Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ HÒNG THẮM
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH
TỪ GÓC NHÌN THẺ LOẠI
TIỂU
THUYÉT
XUÂN
KHÁNH
(QUA BA
TÁC PHẤM:NGUYỄN
HÒ QUỶ LY, MẪU
THƯỢNG
NGÀN
TỪ GÓC
THẺ
LOẠI
VÀ ĐỘINHÌN
GẠO LÊN
CHÙA)
(QUA BA TÁC PHẲM: HÔ QUÝ LY, MẪU THƯỢNG NGÀN VÀ
ĐỘI GẠO LÊ CHÙA)
CHUYÊN NGÀNH: LỶ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SÓ: 60.22.32
LUẬN
LUẬN VĂN
VỆT NAM THÒI KỈ ĐỔI MỚI..................................................................................................................8
1.1. Giới thuyết chung về tiểu thuyết.................................................................................8
1.1.1......................................................................................................Khái niệm tiểu thuyết
.........................................................................................................................................8
1.1.2......................................................................................................................................M
ột số đặc trưng thi pháp cơ bản của tiểu thuyết..........................................................9
1.2. Một số thành tựu cơ bản của tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới.........................12
1.2.1.
Đổi mới tư duy nghệ thuật gan với quan niệm nghệ thuật mới về con người,
về
hiện thực, về vị trí, chức năng của văn học...................................................................12
1.2.2.............................................................................................................Đổi mới thi pháp
.......................................................................................................................................15
1.3. Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh - hiện tượng nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại......................................................................................................................23
1.3.1......................................................................................................................................Qu
an niệm của Nguyễn Xuân Khánh về tiểu thuyết lịch sử..........................................23
1.3.2.
Bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mau Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa
trong sự
nghiệp văn học của Nguyễn Xuân Khánh.....................................................................25
Chương 2. TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH NHÌN TỪ NỘI DUNG CỦA
THỂ LOẠI ..31
2.1. Hai nguồn cảm hứng lớn trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.....................31
2.1.1........................................................................................................................Cả
m hứng về lịch sử dân tộc..............................................................................31
2.1.2........................................................................................................................Cả
m hứng về văn hóa dân tộc............................................................................35
2.1.3.
1.1. Tiểu thuyết là thể loại dài hơi, luôn vận động, biến đổi và chưa hoàn tất. M.
Bathtin xem đối tượng ưu tiên của tiểu thuyết là cái “hiện tại chưa hoàn thành” bởi
khả năng bắt nhịp, miêu tả một cách sống động, chân thực thực tại đang biến động và
khả năng tổng hợp, khái quát cao nhất những hiện tượng đời sống của thể loại này.
Tiểu thuyết đương đại Việt Nam, nhất là tiểu thuyết thời kì đổi mới đã có
những bước “xé rào” ngoạn mục, thoát dần bộ đồng phục của văn chương minh hoạ đê
tiếp cận đời sống đa diện, nhiều chiều hơn. Các nhà văn say sưa khai vỡ mảnh đất hiện
thực mới, say mê tìm tòi những phương thức biểu hiện hiện đại. Khiêm nhường, điềm
tĩnh lựa chọn cho mình một lối đi riêng, Nguyễn Xuân Khánh đã tạo được dấu ấn đậm
nét và nhanh chóng trở thành “tâm điểm”, “hiện tượng” trong đời sống văn học những
năm đầu thế ki XXI. Nghiên cứu Hồ OuýLy, Mau Thượng Ngàn và ĐỘI gạo lên chùa
cũng là cách đánh giá đúng sự đóng góp về mặt thể loại của lão nhà văn và hiểu hơn
cái năng động của nghệ thuật tiểu thuyết.
