VẤN ĐỀ PHẬT GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH - Pdf 34

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng của tiểu thuyết Việt Nam
trong khoảng 15 năm trở lại đây. Góp một phần lớn trong việc làm nên giá trị
của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là đề tài Tôn giáo. Cùng với đạo Mẫu
trong cuốn “Mẫu Thượng ngàn”, gần đây là đạo Phật trong cuốn tiểu thuyết
“Đội gạo lên chùa”.
1.2 Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Xuân Khánh cũng như về từng cuốn sách riêng của ông. Nhưng “Đội
gạo lên chùa” và nhất là vấn đề Phật giáo trong tác phẩm này vẫn chưa có
một công trình nào đặt ra nghiên cứu trực diện và toàn diện. Đây là vấn đề
còn để ngỏ.
1.3 Cá nhân người viết có nhiều hứng thú với Phật giáo trong đời sống
thế tục nói chung trong văn học nói riêng. Vì thế, vấn đề Phật giáo trong tác
phẩm “Đội gạo lên chùa” đã có một sức hút đặc biệt đối với người viết.
Trên đây là những lí do căn bản để người viết chọn: Vấn đề Phật giáo
trong tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh là đề tài cho
luận văn này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
2.1. Những nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Nguyễn Xuân Khánh thuộc thế hệ nhà văn lão thành. Ông viết chậm và
sáng tác không nhiều. Có thể nói, trước “Hồ Quý Ly” và “Mẫu Thượng
Ngàn”, Nguyễn Xuân Khánh là cái tên ít được biết tới.
Nguyễn Xuân Khánh từng là sinh viên Đại học Y khoa, rồi tham gia
quân ngũ. Sau thời gian quân ngũ, ông về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân
đội. Sau đó, vì bị coi là "có vấn đề tư tưởng", Nguyễn Xuân Khánh không
được làm công tác văn hoá, tư tưởng trong Quân đội. Giải ngũ, ông về làm

-1-





tìm về sức mạnh cội nguồn văn hóa truyền thống dân tộc như hai tác phẩm
trước đó.
Trên văn đàn hiện nay, Nguyễn Xuân Khánh được nhiều người chú ý,
nhiều bài viết trên các trang điện tử và cả những luận văn thạc sĩ lấy đề tài,
đối tượng nghiên cứu là những vấn đề xoay quanh những tiểu thuyết của ông.
Thật khó có thể liệt kê hết những bài viết nói về ông đăng tải trên các trang
báo viết, báo mạng, báo nói và cả những trang báo hình. Đặc biệt, tác phẩm
của ông còn xuất hiện trên cả nhưng trang web về đạo Phật.
Đã có nhiều những cuộc hội thảo, tọa đàm, nhiều luận văn nói về 2
cuốn tiểu thuyết ra đời trước đó là “Hồ Quý Ly” và “Mẫu Thượng Ngàn”.
Các công trình đều khái quát đề cập đến cái nhìn lịch sử văn hóa, thế giới
nhân vật, đến kết cấu và đến lối viết tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh.
Đáng chú ý là cách xây dựng nhân vật mà nổi lên là nhân vật nữ.
Bài viết: “Về những cách tân nghệ thuật trong Hồ Quý Ly, Mẫu
Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” của nhà
nghiên cứu Lã Nguyên và luận văn thạc sĩ của Tống Thị Thanh (2010) trường
đại học Sư Phạm Thái Nguyên với đề tài “Những đóng góp của Nguyễn
Xuân Khánh vào tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại” đã
phần nào khái quát được những đóng góp quan trọng của Nguyễn Xuân
Khánh trong quá trình cách tân tiểu thuyết hiện đại.
Bên cạnh đó, nhiều bài viết cũng đã chỉ ra những hạn chế của Nguyễn
Xuân Khánh trong cách xây dựng nhân vật và nhất là lối kể chuyện dài dòng.
2.2. Những nghiên cứu về yếu tố tôn giáo trong tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh
Chọn con đường khai thác những giá trị văn hóa truyền thống giữa lúc
xã hội đang tiến mạnh trên con đường hội nhập, văn hóa nước ngoài lan tràn
một cách mạnh mẽ, nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp đang bị mai một, Nguyễn
Xuân Khánh đã chấp nhận đương đầu với những khó khăn, bởi sẽ không

