Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh trong thành tựu văn chương thời đổi mới - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

TRẦN THỊ HƢỜNG

TIỂU THUYẾT "ĐỘI GẠO LÊN CHÙA" CỦA
NGUYỄN XUÂN KHÁNH TRONG THÀNH TỰU
VĂN CHƢƠNG THỜI ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
THÁI NGUYÊN – 2014

THÁI NGUYÊN – 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Người viết luận văn

TRẦN THỊ HƢỜNG


XÁC NHẬN CỦA KHOA NGỮ VĂN TS. CAO THỊ HẢO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục………………………………………………………………… iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Kết cấu của luận văn 7
Chƣơng 1: NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ DÒNG TIỂU THUYẾT
VĂN HÓA - LỊCH SỬ TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƢƠNG ĐẠI 8
1.1. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh 8
1.1.1. Nguyễn Xuân Khánh - những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp
văn chương 8
1.1.2. Nguyễn Xuân Khánh - một hiện tượng văn học độc đáo 10
1.2. Dòng tiểu thuyết văn hóa - lịch sử Nguyễn Xuân Khánh trong bối cảnh
tiểu thuyết văn xuôi Việt Nam đương đại 12

3.1.1.4. Những người nông dân hướng thiện và những người phụ nữ 60
3.2.2. Những nhân vật đại diện cho cái Ác 64
3.3.3. Nhân vật có sự xen cài, chuyển hóa giữa cái Thiện và cái Ác 68
3.3.4. Phối hợp nhân vật tính cách với nhân vật tư tưởng 72
3.2. Đội gạo lên chùa - kết cấu cổ điển mà hiện đại 75

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

3.2.1. Mở đầu và kết thúc tác phẩm 75
3.2.2. Tổ chức kết cấu cốt truyện 77
3.2.3. Kết cấu theo trình tự không gian- thời gian 78
3.2.4.Kết cấu đan lồng 81
3.2.5. Kết cấu lưỡng phân 83
3.3. Ngôn ngữ phong phú va sống động 85
3.3.1. Ngôn ngữ người kể chuyện 85
3.3.2. Ngôn ngữ đối thoại 90
3.1.3. Ngôn ngữ độc thoại 91
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong sự đa dạng của đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế

và về cách suy nghĩ, tình cảm của con người Việt Nam trong chiều dài lịch sử
nước nhà qua nhiều giai đoạn khác nhau. Từ kháng chiến chống Pháp đến cải
cách ruộng đất rồi đến kháng chiến chống đế quốc Mĩ- tất cả đã tạo nên một cái
nhìn đa chiều, toàn diện và xuyên sốt đối với lịch sử nước nhà dưới con mắt
của một người từng trải, một người có nhận thức sâu sắc về lịch sử, văn hóa
trong toàn cảnh và qua từng giai đoạn.
Đặt trong mối quan hệ với tiểu thuyết của các thế hệ nhà văn tiền bối
như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn
Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Minh Châu … thì ta dễ dàng nhận
thấy Đội gạo lên chùa đã phản ánh đến một nội dung có tính chất bao quát,
toàn vẹn và sâu sắc, xuyên suốt chiều dài của lịch sử hơn. Chính vì thế có
thể nói trong văn chương thời kì đổi mới thì Đội gạo lên chùa đã đạt được
những thành tựu rực rỡ.
Thực hiện luận văn: “Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh trong thành tựu văn chƣơng thời đổi mới”, chúng tôi mong muốn
khẳng định những thành tựu đặc sắc của Nguyễn Xuân Khánh ở cả hai phương
diện nội dung phản ánh và hình thức thể hiện, so với những tác phẩm tiểu
thuyết văn hóa - lịch sử khác của ông, cũng như so với những tác phẩm tiểu
thuyết của các tác giả khác cùng thời.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về các cuộc phỏng vấn và trao đổi
Trên các phương tiện báo chí và truyền thông, một số cuộc phỏng vấn, trò
chuyện văn chương của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xung quanh tác phẩm
Đội gạo lên chùa, chuyện nghề, chuyện đời…v.v đã được công bố, Hoàng Lan
Anh có bài ghi chép trò chuyện Viết tiểu thuyết ở tuổi 79, đăng trên báo Người
lao động, ngày 26 tháng 6 năm 2011. Thanh Vân có cuộc phỏng vấn với tiêu đề
Không trải nghiệm nào là vô ích, đăng trên tạp chí Tia sáng, số 13, ngày 5
tháng 7 năm 2011. Đáng chú ý trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 729, tháng 7
năm 2011, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có bài tự thuật Tôi đã viết tiểu thuyết


