Tiểu thuyết đội gạo lên chùa của nguyễn xuân khánh nhìn từ tâm thức phật giáo - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN DANH THỰC

TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
NHÌN TỪ TÂM THỨC PHẬT GIÁO

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN DANH THỰC

TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
NHÌN TỪ TÂM THỨC PHẬT GIÁO

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Lý Hoài Thu


Tác giả luận văn

Nguyễn Danh Thực


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 3
4. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu ............................. 4
5. Bố cục luận văn ............................................................................... 4
CHƢƠNG 1 : TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN
TỪ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRONG LÒNG DÂN TỘC .............................................................................. 4
1.1. Thân thế và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh ............ 5
1.2. Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam.. ............................................................................................ 7
1.2.1. Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử ....................................................... 7
1.2.2. Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam ................................................................................................... 18
1.3. Phật giáo Việt Nam trong lòng dân tộc ....................................... 27
Tiểu kết chƣơng 1 ..................................................................................... 40
CHƢƠNG 2: PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG DÒNG CHẢY DÂN TỘC
CUA TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN
XUÂN KHÁNH………………………………………………………..……41
2.1. Phật giáo Xứ Đoài qua tác phẩm “ Đội Gạo Lên Chùa” .............. 42
2.2. Tinh thần nhập thế của Đạo Phật. ................................................ 55
2.3. Con ngƣời với tâm thức Phật giáo qua tác phẩm “Đội Gạo Lên
Chùa” ................................................................................................. 64

ra không chỉ cần đúng với lịch sử mà còn phải là những vấn đề đƣợc ngƣời
đọc quan tâm. Bởi bất cứ cuốn tiểu thuyết lịch sử nào cũng đều có ảnh hƣởng
của đời sống hiện đại. Muốn tác động tới tâm tƣ ngƣời đọc, ngƣời viết phải
mang những xúc động của mình vào trong từng trang viết.
Bản thân tôi cũng có duyên gắn bó với Phật giáo từ nhỏ - đi xuất gia và
đƣợc thấm nhuần giáo lý của Phật nên đặc biệt quan tâm đến tác phẩm Đội
gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vì nó truyền tải những vấn đề
rất đáng đƣợc quan tâm trong xã hội hiện đại ngày nay. Qua tác phẩm chính là
sự trải nghiệm và so sánh với hoàn cảnh của chính bản thân, mặc dù có sự
khác biệt về bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội, môi trƣờng xung quanh xong
cũng cảm nhận rất rõ sức sống cũng nhƣ tinh thần nhập thế của Phật giáo vô
1


cùng mạnh mẽ và linh hoạt dù chỉ 20 năm trở lại đây của chính bản thân. Qua
tác phẩm với tinh thần “ôn cố tri tân” tôi thấy có nhiều điểm cần suy ngẫm, giữ
gìn và phát huy, song cần bổ sungđể Phật giáo ngày nay thực sự chứng minh
đƣợc tinh thần nhập thế của mình trong một xã hội văn minh hơn, hiện đại hơn.
Đây là tác phẩm mang giá trị tƣ tƣởng cao đáng đƣợc ngƣời đọc quan tâm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh tuy cầm bút đã lâu nhƣng sự nghiệp của
ông chỉ thực sự đƣợc khẳng định từ khi tác phẩm Hồ Quý Ly ra đời. Do vậy
những công trình nghiên cứu khoa học về các sáng tác của ông chƣa nhiều.
Một số bài nghiên cứu tại trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại
học Quốc gia Hà Nội có nghiên cứu về Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm của
ông nhƣ sau:
Luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần
thuật học của Hoàng Thị Hiền Lƣơng. Công trình này, ngƣời viết khai thác về
vấn đề trần thuật học nhƣ: thời gian, không gian trần thuật; kết cấu, điểm nhìn
trần thuật và ngôn ngữ trần thuật.