Đạo Mẫu là nét sinh hoạt văn hóa tâm linh truyền thống của người
Việt. Vì vậy mà Nguyễn Xuân Khánh đã rất khôn ngoan khi khai thác đề tài

-4-


này để dựng lại nét văn hóa dân tộc. Đã có nhiều bài viết và luận văn nghiên
cứu về đạo Mẫu trong “Mẫu Thượng Ngàn”. Đáng chú ý là các bài viết
“Màu sắc huyền thoại trong “Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh”
của Lê Thị Bích Thủy; “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu
thuyết “Mẫu thượng ngàn” của Trần Thị An và “ “Mẫu thượng ngàn” –
con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc” trích luận văn
thạc sĩ Ngữ văn của Lê Thị Thủy được trích dẫn trong cuốn “Lịch sử văn
hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh” do Nguyễn Đăng Điệp chủ
biên.
Ngoài ra phải kể đến luận văn “Nguyên lý tính Mẫu trong “Mẫu
thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh của Dương Thị Huyền năm 2007.
Nhìn chung tác giả các bài viết trên đều khẳng định vai trò của đạo
Mẫu trong đời sống tâm linh đồng thời khẳng định vị trí quan trọng của người
mẹ. Không chỉ có vậy, với “Mẫu Thượng Ngàn” Nguyễn Xuân Khánh còn
“bao quát được nhiều vấn đề, vừa động đến lịch sử xã hội, vừa chạm tới
những khía cạnh về nhân sinh, thế sự. Và trên hết là cái nhìn văn hóa phong
tục Việt Nam thể hiện qua cuộc sống của người dân quê ở một làng cổ thuần
chất” [5.385].
2.2.2. Đạo Phật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
Trong lời giới thiệu cuốn “ Đội gạo lên chùa” có đoạn: “Đội Gạo Lên
Chùa được viết theo lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng và vai trò
quan trọng của đạo Phật trong đời sống tâm linh người Việt. Tiểu thuyết khắc
họa sâu sắc nét đẹp của văn hóa Phật giáo trong mạch nguồn văn hóa dân
tộc và được xem như một sự gợi mở về lối sống Phật giáo trong xã hội hiện

Sư phạm Hà Nội) với đề tài: Nguyễn Xuân Khánh từ tiểu thuyết “Hồ Quý
Ly” đến “Mẫu Thượng Ngàn” năm 2007 đã phần nào khái quát được chặng
đường sáng tác của nhà văn.
Ngoài ra còn phải kể đến nhiều bài viết ngắn đăng trên các tạp chí, các
trang web văn học. Để độc giả có cái nhìn toàn diện về văn cũng như con
người Nguyễn Xuân Khánh, gần đây nhà xuất bản Phụ nữ phối hợp với viện

-6-


Văn học đã cho ra mắt cuốn : “Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật của
Nguyễn Xuân Khánh” do PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp chủ biên. Công trình
nghiên cứu này đã tập hợp tuyển trọn những bài tham luận có chất lượng và
đầy tâm huyết của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà giáo có tên tuổi trong
buổi tọa đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Càng ý nghĩa hơn khi sự
kiện này diễn ra đúng dịp sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn.
Hai bài viết mở đầu cuốn sách là “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa” của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp và
“Từ trung tâm ra ngoại biên, từ ngoại biên vào trung tâm” của nhà nghiên
cứu Lại Nguyên Ân đều đồng quan điểm khi chia sự nghiệp sáng tác của
Nguyễn Xuân Khánh làm 3 chặng. Chặng thứ nhất với lối viết nằm trong
phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, Nguyễn Xuân Khánh vẫn ở vị thế
“trung tâm” tuy nhiên những sáng tác của ông giai đoạn này chưa có gì đặc
biệt. Sang chặng thứ hai, Nguyễn Xuân Khánh “dạt biên” với hai tác phẩm
gây sóng gió cho ông là “Miền hoang tưởng”(1973) và “Trư cuồng” (1981
– 1982). Ở chặng thứ ba, lựa chọn lối viết “tùy duyên” Nguyễn Xuân Khánh
đã được chào đón với “Hồ Quý Ly” và tiếp sau đó là “Mẫu Thượng Ngàn”
và “Đội gạo lên chùa”, chỗ đứng của ông lại từ “ngoại biên” chuyển vào
“trung tâm”. Các tác giả đã giúp người đọc có được cái nhìn bao quát về sự
nghiệp sáng tác, những quan điểm, cái nhìn của nhà văn về lịch sử, văn hóa và

