thức tập thể, ký ức cộng
đồng không có nghĩa là mỗi con người có thể thâu tóm hoặc hồi tưởng tất cả
những thể nghiệm của tổ tiên, mà chỉ là nói đến những khả năng tiềm tàng
hoặc khuynh hướng tiên sử dụng những phương thức tương đồng với cha ông
để nắm bắt và phản ứng trước thế giới. K.G. Jung khẳng định: vô thức tập thể
chính là một số nội dung kinh nghiệm của loài người có từ thời nguyên thủy;
trong cuộc sống nguyên thủy, có bao nhiêu cái điển hình thì có bấy nhiêu loại
cổ mẫu: sinh nở, chết đi, sống lại, quyền lực, ma thuật, anh hùng, trẻ con,
giống đực, giống cái, mẹ, cha, đất, nước, mặt trăng, mặt trời, biển, rừng, vũ
khí,... Jung cho rằng, với tư cách là vô thức tập thể, những cổ mẫu này được
bảo tồn trong thần thoại nguyên thủy, đồng thời cũng được biểu hiện trong

8


những ảo giác, giấc mơ, cảm nhận của con người hiện đại. Trong bài báo nổi
tiếng Về quan hệ của tâm lý học phân tích đối với sáng tạo văn học nghệ

cái chết và sự tái sinh, người thế mạng,... [51].
J. Campbell dẫn ra các cổ mẫu: người anh hùng, vị thần, nhà tiên tri để
tìm cách lí giải các giai đoạn biểu tượng thích hợp cho đời sống con người thời
hiện đại. Qua các sáng tạo huyền thoại Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc,
v.v, ông tìm ra những nguyên mẫu (cổ mẫu) và chức năng tâm lí như nhau của
sự sống và cái chết, sự tái sinh,... Và theo ông, về mặt chức năng, nó chính là
chìa khóa lí giải nguyên lí tổng hợp bất biến trong bản tính con người [51].
M. Eliade thì lưu ý rằng, “kí ức tập thể” mang tính phản lịch sử, nó chỉ
thừa nhận các phạm trù và nguyên mẫu, chứ không thừa nhận các sự kiện lịch
sử. Qua đó, ông đặt vấn đề về cách ứng xử của con người trong cuộc chống
chọi với nỗi đau khổ và nỗi khiếp sợ muôn thuở trước lịch sử. G. Bachelard
thay thế các “giấc mơ” (rêves) bằng “sự mơ mộng” (rêverie). Theo đó, ông cho
rằng thơ ca chính là sự mơ mộng xoay quanh vật chất nguyên thủy, những yếu
tố đầu tiên làm nên thế giới: đất, nước, lửa, không khí. Và theo ông, chính các
Cổ mẫu đó đã làm nên đặc trong nghệ thuật của các thiên tài như: E. Poe,
Novalis, Hoffmann,...
Với G. Bachelard, cổ mẫu là các các hình tượng được tạo dựng vượt lên
hiện thực, nó gắn liền với những giấc mơ nguyên thủy. Trong Nước và những
giấc mơ, Bachelard thú nhận nghiên cứu Nước khó hơn nghiên cứu Lửa rất
nhiều. Có lẽ vì Nước là nguyên tố có tuổi đời già nhất. Có lẽ, do bản chất “nữ”,
“đằm sâu”, “bền vững” “kín đáo”, “đơn giản” của mình, Nước thường hiện ra
trước mắt Con Người ở phương diện bề mặt, như là cái phông trang trí, hơn là
tiếng gọi cội nguồn thẳm sâu của nó. Vậy nên, theo G. Bachelard, đi tìm những
“nét đẹp tư duy của nước”, ta phải xuyên qua các bề nổi để thấy bề sâu, xuyên
qua trí tưởng tượng hình thức để khai mở trí tưởng tượng về nội dung. Có thể
10


nói, G. Bachelard đã khám phá và nhận diện Nước như một khám phá và nhận
diện một con người. Hay nói khác đi, qua Nước, ông nhận thức lại về vũ trụ và