xem là truyền thống đạo đức của các dân tộc và toàn thể nhân loại. Đối với xã
hội, từ khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng bên cạnh nhiều cái
đƣợc, đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực
xã hội. Bất chấp những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một bộ phận trong
các tầng lớp, các thành phần xã hội khi mƣu cầu lợi ích cá nhân đã trà đạp lên
các khuôn mẫu, các giá trị đạo đức đích thực.
Nguyễn Xuân Khánh là một ngƣời luôn trăn trở về những vấn đề văn
hóa – lịch sử, quyết tìm câu trả lời qua ba tiểu thuyết văn hóa - lịch sử: Hồ
Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa là câu trả lời thuyết phục nhất
cho các vấn đề lối sống văn hóa đang đƣợc đặt ra gay gắt. Qua tác phẩm này
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã cảnh báo những lối sống tiêu cực và mở ra

3


một lối sống tích cực mang hơi thở của Phật giáo. Và đặc biệt là tâm thức
nhập thế của Phật giáo trong lòng dân tộc qua các tiến trình lịch sử.
4. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài này quan tâm nhiều đến yếu tố Phật giáo trong tiểu thuyết lịch sử
Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh. Vì thế, đối tƣợng của đề tài này
là Tâm thức Phật giáo biểu hiện trong Đội gạo lên chùa với sắc thái nhƣ thế
nào, có ý nghĩa và những đóng góp tích cực gì. Muốn tìm hiểu về vấn đề này
cần tìm hiểu về Phật giáo Việt Nam có quá trình lịch sử nhƣ thế nào, có ảnh
hƣởng thế nào đến con ngƣời Việt Nam, từ đó tác giả đã nắm bắt và thể hiện
điều đó bằng cách nào trong tác phẩm.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi cuốn tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Chủ yếu dùng hai phƣơng pháp phân tích và
tổng hợp. Phân tích để thấy đƣợc yếu tố Phật giáo đƣợc triển khai trong tác phẩm
nhƣ thế nào, sau đó tổng hợp lại để đƣa ra ý nghĩa, tƣ tƣởng của vấn đề. Đồng

mốc lớn Đội gạo lên chùa vào năm 2011.
Bộ ba tiểu thuyết lịch sử đã khẳng định đƣợc cái duyên của Nguyễn
Xuân Khánh với nghề văn. Những tác phẩm này đã ghi dấu ấn của ông trên
văn đàn. Với Hồ Quý Ly, ông liên tiếp nhận đƣợc ba giải thƣởng: giải thƣởng
cuộc thi tiểu thuyết hội nhà văn Việt Nam 1998 – 2000, giải thƣởng hội nhà
văn Hà Nội năm 2001 và giải thƣởng Thăng Long của Ủy ban Nhân dân
Thành phố Hà Nội năm 2002. Đến 2006, ông tiếp tục nhận giải thƣởng của
hội nhà văn Hà Nội với tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn.
Đã có biết bao nhiêu lời nhận xét, bao nhiêu hội thảo, luận văn, luận án
về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhiều ngƣời cho rằng, ông là
số ít các nhà nhà văn Việt Nam đáng đọc nhất hiện nay bởi sức nghĩ và vốn
sống dày dặn của ông đã viết nên những cuốn tiểu thuyết sống cùng lịch sử
5


văn hóa dân tộc. Điều đáng nói là văn của ông mang tính lịch sử, nhƣng lại có
dáng dấp hiện đại, nó là một sự giao thoa văn hóa, lịch sử - văn hóa - phong
tục cổ kim đan quyện vào nhau, bởi vậy mà tác phẩm của ông đã làm xiêu
lòng nhiều độc giả trẻ.
Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự thành công không chỉ trong vai trò một
nhà văn mà còn trong vai trò một trí thức luôn quan tâm đến các vấn đề của
văn hóa, quốc gia, dân tộc. Điều mà Nguyễn Xuân Khánh quan niệm mà mỗi
nhà văn cần phải có, đó là tri thức và sự trải nghiệm. Nhà văn phải là nhà tƣ
tƣởng. Từ những lẽ đó, Nguyễn Xuân Khánh đã thể hiện những nỗi niềm mà
ông luôn đau đáu qua ba tiểu thuyết lịch sử: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và
Đội gạo lên chùa.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh luôn khẳng định rằng, ngoài những
duyên may, thì ông là một ngƣời không ngừng nghỉ tự học, tự đọc. Để viết
đƣợc một cuốn tiểu thuyết, ông đã phải đọc rất nhiều cuốn sách về phong tục
tập quán, về văn hóa, về phân tâm học, văn học cổ kim trong ngoài nƣớc. đặc

tƣ duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền
thuyết, thần thoại, cổ tíchđến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thƣờng.
Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm nhƣ Thượng kinh
ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hổ và
đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu
thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc
sắc. Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sống động bức tranh xã hội
rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chƣơng hồi.
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới
xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại. Cùng phong trào
Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bƣớc tiến vƣợt bậc
và thành tựu lớn với hai khuynh hƣớng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của Tự