Về “Đội gạo lên chùa” đã có riêng một buổi toạ đàm diễn ra ngày 20 6 - 2012 tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội. Còn nhiều bài viết nữa
mà người viết chưa có điều kiện tiếp cận, cũng không tiện kể hết ra đây.
Nhưng có thể khẳng định “Đội gạo lên chùa” đang và sẽ tạo được sự chú ý
của nhiều đối tượng. Những bài tham luận mà người viết trích ra trên đây đã
có những kiến giải hết sức thấu đáo. Người viết xem đó là những gợi dẫn quý
báu để triển khai đề tài cho luận văn tốt nghiệp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là yếu tố Phật giáo trong tiểu thuyết “Đội gạo
lên chùa”.

-8-


Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cuốn tiểu thuyết “Đội gạo lên chùa”.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
5. Những đóng góp của luận văn
- Lần đầu tiên yếu tố Phật giáo trong “Đội gạo lên chùa” được đặt ra
nghiên cứu một cách trực diện và toàn diện.
- Góp phần xác lập chỗ đứng của Nguyễn Xuân Khánh trong văn xuôi
Tôn giáo ở Việt Nam nói chung và trong hành trình của tiểu thuyết đương đại
nói riêng.
6.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Phật giáo trong văn học và quan niệm về Phật giáo của
Nguyễn Xuân Khánh
Chương 2: Phật giáo trong “Đội gạo lên chùa”, nhìn từ thế giới hình tượng
Chương 3: Phật giáo trong “Đội gạo lên chùa”, nhìn từ nghệ thuật trần

vừa như một kiểu tư duy nghệ thuật để sáng tạo nên các thế giới nghệ thuật

- 10 -


ngôn từ của mình. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử thì sự ảnh
hưởng của hai loại hình này có những tính chất khác nhau.
1.1 Phật giáo trong văn học Trung đại.
Ở Việt Nam, một đất nước với rất nhiều nét văn hóa đặc trưng, một đất
nước nông nghiệp vốn rất coi trọng đời sống tình cảm, con người vốn hồn
hậu, thương yêu nhau, gần gũi với thiên nhiên nên dễ dàng tiếp nhận giáo lý
đạo Phật và dần dần biến đổi cho phù hợp với văn hóa người Việt. Không
phải chỉ ở những địa phương có truyền thống Phật giáo mới có hiện tượng tín
gưỡng đạo Phật, mà đây đó khắp đất nước đều có xu hướng tin Phật mạnh mẽ.
Chùa được tu sửa mới hơn, đẹp hơn, ngày lễ thì trong và ngoài chùa chật
ních, việc may, việc rủi của mọi nhà đều nghĩ đến Phật.
Và sự ảnh hưởng, tác động giữa văn học với Phật giáo cũng đã diễn ra
từ rất lâu rồi. Ngay từ văn học dân gian đã thấy ảnh hưởng của Phật giáo.
Tiếp theo đó đến văn học viết Trung đại, văn học Phật giáo vẫn được duy trì
và phát triển đến đỉnh cao dưới thời Lý – Trần. Thậm chí, PGS. TS Nguyễn
Công Lý trong một bài viết của mình còn đưa ra nhiều dẫn chứng và cuối
cùng đi đến kết luận: “Văn học viết Việt Nam trước thời Lý Trần có rất ít tác
phẩm là của các nhà Nho, quan chức, số còn lại, đại bộ phận là những tác
phẩm thuộc văn học Phật giáo” [21].
Tuy nhiên chỉ đến thời Lý – Trần khi Phật giáo trở thành Quốc giáo thì
văn học Phật giáo mới trở thành một bộ phận quan trọng của văn học. Biểu
hiện rõ nhất là đội ngũ sáng tác có nhiều vị thiền sư như: Không Lộ thiền sư,
Khuông Việt đại sư, Đỗ Thuận thiền sư, Huyền Quang tôn sư,…những bài
thơ, bài kệ trực tiếp hay gián tiếp nói đến giáo lý nhà Phật. Viết về con người
thì cũng là những con người: “ngộ đạo với tinh thần vô úy,vô tâm, vô ngôn,

giáo nói riêng còn chưa được đúng đắn và cởi mở ở phương diện người quản
lí, phần lớn xem tôn giáo như là đối lập với chính trị, thậm chí đồng nhất giản
đơn hoạt động tôn giáo với những hoạt động mê tín dị đoan, hoặc xem tôn
giáo là một thứ thuốc phiện chỉ làm u mê con người.