lối tự sự truyền thống trong khi rất nhiều nhà văn tài năng khác dấn thân vào
con đường đổi mới nghệ thuật văn xuôi”. Nhà phê bình Đoàn Ánh Dương có
bài “Kiến giải về dân tộc trong Đội gạo lên chùa” trên báo Văn nghệ, số 27,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ngày 2 tháng 7 năm 2011. Tác giả viết: “Bộ ba tiểu thuyết văn hóa lịch sử này,
Nguyễn Xuân Khánh đã gác sang bên những trăn trở về đổi mới bút pháp để đi
sang đổi mới về mặt tư tưởng. Tư tưởng, chứ không phải là nghệ thuật tiểu
thuyết, mới là mục đích chính yếu, đóng góp chính yếu của Nguyễn Xuân
Khánh trong tư cách tiểu thuyết gia. Làm nên bước ngoặt về quan niệm nghệ
thuật, là trở về với lối tự sự truyền thống trong khi rất nhiều nhà văn Việt Nam
tài năng khác dấn thân vào con đường đổi mới nghệ thuật tự sự, Nguyễn Xuân
Khánh đã thực sự thành công, tâm huyết không chỉ trong vai trò của nhà văn,
mà còn trong vai trò của một trí thức luôn quan tâm đến các vấn đề của văn
hóa, quốc gia, dân tộc”.
Còn rất nhiều bài báo khác nhận định, đánh giá về tiểu thuyết Đội gạo lên
chùa. Trên đây chỉ là một số bài tiêu biểu mà chúng tôi có điều kiện được đọc.
Nhưng việc giải quyết cụ thể cái hay, cái đặc sắc về vấn đề phản ánh và hình
thức phản ánh trong tiểu thuyết thì vẫn là một vấn đề chưa kết thúc. Song với
nội dung của những bài báo đó là những gợi dẫn quan trong để chúng tôi căn
cứ và vận dụng triển khai luận văn.
2.3. Về hội thảo khoa học
Như đã trình bày ở trên, ngay sau khi tác phẩm Đội gạo lên chùa được
xuất bản nó đã gây một tiếng vang lớn, thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của giới
nghiên cứu và bạn đọc.
Tháng 6 năm 2011, Nhà xuất bản Phụ nữ và Hội nhà văn Hà Nội kết hợp
tổ chức cuộc Tọa đàm khoa học Nguyễn Xuân Khánh - Đội gạo lên chùa.
Nhiều nhà phê bình đã có những tham luận công phu và nghiêm túc, tập trung
vào việc tìm hiểu vấn đề Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt Nam. Nguyễn

“Diễn ngôn lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” (Đại học
sư phạm Hà Nội, năm 2010), Phạm Văn Vũ thực hiện luận văn: “Cảm quan
triết luận - Phật giáo trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh” (Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, năm 2010), Hoàng Thị Thu
Hương với luận văn: “ Nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa” (Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên), Võ Thị
Hồng Thắm với luận văn: “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn thể
loại” (Đại học Vinh)…v.v.
Những công trình nghiên cứu khoa học trên đây đều rất công phu, khoa
học, tất cả đều là những tiền đề mang tính định hướng và gợi ý để chúng tôi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

tiến hành thực hiện đề tài về “Tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh trong thành tựu của văn chương đổi mới”.
Như vậy có thể nói có rất nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu khoa
học về tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói chung và tiểu thuyết
Đội gạo lên chùa nói riêng. Tiếp nhận toàn bộ những gì đã có của những người
đi trước, trong luận văn này, chúng tôi mong hướng tới một nhận thức tổng thể
những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của Đội gạo lên chùa trong tiến trình
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và trong thành tựu văn chương đổi mới.
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Tập trung khảo sát tiểu thuyết Đội gạo lên chùa trong bộ ba tiểu thuyết
của Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Qúy Ly, Mẫu thượng ngàn và Đội gạo lên chùa
để khẳng định những đóng góp đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của nó. Qua
đó xác định vị trí của Đội gạo lên chùa nói riêng và tác giả Nguyễn Xuân
Khánh nói chung trong thành tựu của văn xuôi Việt Nam đương đại - thập niên
mở đầu thế kỉ XXI.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Tiến hành thực hiện luận văn, trong khi tiếp cận với tiểu thuyết Đội gạo