1.2. Bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly (2000), Mau Thượng Ngàn (2006) và Đội
gạo lên chùa (2011) là những tác phẩm được đánh giá có những kiến giải sâu sắc về
lịch sử, văn hoá và sức sống dân tộc. Trung thành với cách tiếp cận đời sống từ góc
nhìn lịch sử, văn hoá nhưng ở mỗi tác phẩm, tác giả nổ lực làm mới mình bằng vốn
kiến thức uyên bác, sự sâu sắc trong thể hiện ý tưởng và tìm tòi đổi mới về hình thức
thể hiện. Dau đón nhận nhiều lời khen, chê song không thể phủ nhận sức hút cũng như
giá trị của ba cuốn tiểu thuyết, nhất là khi nó “ẵm” về những giải thưởng danh giá: giải
thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Đây là phần thưởng
xứng đáng ghi nhận sự cống hiến không mệt mỏi của nhà văn “lão thành” đầy tài năng,
tâm huyết này.
1.3. Nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ thể loại là việc làm cần thiết nhằm
tìm hiểu sâu hơn đặc điểm sáng tác của một tác giả, phong cách nhà văn và đóng góp
của họ về mặt thể loại. Nguyễn Xuân Khánh là hiện tượng văn học khá nổi bật trong
thời gian gần đây. Với những nổ lực tìm tòi đôi mới cả về mặt tư duy nghệ thuật và
phương thức tổ chức trần thuật, tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh rất cần được nghiên
Trong tham luận Đọc Hồ Ouý Ly, nghĩ về tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Xuân
Khánh, Phạm Phú Phong trên cơ sở soi chiếu đặc trưng thể loại và đối chiếu với một
số tiểu thuyết lịch sử trước Hồ Ouỷ Ly đã chỉ ra đóng góp của tác phấm trên các
phương diện như đề tài, kết cấu và cốt truyện, thế giới nhân vật, giọng điệu. Tác giả
3
cho rằng, Hồ OuỳLy “thể hiện một tư duy tiểu thuyết hoàn toàn mới, vừa là sản phẩm
của không khí thời kì đổi mới, vừa đánh dấu bước khẳng định một phong cách tiểu
thuyết không trộn lẫn với bất kì ngưòi nào khác” [ 22, 267].
Ngoài ra, còn rất nhiều bài nghiên cứu tiếp cận tác phẩm từ các góc độ khác
nhau: Hồ Ouý Ly tiểu thuyết lịch sử của Nguyên Xuân Khánh của Lại Nguyên Ân (Báo
Thể thao và Vãn hoá, số 58/2000); Tiểu thuyết của Hồ Quý Ly thưởng thức và cảm
nhận của Hoàng Cát (Tạp chí Sách, số 11/2000); Mắt bão giữa trần ai của Đỗ Ngọc
Yên (Báo Sức khoẻ đòi song, số 74/2000); Đọc Hồ Ọuỷ Ly của Phạm Xuân Nguyên
(Tạp chí Tia sáng, 1/2001),...
Nhiều bài nghiên cứu đã soi chiếu tiểu thuyết Mau Thượng Ngàn (2006) từ
nhiều phương diện: đề tài, chủ đề, kết cấu, hệ thống hình tượng, các kĩ thuật tụ sự hiện
đại... Có thể kể đến các bài viết: Hoài Nam với Sức hấp dân của cái được viết (Vãn
nghệ, số 29/2006); Đoàn Ánh Dương với Tự sự hậu thực dân: Lịch sử và huyền thoại
trong Mau Thượng Ngàn (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/2010); Trần Thị An với
Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mau Thượng Ngàn (Tạp chí
Nghiên cứu văn học, số 6/2007); Lê Thị Thanh Bình với Nhà vãn Nguyễn Xuân Khánh
- “về từ miền hoang tưởng” (An ninh cuối tháng, số 65/2006); Văn Chinh với Nơi bắt
đầu Mau Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (Báo Tiền phong cuối tuần, số
11/2007); Mẩu Thượng Ngàn - nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh trong
cuộc trao đổi giữa VTC News với nhà nghiên cún phê bình văn học Phạm Xuân
Nguyên; Đỗ Hải Ninh với Ouan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết cĩia Nguyễn Xuân
Khánh ()...