- 12 -


Chính cái nhìn về Phật giáo không thân thiện như trên cho nên văn học
giai đoạn này ít viết về Phật giáo. Có chăng là ở một số tác phẩm của “Tự lực
văn đoàn” (“Hồn bướm mơ tiên”), ở “Tắt lửa lòng” của Nguyễn Công
Hoan…. Nhưng chỉ dừng lại ở một vài chi tiết mang màu sắc Phật giáo như:
cảnh chùa thanh vắng, buồn tình đi tu,…Đáng kể hơn cả là văn học chính
thống ở miền Nam Việt Nam giai đoạn chống Mỹ. Đời sống văn học khá phát
triển, trong đó đáng chú ý là đội ngũ tác giả có những vị sư như Nhất Hạnh,
với những bài thơ ca ngợi tình thương, lòng nhân ái mà tiêu biểu là tập thơ
“Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện”. Song do quan điểm chính trị
thời đó mà người ta lên tiếng chỉ trích nặng nề: “Hơi vàng của đồng đô-la đã
cám dỗ tâm hồn Nhất Hạnh để cho quỷ xứ ma vương của Ngũ giác đài và
Bạch Cung mua trọn vẹn thể xác y, đẩy vào hỏa ngục” [4. 293]. Nguyên nhân
là do quan niệm: “Đó là thứ văn nghệ lũng đoạn tâm hồn độc giả, mê hoặc lý
trí độc giả để bắt quần chúng cúi đầu trước bạo lực phi nghĩa, để thúc đẩy
quần chúng mù quáng phản bội dân tộc [4. 292,29].
Có thể nói văn học giai đoạn này e dè khi đưa yếu tố Phật giáo vào
sáng tác, nếu có thì cũng không được đón nhận, thậm chí còn bị coi như một
dạng “yêu ngôn yêu thư”.
1.2.2 Giai đoạn sau 1975
Do nhu cầu tâm linh của con người qua việc hướng đến những “lĩnh
vực siêu nhiên”, lại phát triển trong bối cảnh đất nước hoàn toàn độc lập. Văn
học được “cởi trói”. Văn chương được trở về đúng nghĩa của nó – nghĩa là

thời Đinh, Khuông Việt đại sư được phong làm tăng thống; thời Tiền Lê, đại
sư Khuông Việt và pháp sư Đỗ Thuận được giao tiếp sứ thần nhà Tống; Thời
Lý, thiền sư Vạn Hạnh là cố vấn cho vua Lý Thái Tổ;….
Điều đặc biệt là ở thời Lý – Trần không chỉ có các nhà sư tham gia
chính sự mà nhiều vua quan quý tộc đi tu. Con cháu ngàn đời mãi mãi nhớ ơn
Phật Hoàng Trần Nhân Tông – ông vua Phật ở thời nhà Trần. Sau khi lãnh
đạo nhân dân đánh thắng giặc ngoại xâm, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho
con, vào núi sâu Yên Tử để tìm đường giải thoát giác ngộ. Ngài là vị tổ đầu
tiên của thiền phái Trúc Lâm. Và mới đầu năm 2013 này, Trúc Lâm Yên Tử