7


Lực văn đoàn, những ngƣời đã thúc đẩy sự hình thành thể loại nhƣ Nhất
Linh, Khái Hƣng, Thạch Lam; và những nhà văn hiện thực phê phán nhƣ Ngô
Tất Tố, Nam Cao,Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng…
Trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ
các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tƣởng, Tô
Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc). Ít
nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thể loại tiểu thuyết-sử thi
vốn mang đề tài hoành tráng và dung lƣợng đồ sộ, mà một trong số đó là Vỡ
bờ của Nguyễn Đình Thi. Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang
mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy
Thiệp, có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con ngƣời và hình thức có dấu
hiệu manh nha hệ hình văn chƣơng hậu hiện đại.
Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phƣơng thức tự sự, tính chất văn
xuôi, vì vậy, trở thành đặc trƣng tiêu biểu cho nội dung của thể loại. Tính chất

cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triển trong câu
chuyện hƣ cấu, không hiện thực nhƣ sử học, và những nhân vật hoàn toàn
không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời nhƣ những tác phẩm thuộc thể ký.
Trong vô vàn những gƣơng mặt đời thƣờng và giữa muôn ngàn biến cố của lịch
sử, nhà văn khi trƣớc tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biện
pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phƣơng thức
chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo. Khi đó, hƣ cấu nghệ thuật, đối với tiểu thuyết
đã trở thành yếu tố bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn.
Ở phƣơng diện tổng quát tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng
hợp. Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách
nghệ thuật của các thể loại văn học khác nhƣ thơ (những rung động tinh
tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật
của những loại hình ngoại biên nhƣ hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh
âm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức

9


màn hiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác nhƣ tâm lý
học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học
viễn tƣởng khác...
Tiểu thuyết lịch sử chính là sự sáng tạo và hƣ cấu trên cái nền đã ổn
định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Nhà tiểu thuyết lịch sử có thể tha
hồ bay lƣợn trong không gian tƣởng tƣợng sáng tạo nhƣng phải nhằm mục
đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn
thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử. Nghĩa là qua sáng tạo mới nhà tiểu
thuyết phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật
lịch sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngƣợc lại.
Một điều tối kỵ của tiểu thuyết lịch sử là làm sai lệch chân dung nhân
vật của lịch sử, sai lệch sự kiện lịch sử.

trong việc miêu tả hoàn cảnh”, mà quan trọng hơn là “miêu tả trung thực bằng
nghệ thuật một thời kì lịch sử cụ thể”. Điều quan trọng ở đây là không khí lịch
sử của hoàn cảnh và trung thực với một thời kì lịch sử cụ thể. Không thể làm
thay đổi không khí lịch sử cũng nhƣ thời kì lịch sử cụ thể. Mỗi thời có không
gian, thời gian xác định, có những sự kiện, có tin đồn, có huyền thoại, có mối
lo, niềm vui, có cung cách chạy các việc, có bài ca, tập quán, trang phục, lối
nói cửa miệng…không thể lẫn với thời khác. Cái chính của tiểu thuyết lịch sử
là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kì lịch sử cụ thể không lặp lại
đó. Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu đối với tiểu thuyết
lịch sử. Song chúng ta quá quen với một quan niệm về sự thật lịch sử nhƣ là
một cái gì khách quan duy nhất, bất biến, chỉ thế này, không thể thế khác. Đó
là vì chúng ta quá tin vào sử và là một nhầm lẫn. Sự thật lịch sử trƣớc hết là
một sự thật. Khái niệm sự thật là cái có thật, thực tế, đối lập với cái giả tạo,
bịa đặt, không có thật, chính là một yếu tố của cái đối tƣợng mà nhà sử học
nghiên cứu. Nhƣng nhà sử học cũng nhƣ nhà tiểu thuyết không ai tiếp xúc
đƣợc với sự thật của họ, vì nó đã vĩnh viễn thuộc về quá khứ, họ chỉ tiếp xúc