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, nội dung của luận
văn có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Nguyễn Xuân Khánh và dòng tiểu thuyết văn hóa- lịch sử
trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại.
Chương 2: Đội gạo lên chùa - một cái nhìn bao quát, toàn diện về văn hóa
- lịch sử thế kỉ XX qua một đơn vị làng và những cuộc phiêu lưu.
Chương 3: Đội gạo lên chùa- những nét đặc sắc trong nghệ thuật tiểu thuyết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Chƣơng 1
NGUYỄN XUÂN KHÁNH VÀ DÒNG TIỂU THUYẾT VĂN HÓA -
LỊCH SỬ TRONG NỀN VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
1.1.1. Nguyễn Xuân Khánh - những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp
văn chương
Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, bút danh là Đào Nguyễn. Quê gốc ở
làng Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội. Là nhà văn có cuộc đời trải qua nhiều cay
cực, vất vả. Vốn là người gốc Hà Nội, từng sống ở làng Cổ Nhuế, sau đó có
quãng thời gian cùng gia đình sống ở phố Huế - một phố buôn bán sầm uất.
Hiện nay, ông sống ở ngõ nhỏ Trần Khát Chân. Mấy chục năm trên mảnh đất
này, diện mạo của khu phố nay đã khác xóm nghèo ngày trước. Những căn nhà

mưu sinh cật lực để nhận những đồng tiền nuôi vợ con, những con chữ, những
trang sách vẫn không ngừng quẫy đạp trong tâm trí ông. Khốn nỗi lâm nạn
nghề nghiệp một thời nên khi cầm bút viết tâm trí ông lại càng dằng xé. Ban
ngày lao động mệt mỏi, ban đêm ông lại chong đèn cùng với những con
chữ. Vốn ngoại ngữ tiếng Pháp được cơ hội phát huy nên ông đã dịch hàng
chục cuốn sách. Ông đã sớm có ý thức củng cố kiến thức chuẩn bị hành
trang cho con đường dài của nghề nghiệp.
Trong cuộc đời của mình, ở giai đoạn nào dù là khó khăn nhất, Nguyễn
Xuân Khánh cũng có những mục tiêu để theo đuổi. Một đêm (1959), Rừng sâu
(1962) là những tập truyện ngắn đầu tay. Đến những năm tháng vất vả, cực
nhọc nhất trong cuộc đời mình, ông cho ra đời: Miền hoang tưởng (tiểu thuyết,
NXB Đà Nẵng, 1990), đây là tác phẩm đầu tiên ông lấy bút danh Đào Nguyễn.
Rồi Trư cuồng (1981- 1982, chưa xuất bản) cũng được ông viết trong thời gian
này. Nhưng đặc biệt không thể không nhắc đến bộ ba tiểu thuyết: Hồ Quý Ly
(2002); Mẫu thượng ngàn (2005); Đội gạo lên chùa (2010) - những tác phẩm
đã đưa tên tuổi của Nguyễn Xuân Khánh lên một tầm cao mới và tạo nên một
hiện tượng hiếm có trên văn đàn. Cũng trong khoảng thời gian cho ra đời bộ ba
tiểu thuyết, ông còn có: Hai đứa trẻ và con chó Mèo xóm núi (NXB Nhi đồng,
Hà Nội, 2002) và Mưa quê (NXB Nhi đồng, Hà Nội, 2003). Ngoài những tác
phẩm viết bằng tiếng Việt, phải kể đến những tác phẩm dịch của Nguyễn Xuân
Khánh. Ông dịch hàng chục cuốn sách nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến:
Những quả vàng của Nathalie Sarraute; Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Taha