- 14 -


đã vinh dự đón nhận Bằng di tích Quốc gia đặc biệt trong niềm tự hào của
người dân Việt.
Sau này trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Phật tử Việt Nam cũng
tích cực đấu tranh “ Đầu thế kỉ XX, Phật tử là lực lượng tích cực trong cuộc
vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Châu Trinh” [37.
467 ]. Đến thời Diệm – Thiệu, một sự kiện gây chấn động Sài Gòn là việc
hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu.
Có lẽ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh hơi khiêm tốn khi nói rằng mình
“mê” Phật giáo, theo người viết thì, trên cả cái “mê”, cái thích, nhà văn này
đã dùng một trí tuệ sắc bén để hiểu đạo Phật và có khát vọng để Phật giáo đi
vào trong đời sống hàng ngày của người dân Việt. Ông đã nhìn thấy và khai
thác bản chất của đạo Phật Việt Nam đó là tính nhập thế.
Nhân dân ta xưa có câu: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba
tu chùa”. Nguyễn Xuân Khánh khi trả lời phỏng vấn một tờ báo điện tử có
nói: “Tôi cổ xúy để Phật giáo trở thành một lối sống. Mà đã là lối sống thì ở
đâu cũng tu được” [ 1]. Và trong một bài phỏng vấn khác ông nói thêm: “Xã
hội hiện đại bây giờ không chỉ Việt Nam mà thế giới, người ta rất chú ý đến

có nhận xét: “Nếu có ai đi sâu vào lịch sử Phật giáo Việt Nam, theo dõi từng
bước đi của sự truyền giáo qua các thời đại…. sẽ thấy Phật giáo giữ một địa
vị quan trọng vô cùng trong văn hóa Việt Nam. Có thể nói một cách không
quá rằng:Văn hóa Việt Nam một phần lớn là văn hóa Phật giáo. Rút cái tánh
chất Phật giáo trong văn hóa Việt Nam ra thì văn hóa ấy thật là nghèo nàn,
nông cạn” [10. 51]. Như trên đã nói, đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam đã
thay đổi cho phù hợp với tập quán, văn hóa và đạo lý của người Việt nên dễ
dàng ăn sâu vào gốc rễ tâm hồn người dân Việt. Văn hóa Việt Nam là văn hóa
Phật giáo. Chính vì vậy nên dù không chính thức nhưng mỗi người dân Việt
Nam đã là một đệ tử Phật, không ngôi làng nào là không có chùa, ai trong đời
đã từng ít nhất một lần tới chùa, trẻ con từ bé đã theo bà, theo mẹ lên chùa.
Trong nhiều giai đoạn, Phật giáo đã trở thành Tôn giáo chính (thời Lý, Trần).

- 16 -


Nguyễn Xuân Khánh đã nhìn thấy ở đạo Phật một giá trị vô cùng quan trọng
đó là hình thành nên nhân cách, sức mạnh của người Việt Nam.
Tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” (2001), không nói nhiều đến yếu tố Phật
giáo nhưng người viết lại cảm thấy Phật giáo trong cuốn tiểu thuyết này có
phần sâu sắc hơn khi nhà văn mượn lời cụ Phạm nói với Hồ Nguyên Trừng:
“Đạo Phật như giếng trời, còn Khổng và Lão chỉ như hang và khe. Đạo Phật
như mặt trời, còn Khổng và Lão chỉ như bó đuốc…”
Nguyễn Xuân Khánh quan niệm Phật giáo là phần âm tính – phần làm
nên sức mạnh lâu bền của dân tộc: “Núi sông cũng có âm có dương, một đất
nước cũng có âm có dương: Phật giáo và Nho giáo. Phật giáo là phần âm
của hồn dân Việt. Đạo Phật giữ phần linh thiêng, phần chìm, phần lặng lẽ và
thâm thúy của núi sông. Đã bao đời nay nó vẫn ngân nga trong tiếng chuông
chùa làng, lẫn khuất đầu ngọn tre, dưới mái rạ để xoa dịu, nâng đỡ hồn
người dân quê Việt trong những lúc nhiễu nhương loạn lạc. Trong những

đã giúp cho các nhân vật trong truyện vượt qua mọi kiếp nạn. Do đâu vị sư
già, cơ thể chỉ còn da bọc xương vượt qua được đòn roi tra tấn của kẻ thù? Do
đâu những người phụ nữ như bà Nấm, cô Nguyệt, Huệ,… có được bản lĩnh để
đứng dậy đi tiếp sau rất nhiều những mất mát đau thương…? Câu trả lời chỉ
có thể là trong dòng máu của họ Phật tính đã được phát huy.
Trong bài Đội gạo lên chùa – một cách hiểu về “Phật tính”, PGS.TS
Nguyễn Thị Bình có đưa ra nhận định: “tác giả đã tạo ra cơ hội “ném” các
nhân vật vào cuộc biến thiên chóng mặt, từ đó mà luận về Phật giáo và truy
tìm “Phật tính” trong con người” [5. 399]. Mỗi người dân Việt sẽ tìm thấy
mình trong tính cách của các nhân vật chính diện trong truyện, do vậy Phật
tính đã trở thành Việt tính và cũng chính là nhân tính. Xin được tạm khái quát
mối quan hệ đó như sau: Nhân tính = Phật tính = Việt tính.
2.3. Khai thác tính chất từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật
Quan niệm Phật giáo là một lối sống – sống từ, bi, hỷ, xả, tác giả “Đội
gạo lên chùa” đã nhiều lần bày tỏ tâm niệm của mình: “Cứ sống hết mình với