11


đƣợc với các lời đồn, lời ghi chép về nó mà thôi, mà ghi chép thì mang tính
chủ quan. Do đó, “sự thật lịch sử” là một khái niệm ẩn dụ, mang tính chủ
quan. Vì thế từ lâu ngƣời ta xem chuyện viết sử có tính chất văn chƣơng.
Trong lịch sử nhiều nƣớc, trong đó có nƣớc ta thƣờng có chuyện đem thần
thoại, truyền thuyết đƣa vào lịch sử. Nhà mỹ học Đức F. W. Schelling xem
quá khứ là một nghệ thuật lịch sử. Nhà triết học Ý B. Croce nói: Khái niệm
lịch sử phù hợp với khái niệm chung về nghệ thuật. A. Duroff xem nguyên tắc
thẩm mĩ là nguyên tắc của sử học. Còn nhà kinh điển mác xít F. Engels nói :
Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ đại, mở đầu là bi kịch, kết thúc là hài kịch.
Nhà nghiên cứu Nga A. V. Guluga viết sách Mỹ học của lịch sử. Các quan

thật quá khứ mà không ai ngày nay đƣợc nhìn thấy, chứng kiến, chúng ta biết
rất ít về nó, biết rất phiến diện, nhất là đời sống thực tế của những thời đã qua.
Chỉ một việc đi tìm trang phục cổ của ngƣời Việt qua các triều đại cũng đã
cho thấy cái biết của ta nghèo nàn, ít ỏi biết chừng nào. Không phải cái gì của
ngƣời xƣa cũng đã đƣợc lƣu lại, đƣợc tả lại, kể lại đầy đủ, chi tiết. Ý thức cá
nhân, tình cảm, cách thể hiện, cá tính… của nhân vật lịch sử vĩnh viễn mất đi
theo cái chết của họ thì không thể tìm đâu đƣợc ngoài sự suy đoán, tƣởng
tƣợng. Chính vì vậy mà ngòai chính sử do nhà nƣớc chủ trì, chỉ đạo trong các
“quốc sử quán” ngày xƣa do “sử quan” (ông quan viết sử) viết ra, hoặc cán bộ
nhà nƣớc của viện sử học ngày nay, dân gian còn có dã sử, có truyền thuyết,
có diễn ca lịch sử, vè lịch sử, các giai thoại, truyện kể truyền miệng. Mà các
hình thức sau là bƣớc quá độ từ sử học đến nghệ thuật. Tất cả đều chỉ là đi tìm
sự thật lịch sử mà thôi, và kết quả chỉ có đƣợc những “diễn ngôn tự sự” dƣới
dạng văn bản văn vần hay văn xuôi, truyền miệng hay chữ viết nào đó. Sự
thật trong đó vẫn không phải là “sự thật”lịch sử. Có lẽ vì thế mà tiểu thuyết
lịch sử (có thể kể cả kịch lịch sử, truyện ngắn lịch sử, truyện thơ lịch sử) trở
thành một nhu cầu của mọi xã hội để làm sống lại quá khứ.Nhu cầu tiểu
thuyết lịch sử trƣớc hết là nhu cầu diễn ngôn, là nhu cầu đối thoại, phản biện