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Ben Jelloun; Nhận dạng nam của Elizabeth; Người đàn bà trên đảo Saint
Dominique của Bona Dominique; Bảy ngày trên kinh khí cầu của Jules Verne;
Hoàng hậu Sicile
của Pamela Schoenewaldt…
Với số lượng tác phẩm tuy không phải là nhiều so với những cây đại thụ

trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII với Nam triều công nghiệp diễn chí
của Nguyễn Khoa Chiêm, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái…chủ
yếu lấy việc diễn giải sự thật lịch sử làm mục đích sáng tác văn chương, thậm
chí được thanh lọc qua điểm nhìn ý thức hệ, nặng tính chính trị, thì tiểu thuyết
đương đại thoát dần ra khỏi việc nô lệ của sự thật lịch sử. Lịch sử được soi
chiếu nhiều phía và được diễn giải theo ý hướng cá nhân nên vượt xa mô hình
cũ với nhiều chiều hướng khác nhau. Có xu hướng trung thành với chính sử
như: Bão táp triều Trần và Tám triều vua Lí của Hoàng Quốc Hải, Sông Côn
mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Lộ của Hà Văn Thùy…Có xu
hướng lại xem lịch sử chỉ là cái đinh để treo bức họa mà thôi (Dumas), nghĩa là
nhà văn mượn lịch sử để suy tư hiện tại, đào sâu những bi kịch của con người
trong cơn biến động lịch sử để biện giải quá khứ, dự báo, cảnh báo hiện tại.
Trong bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh thì Hồ Quý Ly là tác phẩm
được viết theo xu hướng này. Ngoài ra có thể thấy xu hướng này được thể hiện
trong Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Dưới chín tầng trời của Dương Hướng, Hội
thề của Nguyễn Quang Thân…Tuy nhiên chọn tiểu thuyết lịch sử - văn hóa để
sáng tác bởi Nguyễn Xuân Khánh quan niệm tiểu thuyết lịch sử không phải là
kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người
hiện tại vì vậy cần đề cập đến những điều mà họ quan tâm. Phải chăng chính vì
quan niệm này nên tiểu thuyết lịch sử của ông không bị khô khan, cứng nhắc.
Chính vì thế mà dù phải đọc gần hàng nghìn trang những tiểu thuyết của
Nguyễn Xuân Khánh, người đọc vẫn không cảm thấy ngán, mà ngược lại càng
đọc càng cuốn hút, càng hấp dẫn khiến người đọc say mê.
Không chỉ độc đáo ở thời gian ra đời của bộ ba tiểu thuyết mà nét độc đáo
nữa người đọc thấy được ở nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chính là một ngòi bút
tràn trề sinh lực. Phải chăng một con người đã sống và đã trải qua tất cả các
thời kì lớn của dân tộc từ chiến tranh - hòa bình - đổi mới cộng thêm vốn sống,
vốn hiểu biết sâu sắc đã làm nên những trang sách như dựng lại cả một nền văn
hóa, một bức tranh lịch sử đầy sinh động của con người Việt Nam? Hơn nữa
sau một thời gian dài vắng bóng trên văn đàn cũng là quãng thời gian nhà văn

Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết được nhiều nhà lí luận văn học bàn đến
như Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Thanh
Lãng, Nguyễn Văn Trung, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, …Mặc dù khái niệm
tiểu thuyết chưa được bàn đến một cách toàn diện song hầu hết các ý kiến đều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

chỉ ra đặc trưng của thể loại. Phạm Quỳnh khẳng định: Tiểu thuyết là một loại
truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là
những sự tích là đủ làm cho người đọc hứng thú. Còn Nguyễn Văn Trung trong
Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên đề nghị hiểu tiểu thuyết theo lối Tây
phương là một thể văn xuôi, kể một câu chuyện, tuy là tưởng tượng nhưng phải
dựa vào thực tế đời sống hàng ngày, có thể có thực và người đọc không thể dự
đoán trước mọi diễn biến hay kết thúc câu chuyện kể (nghĩa là truyện không
nhất thiết phải có hậu). Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), tiểu thuyết là tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và
thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức
tranh phong tục, đạo đức xã hội, mô tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện
nhiều tính cách đa dạng.
Văn học Việt Nam thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI đã đạt được những thành
tựu đáng kể ở thể loại tiểu thuyết văn xuôi. Trước hết phải kể đến thế hệ nhà
văn có công khai phá như Hoàng Ngọc Phách, Ngô Tất Tố, Khái Hưng, Nhất
Linh, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao…trước
1945. Sau 1945 gồm nhiều thế hệ, kể từ Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn
Đình Thi…qua Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu…đến Lê
Lựu, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Dương Hướng, Hồ Anh
Thái… Và đặc biệt từ cuối thế kỉ XX đến nay còn có sự xuất hiện đầy ngoạn
mục của một lớp nhà văn mà do thử thách hoặc bất trắc của thời cuộc đã có một
quãng dài ngừng nghỉ trong quá khứ như Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân

lịch sử và quan niệm nghệ thuật ra sao. Và thời điểm lịch sử ấy có ý nghĩa như
thế nào trong việc thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả cũng như trong giá trị nối
kết với hiện tại. Từ đặc trưng thể loại cùng thực tiễn sáng tác của tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam sau 1986, chúng ta nhận ra rằng, mỗi tác phẩm viết về đề tài
lịch sử luôn chứa đựng trong nó những mã lịch sử, mã văn hóa, mã ngôn ngữ
của thời đại. Tác giả là người xây dựng nên văn bản - tiểu thuyết lịch sử bằng
cách khai thác các mảnh vỡ của những tiền văn bản. Các tiền văn bản này có
thể là những trứ tác lịch sử, các bộ thông sử theo lối biên niên (chính thống và
không chính thống), các giá trị văn hóa tâm linh, cũng có thể là những câu
chuyện được lưu giữ trong kí ức dân gian (dã sử, giai thoại, truyền thuyết,
huyền thoại…). Nhà văn trước khi bắt tay vào công việc, ắt hẳn đã phải đầu tư
tìm tòi, nghiên cứu, nghiền ngẫm, thậm chí cả nghe ngóng rất kĩ lưỡng những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

tư liệu về thời đại, sự kiện hay nhân vật lịch sử mà mình quan tâm. Người viết
tìm thấy ở đó những điểm níu giữ, những chất liệu chân thực, từ đó dùng trí
tưởng tượng, khả năng sáng tạo và hư cấu của mình để phục dựng lại quá khứ,
tái hiện những nhân vật lịch sử. Soi rọi từ góc nhìn liên văn bản, người đọc sẽ
gọi dậy những kí ức về văn hóa, lịch sử, nhằm kiến tạo và thụ hưởng quá khứ
theo cách riêng của mình. Nhìn vào bức tranh tổng thể của tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam sau 1986, chúng ta dễ dàng nhận ra có rất nhiều xu hướng cùng tồn
tại. Mặc dù trong mỗi xu hướng sáng tạo có cảm thức lịch sử, quan niệm nghệ
thuật, mục đích riêng, nhưng các nhà văn vẫn gặp nhau ở điểm chung, đó là tìm
thấy trong lịch sử, văn hóa nguồn chất liệu và cảm hứng cho sự tự do sáng tạo
văn chương. Từ đó xuất hiện những tên tuổi như: Hoàng Quốc Hải, Nguyễn
Mộng Giác, Nguyễn Xuân Khánh…
Bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng
ngàn, Đội gạo lên chùa là kết quả của cảm hứng văn hóa và lịch sử. Bối cảnh
của Hồ Quý Ly được xây dựng dựa trên những sự kiện đầy biến động của giai

những ràng buộc bí ẩn với nhau, tất cả các mối quan hệ ngẫu nhiên đều có sự
liên hoàn, mật thiết, trong đó cái huyền ảo nghiễm nhiên tồn tại. Cái thực và cái
ảo dường như đan xen hòa quyện vào nhau khiến cho những trang viết của ông
có sức sống, say mê đối với độc giả. Đối với Nguyễn Xuân Khánh không có
trải nghiệm nào là vô ích bởi chính cuộc đời vất vả, cực nhọc trải qua muôn
vàn khó khăn gian khổ là tư liệu quý giá nhất giúp ông có thể viết nên những
trang sách ngồn ngộn sức sống như vậy.
1.2.3. “Đội gạo lên chùa” trong mối tương quan với tiểu thuyết đương đại
Tiếp nối những đặc điểm truyền thống văn xuôi thế kỉ XX, tiểu thuyết
đương đại Việt Nam tiếp tục đổi mới và cách tân. Có thể nói đổi mới là yếu tố
duy nhất, đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, đồng thời cũng là khát khao,
nguyện vọng của toàn dân tộc khi đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến
tranh ác liệt. Đời sống sau hòa bình với những khó khăn bộn bề đòi hỏi các nhà
văn phải sáng tạo được những tác phẩm phản ánh được hơi thở của thời đại.
Với tinh thần cởi trói, dân chủ mà Đảng khuyến khích, các nhà văn không bị gò
bó theo những quy phạm, khuôn khổ của giai đoạn trước nữa mà thỏa sức sáng
tạo, thể nghiệm. Các nhà văn luôn trăn trở, chủ động tìm cho mình một hướng
đi mới thích hợp với sự vận động của bản thân văn học. Bàn về sự đổi mới của
văn học nói chung, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết “Ai cũng đổi mới nhưng
đổi mới sự thật là gì? Theo tôi đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật khách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