rộng rãi các khái niệm vô thức cộng đồng, cổ mẫu để tiến hành những phân tích
cụ thể nhằm khám phá tác phẩm văn chương.
E. M. Meletinsky, tác giả cuốn Thi pháp của huyền thoại, đề cập nhiều
lần tới thuật ngữ “nguyên mẫu” (thuật ngữ tiếng Nga hoặc tiếng Anh, đồng
nghĩa với cổ mẫu). Khi dùng thuật ngữ này trong nghiên cứu về huyền thoại
của các dân tộc trên thế giới, nhà ký hiệu học và folklore học này đã “đưa
những hiệu chỉnh quan trọng vào cách hiểu kinh điển của Jung về những mẫu
cổ đó. Từ việc nghiên cứu các mẫu cổ (thuật ngữ trong bản dịch, tương đương
với thuật ngữ cổ mẫu, tác giả luận án nhấn mạnh) huyền thoại trong cốt truyện
dân gian, ông chuyển sang phân tích những mẫu cổ trong các tác phẩm kinh
điển của Nga,...” [51, tr.XII]. Thông qua đó, bằng cách đánh giá các cách nhìn
nhận của các nhà nhân chủng học như: J. G. Frazer, Lévi Bruhl, Lévi Strauss,...
ông đã vận dụng khá thành công các thuật ngữ trọng tâm của C. Jung vào
nghiên cứu văn học dân gian cũng như văn học hiện đại, đặc biệt là khuynh
hướng tiểu thuyết huyền thoại, giải huyền thoại của các nhà văn đương đại
phương Tây. Thi pháp của huyền thoại là một đóng góp lớn cho phê bình và lí
luận văn học hiện nay. Tuy vậy, khi đề cập đến các cổ mẫu, ông chỉ đề cập tới
việc miêu tả mang tính sơ lược, hay nói đúng hơn là tác giả đã không đi sâu
vào yếu tố cổ mẫu, mà chỉ đề cập như một vấn đề lý thuyết cần thiết và hết
sức quan trọng trong nhiều xu hướng nghiên cứu văn học nghiêng về khuynh
hướng phê bình huyền thoại, phê bình nghi lễ,... trong giới nghiên cứu khoa
học văn học hiện nay, cả văn học dân gian và văn học viết.
Từ đó, phê bình cổ mẫu chính thức bước từ lãnh địa phân tâm học sang
lãnh địa nghiên cứu văn học, với tư cách vừa là một thuật ngữ vừa là một
phương pháp đặc thù trong nghiên cứu văn học.

12


1.1.2. Tình hình nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam từ góc nhìn lý

ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Trong đó, các yếu tố Đất, Nước, Trăng, Máu, Biển,...
được vực dậy từ vô thức tập thể - là những kinh nghiệm nguyên sơ nhất của
con người về vũ trụ và cuộc sống. Tác giả cho rằng cái nhìn và bút pháp của
Bùi Giáng, một nhà thơ hiện đại, đôi chỗ có cái gì đó gần với Hồ Xuân Hương:
“thơ Hồ Xuân Hương ngả về bản năng, thơ Bùi Giáng thiên về bản nhiên. Đọc
thơ Hồ Xuân Hương, ta chừng như thấy một người đàn bà Việt nghịch ngợm tai
quái vục chiếc gáo dừa vào cái lu vô thức nhân loại, quậy chơi, và múc ra một
hỗn hợp những Đất - Nước - Trời - Người, vung ra tung toé” [54, tr.194].
Trong trò chơi này, thiên nhiên không còn là Mẹ Đất, Cha Trời của Con Người,
mà như một người đàn ông bị lôi kéo vào cuộc chơi kì thú của người bạn nữ
Việt thông minh và tràn đầy sức sống. Dưới cái nhìn cổ mẫu, thơ Tản Đà đã
vĩnh cửu hoá vầng trăng tự tại, biểu tượng thế giới an nhiên của chốn thiên thai,
và thơ Hàn Mặc Tử thì tràn ngập Trăng “lai láng như nước và cần như hơi thở”.
Đến đương đại, Nguyễn Huy Thiệp làm một cuộc nối mạch trở lại với huyền
thoại. Đất, Nước, Biển, Sông, Rừng, Gió, Mưa, Lửa, Mẹ,... với tư cách là những
cổ mẫu, ám ảnh Nguyễn Huy Thiệp không kém con người, và đây chính là một
trong những yếu tố quan trọng làm cho trang viết của ông có chiều sâu. Chúng
tham dự vào văn chương đầy mê đắm và khuất phục. Nguyễn Thị Thanh Xuân
nhắc đến “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm” (Thơ Hồ Xuân Hương) “Chồi
thược dược mơ mòng thụy vũ” (Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc), và
các cổ mẫu: cổ mẫu Đầm xuất hiện như một phép lạ: Đầm Dạ Trạch trong
truyện Chử Đồng Tử, motif bay về trời, cổ mẫu Giếng, đặc biệt, cổ mẫu Nước.
Riêng Hồ Xuân Hương lại chỉ có cảm hứng với những nước trong hang, hẻm,
kẽ, khe, lách, lạch, nước tát, vũng,... nghĩa là những hình thái nước tù đọng,
trong quy mô nhỏ, hẹp, ở những vị trí khuất nẻo, hóc hiểm,...