13


lại với lịch sử, nhu cầu đi tìm những khả năng đã mất, những góc nhìn mới.
Tiểu thuyết lịch sử suy cho cùng cũng chỉ là một loại diễn ngôn đặc thù về sự
thật lịch sử, không phải bản thân sự thật lịch sử. Để tạo ra đƣợc diễn ngôn về
lịch sử thì tiểu thuyết lịch sử cần sử dụng những “sự thật lịch sử” nhất định,
bao gồm sự kiện, nhân vật, phong tục, tập quán, đồ dùng, đồ trang sức, bài
hát, trò chơi đƣơng thời…, nhƣng không thể đòi hỏi “hoàn nguyên lịch sử”,
một việc mà bản thân sử học cũng không làm đƣợc. Ở đây câu nói nổi tiếng
của A. Duyma vẫn đúng. “Sự thật lịch sử” mà mọi ngƣời đã biết theo sách sử

thời kì cụ thể. Nhà văn có quyền giải thích sự kiện khác với định luận trong sử.
Ở Trung Quốc Quách Mạt Nhƣợc thƣờng viết loại kịch “phiên án”, tức lật
ngƣợc nhận định của lịch sử. Mở màn vở kịch Thái Văn Cơ, ngƣời tình của
Tào Tháo đang ngồi vá cái chăn rách và nói với Tào Tháo: “Cái chăn này mình
đắp đã mƣời năm rồi đấy nhỉ!” Thật khó tin, nhƣng tác giả có sở cứ. Sự thật
lịch sử theo Ju. Lotman, là sự thực hiện một trong vô vàn khả năng của hiện
thực quá khứ, sự thật đó đã làm cho vô vàn các khả năng lịch sử khác mất cơ
hội đƣợc thực hiện, mà thiếu chúng, ta khó mà hiểu hết hiện thực. Nhà văn
Nam Dao trong một bài viết có nói: “Tƣởng tƣợng, Nguyễn Huệ không chết
sớm, Minh Mệnh không tàn sát giáo dân, Tự Đức nghe và làm theo điều trần
của Nguyễn Trƣờng Tộ,… thì hôm nay thế nào?”. Nhân vật lịch sử cũng là con
nguời, do khả năng về trí tuệ, tri thức, tính cách, tu dƣỡng mà họ có thể khôn
ngoan hoặc dại dột, có thể hủy hoại một cơ đồ. Vì vậy đi tìm các khả năng đã
mất, phân tích các nguyên nhân sâu xa để tạo mới diễn ngôn, hiểu mới lại lịch
sử. Tiểu thuyết hƣ cấu, theo tôi không phải là bịa đặt tùy tiện, mà là đi tìm lại
các khả năng đã mất để lí giải cái khả năng đã đƣợc thực hiện, tìm xem nó đã bị
đánh mất nhƣ thế nào. Bằng cách đó đọc tiểu thuyết lịch sử con ngƣời trở nên
thông minh hơn, sáng suốt hơn, biết trân trọng, không bỏ qua các cơ hội nghìn
năm có một để quốc gia hung thịnh, con ngƣời hạnh phúc. Tiểu thuyết lịch sử
nào cũng mang trong mình hai lần lịch sử: lịch sử thời đã qua và lịch sử thời

15


ngƣời viết đang sống. Chỉ quan tâm thời đã qua mà không nêu đƣợc vấn đề
quan tâm của ngƣời hiện tại thì tiểu thuyết cũng khó hấp dẫn. Sức hấp dẫn của
tiểu thuyết lịch sử là cách diễn giải mới đối với lịch sử. Đó là ƣu thế của tiểu
thuyết lịch sử so với lịch sử. Mà nêu chỉ quan tâm hiện tại bỏ mất lịch sử thì
không có tiểu thuyết lịch sử nữa. Tính hiện đại của diễn ngôn là điều bắt buộc,
không tránh đƣợc. Diễn ngôn là những quy tắc phát ngôn, thƣờng ẩn chìm