- 18 -


cuộc đời này bằng bốn chữ của nhà Phật từ - bi – hỷ - xả thì tôi nghĩ cũng đã
là hạnh phúc rồi, và những người xung quanh cũng cảm thấy dễ chịu rất
nhiều”[35].
Đạo Phật là đạo Từ bi và Trí tuệ, tuy nhiên trong “Đội gạo lên chùa”
Nguyễn Xuân Khánh thiên về khai thác tính chất Từ bi của đạo Phật. Có thể
nói “Đội gạo lên chùa” là câu chuyện về lòng Từ bi, sự hóa giải đau khổ, hận
thù bằng lòng Từ bi.
PGS.TS Tôn Phương Lan trong một bài viết của mình có nói: “Trong
“Đội gạo lên chùa” tác giả đã gắn lòng thương yêu con người như một bản
tính Việt vào tinh thần từ bi hỷ xả ở đạo Phật và coi đây như một tư tưởng
chủ đạo xuyên suốt tác phẩm” [5. 416].

này biết yêu thương nhau, yêu thương muôn loài thì cần phát huy được thuyết
tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả) của nhà Phật. Điều này sẽ giúp chuyển hóa nội
tâm con người, đi đến giải quyết được mọi tranh chấp, bất đồng đang diễn ra
ngày càng căng thẳng giữa các nước trên thế giới.
Nguyễn Xuân Khánh đã từng đi qua những thăng trầm trong cuộc đời,
với tình yêu đời, yêu người, bằng niềm say mê với đạo Phật và những kiến
thức có được do dày công tìm hiểu, nghiên cứu nên đã có được cái nhìn đúng
đắn về một đạo Phật chân chính. Trên đây chỉ là những nhận xét mang tính
khái quát, người viết xin được tiếp tục làm rõ quan niệm của nhà văn về Phật
giáo qua “Đội gạo lên chùa” ở chương 2 và 3 của luận văn.

- 20 -


Chương 2: PHẬT GIÁO TRONG “ĐỘI GẠO LÊN CHÙA” NHÌN TỪ
THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
1. Hình tượng tác giả: Người mộ Phật
Ở đây cần phân biệt hình tượng tác giả với hình tượng nhân vật. Theo
nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng
được sáng tạo ra trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật, nhưng theo một
nguyên tắc khác. Nếu hình tượng nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc hư
cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính
cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu
hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh” [29. 127].
Thi hào Goethe từng nói: “Mỗi nhà văn dù muốn hay không đều miêu
tả chính mình trong các tác phẩm một cách đặc biệt”. Tác giả là trung tâm
làm nên nội dung và hình thức tác phẩm, tác giả hiện lên trong thế giới của
tác phẩm chính là hình tượng tác giả. Trong văn xuôi, hình tượng tác giả thể
hiện gián tiếp qua nhân vật.
Theo lý thuyết trên thì trong “Đội gạo lên chùa” nhân vật trung tâm và

thuật mà là vấn đề cái nhìn” [29. 130].
Cũng trong “Dẫn luận thi pháp học” Trần Đình Sử viết: “Cái nhìn là
một biểu hiện của tác giả. Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan
sát, do đó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi… Cái nhìn bao
quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian và bị
không gian, thời gian chi phối” [29. 130].
1.1.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh trong “Đội gạo lên chùa”
Khái thác một đề tài không mới nhưng không hề dễ dàng, Nguyễn
Xuân Khánh hướng cái nhìn đến những vấn đề của cuộc sống đời thường từ
yếu tố tâm linh. Cái nhìn của tác giả trong “Đội gạo lên chùa” nổi bật ở một
số nét chính sau:

- 22 -


1.1.2.1. Cảm nhận về không gian mang đậm dấu ấn Tôn giáo
Trong “Đội gạo lên chùa”, tác gải đã nhìn nhận, mô tả các loại không
gian như: nhà, chùa, hang, động, am, rừng, vườn, ruộng, sông, trại giam,
chiến trường theo trục tôn giáo. Các loại không gian này lại được chia ra làm
hai dạng. Dạng thứ nhất là không gian tĩnh, lành, thuận với Phật tính: chùa,
hang, hầm, am, rừng; dạng thứ hai là không gian động, dữ, nghịch với Phật
tính: trại giam, chiến trường.
Có thể dễ dàng nhận thấy không gian xuất hiện nhiều nhất trong truyện
là ngôi chùa làng. Chùa Sọ gắn liền với cuộc đời, số phận của nhiều nhân vật
chính trong truyện. Do vậy người viết cũng xin được tìm hiểu sâu hơn về hình
ảnh ngôi chùa làng.
Không chỉ ở phần 2 của chương I mới nói về “Chùa Sọ” mà ở khắp các
chương truyện đều ít nhiều nhắc lại hình ảnh ngôi chùa. Dù không có đoạn
văn nào miêu tả cụ thể cấu trúc của chùa Sọ nhưng qua một số chi tiết người
đọc có thể hình dung chùa Sọ có cấu trúc quen thuộc. Ngoài chánh điện là nơi

của nó không ngăn được bước chân vị sư trẻ nó đành “nằm rên ư ử thất vọng”
[14.97]. Lần nào Vô Trần ra gặp cô Nấm con chó cũng sủa vang như muốn gọi
lại, và rồi lần cuối cùng, khi vị sư trẻ quyết định hoàn tục, con chó chỉ còn biết:
“sủa cho đến lúc hai bóng người lẫn hẳn vào sương đêm” [14.115].
Ngôi chùa là nơi linh thiêng nhưng sao gần gũi và chẳng khác một ngôi
nhà là mấy. Chính nhà văn đã viết trong truyện: “Ngôi chùa làng ta chính là
gia đình, là tổ ấm” [14.645]. Không gian nhà chùa tạo cho con người có được
cảm giác yên tâm hơn vì: “Đây là đất Phật …đất Phật nên trên đầu chúng ta
luôn có tàn lọng của đức Phật che chở. Dù có hiểm nguy nào, núp dưới bóng
râm của người, thì cũng qua khỏi. Chẳng có ma chướng nào, chẳng có loài
ngạ quỷ, súc sinh nào đụng chạm được tới con” [14.28] chính vì vậy mà khi
đau khổ, tuyệt vọng, lúc khó khăn nhất con người lại tìm đến với chùa để tìm
kiếm sự bình an. Đây cũng là môi trường thuận lợi cho Phật tính được nuôi
dưỡng và phát triển.

- 24 -


Ngôi chùa trở thành nơi cưu mang những con người bất hạnh. Lúc đau
khổ nhất chị em An tìm đến ngôi chùa, cụ Thầm gia cảnh khó khăn cũng được
nhà chùa giúp đỡ: “Vãi Thầm chỉ có một cô con gái tên là Thì lấy chồng đẻ
sòn sòn. Chưa đầy ba mươi tuổi mà đã năm con. Nhà chồng cũng nghèo như
nhà vợ. Sư cụ Vô Úy thấy tình cảnh như vậy liền cho vợ chồng Thì cấy rẽ ba
sào. Tô ruộng chỉ bằng già nửa người ta. Lại cho bà Thầm làm việc vặt cho
nhà chùa, và cho trú ngụ tại gian nhà lá ngoài vườn”[14.21]. Sư Vô Úy
chẳng ngại bụi trần mà còn cho đào hầm bí mật trong chùa, rồi dấu mẹ con
Huệ trong chùa khi đang bị truy bắt.
Nhà chùa ngoài những sinh hoạt đặc trưng riêng như : đêm đêm “đọc
kinh sám hối”, lễ Phật, tọa thiền… nói chung là các nghi thức Phật giáo thì:
“chùa chiền còn là nơi bảo lưu văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status