14


Cũng theo hướng nghiên cứu phê bình cổ mẫu, Nguyễn Ngọc Chương có

Nôm bác học, đặc biệt là ở chiều sâu tư tưởng, ở các cấu trúc chìm của của các
hiện tượng văn chương. Trong Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ
mẫu (archetype), Nguyễn Quang Huy cũng đã thông qua một số thành tựu tâm
lý học phân tích, cụ thể là archétype (cổ mẫu), vô thức tập thể, các ảnh tượng
mộng mơ, để xác nhận những tương quan giữa chúng với văn học nhằm tạo lập
một cái nhìn gợi mở cho hướng nghiên cứu mới - nghiên cứu văn học từ góc
nhìn lý thuyết cổ mẫu.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về cổ mẫu chưa nhiều và đây là
hướng nghiên cứu mới của văn học thế giới và Việt Nam trong thế kỉ XX, đặc
biệt từ nửa đầu thế kỉ XXI đến nay.
1.2. Lý thuyết cổ mẫu
1.2.1. Định nghĩa cổ mẫu
Thuật ngữ “cổ mẫu” xuất phát từ ngành phân tâm học, C.Jung - nhà tâm
lý học Thụy Sĩ là người khởi xướng. Con đường đưa C.Jung đến lý thuyết cổ
mẫu hoàn toàn tình cờ. Khám phá vô thức tập thể, C.Jung đã bắt gặp mối quan
hệ giữa các huyền thoại cổ với tâm lý của người nguyên thủy. Theo C.Jung,
vô thức tập thể là “những kết tinh từ nhiều truyền thống tâm lý, tâm linh và
văn hóa của nhiều thế hệ loài người trong lịch sử để lại” [41, tr.28], hình
thành từ hoàn cảnh sống thực tế của tổ tiên như “những hoàn cảnh lo âu và sợ
hãi, vui mừng và phấn chấn, tranh đấu để sống còn, tương giao giữa nam và
nữ, giữa cha mẹ và con cái, những hình tượng người cha người mẹ, những
thái độ đối với hận thù và yêu thương, đối với sinh tử và ly biệt, những quyền
lực của các nguyên lý tối sáng âm dương” [41, tr.29]. Vô thức tập thể được
thể hiện trong vô số huyền thoại, biểu tượng, cấu trúc tâm lý điển hình được
lưu truyền từ đời này sang đời khác qua con đường “di truyền văn hóa”. Mặt

16


khác, vô thức tập thể nằm ở tầng sâu kín xa thẳm nhất của hệ tâm thức mà con

Bennet, trong cuốn Jung đã thực sự nói gì, cho biết: trong một công trình
cuối đời của mình, S. Freud đã đề cập đến những thuật ngữ như: Di sản cổ
xưa hay Dấu vết của tinh thần cổ sơ (le mode de pensée archaïque) [5,
tr.77-78] và [39, tr.23]. Nếu xem cổ mẫu là một cấu trúc tinh thần thì trước
Jung rất xa đã có các quan niệm về những ý n iệm hay những hình thức
trong lý thuyết của Platon. Tư tưởng của Jung về archétype gặp gỡ với
những thuật ngữ như hình ảnh thượng đế (image de Dieu), thượng đế như là
cổ mẫu ánh sáng (la lumière archétype) trong tác phẩm của triết gia Philon
d’Alexandrie; trong tư tưởng của Platon, Augustin,... [39, tr.25]. “Nó (Jung
viết) tùy thuộc vào sự phân loại các ý nghĩ mà lúc đầu con người cảm thấy
xa lạ nhưng đã sớm sở hữu và sử dụng chúng như là những khái niệm thân
thuộc,... Cổ mẫu là đúng và hữu ích bởi vì nó cho chúng ta biết rằng những
nội dung vô thức tập thể có liên quan khi chúng ta xem xét những hình thức
cổ xưa, hoặc đúng hơn những hình thức nguyên thủy, tức là những hình
ảnh chung tồn tại từ những thời đại xa xưa nhất” [5, tr.77-78]. Cái psyché
trong quá khứ xa thẳm ấy là nền móng tinh thần của con người. Việc phát
hiện này đã mặc nhiên tạo ra một ảnh hưởng vô cùng lớn đối với tâm lí học
hiện đại. Cổ mẫu, Jung nói: “cũng như thân thể người ta là một tập hợp
đầy đủ những bộ phận, mỗi bộ phận là kết quả của một cuộc tiến hóa qu a
các thời kỳ tiền sử, ta phải nghĩ rằng tinh thần của ta cũng có một tổ chức
tương tự như thế. Tinh thần cũng như thể chất của ta, không thể là một cái
gì không có quá khứ, một lịch sử của nó” [38, tr.96].
Dựa vào quan điểm của C.Jung, một số từ điển đã đưa ra định nghĩa cổ
mẫu. Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới giải thích: “Các mẫu gốc giống
như những nguyên mẫu của các tập thể biểu tượng ăn sâu trong vô thức đến

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status