quan, là tôn trọng tinh thần khoa học”. Còn nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường
trong cuộc tọa đàm Văn học đổi mới là phát triển đã nhận định: “Đổi mới trong
văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà
văn. Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không nhìn thời
đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được cái tâm trong sáng, nhân ái,
cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối
với cuộc đời, với nhân dân mình. Không có cái đó thì không có đổi mới”.

học nước nhà.
Đặt trong mối quan hệ tương quan với tiểu thuyết văn xuôi đương đại, tác
phẩm Đội gạo lên chùa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh vừa mang trong
mình những kế thừa của tiểu thuyết truyền thống vừa có sự cách tân đổi mới để
bắt kịp với sự đổi mới của văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết văn xuôi
nói riêng. Bìa bốn cuốn Đội gạo lên chùa có ghi một dòng nhận xét: “Tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa được viết theo lối cổ điển…”. Đúng là sáng tác của
một loạt nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê
Lựu, Nguyễn Khắc Trường…. cũng đều viết theo lối cổ điển. Nhưng đọc kĩ
tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, ta thấy lối viết cổ điển không xung đột với
những cách tân nghệ thuật. Tiểu thuyết của ông được cấu trúc trên nền tư duy
tiểu thuyết hiện đại, mang tinh thần từ bỏ sự mặc nhiên của tư duy công thức,
sơ đồ hóa một thời, ngộ ra sự song hành tồn tại của nhiều chân lý cuộc đời,
không có cái tuyệt đối, tối thượng… Tinh thần đó đã chi phối nhà văn trong
sáng tạo. Những cách tân nghệ thuật trong sáng tác của ông vừa mang đậm dấu
ấn phong cách cá nhân, vừa thể hiện xu hướng vận động của văn học thời đại.
Nét cổ điển của Đội gạo lên chùa là ở đề tài, kết cấu, lối kể, nhân vật và ngay
cả dung lượng của tác phẩm. Đề tài về văn hóa - lịch sử và những trải nghiệm
của nhà văn trong quá khứ dựa trên tinh thần tôn giáo - đạo Phật. Lối kết cấu
giống với kết cấu của lối tiểu thuyết chương hồi. Với gần chín trăm trang sách,
tác phẩm Đội gạo lên chùa được chia làm ba phần: I- Trôi sông; II- Bão nổi
can qua; III- Về cõi nhân gian. Và trong mỗi phần lớn như vậy lại có rất nhiều
những phần nhỏ. Lối kết cấu như vậy tạo nên một mạch truyện lôgíc, phải đọc
hết phần này, người đọc mới hiểu được phần tiếp và cứ như vậy mỗi một phần
lại mở ra cho người đọc những trải nghiệm mới có sức cuốn hút mạnh mẽ. Về
lối kể, tiểu thuyết là câu chuyện được kể lại theo trình tự thời gian, trình tự tâm
lí có lúc xuôi chiều từ quá khứ - hiện tại nhưng cũng có lúc lại từ hiện tại ngược
về quá khứ thông qua suy nghĩ, hồi tưởng của các nhân vật. Về nhân vật, cả

Trích đoạn Một đơn vị làng trong cải cỏch ruộng đất Một đơn vị làng là hậu phương của khỏng chiến chống Mĩ Cuộc phiờu lưu của những nhõn vật chớnh Cuộc phiờu lưu của mẹ con bà Nấm Cuộc phiờu lưu của đội Khoỏt, Bernard và Thalan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status