mất sớm, hẳn lịch sử sẽ có những bƣớc đi khác với bây giờ. Thời nào lịch sử và
văn học về lịch sử cũng có kiêng kỵ, có độ vênh thì đòi hỏi sự thật lịch sử đối
với thời xƣa, khi sự kiêng húy còn khắc nghiệt hơn, hoặc không thua kém bây
giờ, viết toàn sự thật lịch sử sao đƣợc? Trong đời sống có khi sự thật lịch sử to
nhƣ cả một triều đại lẫy lừng vẫn bị bỏ quên, bỏ qua, không muốn nói đến hoặc
không đƣợc nói khác. Vì thế yêu cầu “sự thật lịch sử” khắt khe theo lối đối
chiếu văn bản sử học với văn bản tiểu thuyết là sản phẩm của ngộ nhận về “lịch
sử”. Nhƣng coi nhẹ “sự thật lịch sử” là coi nhẹ ngôn ngữ của loại tiểu thuyết
này, sẽ làm mất hứng thú của ngƣời đọc đối với nó. Nhà văn cần đột phá “sự
thật lịch sử một thời”, phát hiện những sự thật lịch sử bị bỏ qua, bỏ sót, bị che
giấu, bị tô màu, sáng tạo diễn ngôn mới về lịch sử mới tạo đƣợc sức hấp dẫn.
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới có rất nhiều tác phẩm đến
đƣợc với lòng ngƣời, đƣợc ngƣời đọc trân trọng, yêu chuộng. Điểm đáng chú
ý nhất là nó đã vƣợt qua mô hình cũ và tạo ra nhiều hƣớng phát triển có hứa
hẹn. Có hƣớng “văn chƣơng hóa lịch sử” nhƣ Hoàng Quốc Hải với hai bộ
trƣờng thiên. Có hƣớng nghiêng về phƣơng điện văn hóa, đối thoại văn hóa
nhƣ Nguyễn Xuân Khánh, có hƣớng diến giải lại lịch sử nhƣ Nguyễn Thị Lộ
của Hà Văn Thùy, có hƣớng “phi trung tâm hóa” nhƣ Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác, có hƣớng phi huyền thoại hóa lịch sử nhƣ Hội thề của
Nguyễn Quang Thân, có hƣớng đối thoại với chính sử nhƣ Mạc Đăng Dung
của Lƣu Văn Khuê, có hƣớng đổi mới cách nhìn nhƣ Biết đâu địa ngục thiên
đường của Nguyễn Khắc Phê, có hƣớng viết “tiểu sử gia tộc” hƣ cấu, mà thực

17


ra là viết lịch sử thời đại với con mắt giễu nhại trong Thời của thánh thần của
Hoàng Minh Tƣờng, Dưới chín tầng trời của Dƣơng Hƣớng,Cuồng phong của
Nguyễn Phan Hách, còn có hƣớng ngụ ngôn hóa lịch sử…Tất nhiên ý kiến
đánh giá tiểu thuyết lịch sử hiện đang có nhiều khoảng cách xa, có nhiều vấn

trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học
đối với con ngƣời, đối với cuộc đời, với nhân dân mình. Không có cái đó thì
không có đổi mới”.
Tiếp thu tình thần Đổi mới của văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết
văn xuôi cũng só sự đổi mới rất cơ bản. Tiểu thuyết đƣơng đại đổi mới theo
hai xu hƣớng: xu hƣớng hiện đại hóa triệt để gắn liền với tên tuổi những nhà
văn nhƣ: Nguyễn Bình Phƣơng với Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già
(1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004),
Ngồi (2006). Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn. Tạ
Duy Anh với Lão khổ (1992), Đi tìm nhân vật (1999), Thiên thần sám hối
(2004), Giã biệt bóng tối (2008). Xu hƣớng thứ hai là xu hƣớng đổi mới dựa
trên lối viết truyền thống, xu hƣớng này xuất hiện những tác giả, tác phẩm
tiêu biểu nhƣ: Lê Lựu với Thời xa vắng, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ
(1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú.
Nguyễn Khắc Trƣờng với Mảnh đất lắm người nhiều ma. Ngoài ra không thể
không nhắc đến tên tuổi của các tác giả: Hồ Anh Thái, Y Ban, Võ Thị Xuân
Hà, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh .Ở xu hƣớng thứ hai tiểu thuyết văn xuôi đƣơng
đại lại có sự phân chia thành nhiều khuynh hƣớng sáng tác khác nhau. Có thể
nói quãng thời gian hơn mƣời năm đầu thế kỷ XXI, văn học bắt kịp với thời
đại khi viết về những vấn đề mới. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm viết về
những vấn đề thời đại chƣa để lại tác phẩm hay, nhất là ở các cây bút trẻ.
Trong khi đó, một trong những khuynh hƣớng sáng tác gần đây là quay trở lại
với những thời đại đã trở thành lịch sử để suy ngẫm những vấn đề đƣơng đại.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status