Hầu hết, các ý kiến đều thống nhất cho rang Mau Thượng Ngàn là cuốn tiểu
thuyết về lại với cội nguồn của thế loại: những câu chuyện kể.” Trong bài Vãn xuôi
Việt Nam năm 2011 gừng già mới cay? (Báo An ninh thế giới giữa tháng, số 50/2012),
Hoài Nam nói đến sức hấp dẫn của văn phong Nguyễn Xuân Khánh cùng khả năng
chuyển tải tư tường trong Đội gạo lên chùa. Tác giả viết: “Đơn giản ông chỉ kế
chuyện, có lớp lang, dẫn dắt mạch lạc, diễn giải kĩ càng, từng bước, từng bước đưa
chúng ta vào thế giới của Phật giáo Việt Nam. Ông nói với chúng ta về tác động của tư
tưởng Phật giáo tới văn hoá - lối sống của con người Việt Nam trong trường kì lịch
sử.” Ngoài ra, có thế dẫn ra một số bài nghiên cứu khác như: Tiểu thuyết như một tham
khảo Phật giáo của Mai Anh Tuấn (Tạp chí Nhà vãn, số 8/2011); Văn xuôi Việt Nam
năm 2011 gừng gỉà mói cay của Hoài Nam (Báo An ninh thế giỏi giữa tháng, số
50/2012); Tinh thần dân chủ Phật giáo Việt Nam qua tiểu thuyết ĐỘI gạo lên chùa của
Nguyễn Xuân Khánh của Văn Chinh ( Vãn nghệ, số 6/2012); Kiến giải về dân tộc trong
Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh của Đoàn Ánh Dương (Văn nghệ, số
5
27/2011); Cảm nhận đọc ĐỘI gạo lên chúa của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh của
Nguyễn Thanh Lâm (Tạp chí Nhà văn, số 8/ 2011); Đội gạo lên chừa - trong chùa và
ngoài chừa của Hoài Nam ()...
Gần đây nhất, cuốn sách Lịch sứ và văn hoá - cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân
Khánh (Nguyễn Đăng Điệp chủ biên, 2012) đã chọn lọc các tham luận tham gia toạ
đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh do Viện Văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ
phối họp tổ chức nhân dịp nhà văn tròn 80 tuổi. Đáng chú ý, một số tham luận đã
nghiên cứu xâu chuỗi ba tác phẩm đế đánh giá thành công và hạn chế của tiểu thuyết
Nguyễn Xuân Khánh. Có thể tóm lược một số ý kiến liên quan đến đề tài nghiên cứu
của chúng tôi như sau:
Tham luận Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh - một diễn ngôn về lịch sử và văn
hoá của Nguyễn Đăng Điệp đã khang định cả ba tiếu thuyết, nhà văn trung thành lối
viết truyền thống, chi dùng thủ pháp hiện đại để làm sinh động lịch sử.
Bùi Việt Thắng với tham luận Tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ
từ, kết cấu, nghệ thuật trần thuật. Cuối cùng, tác giả đi đến kết luận về sự đa dạng và
phong phú trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh và đóng góp
của nhà văn cho nền văn học hiện đại [29]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Lý
tìm hiểu nhân vật trong hai tác phẩm Hồ Ouý Ly và Mau Thượng Ngàn [42],...
Như vậy, các bài báo ngan và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Hồ Ouý Ly,
Mau Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa được trích dẫn ở trên chỉ xoay quanh vấn đề
văn hoá, phong tục và bước đầu lí giải nhũng thành công về kĩ thuật viết văn cũng như
hạn chế của ba tác phấm. Trong số những tài liệu chúng tôi có được đến nay, chưa có
công trình nghiên cứu nào đi vào tìm hiểu một cách hệ thống tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh từ góc độ thể loại.
3. Đối tuọng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
Lấy tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn thể loại làm đối tượng khảo sát,
luận văn tập trung khảo sát: Hồ OuỷLy (Nxb Phụ nữ, 2002); Mau Thượng Ngàn (Nxb
Phụ nữ, 2006); Đội gạo lên chùa (Nxb Phụ nữ, 2011).
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Đưa ra một cái nhìn chung về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bối
cảnh tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới.
4.2. Khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ phương diện nội dung của thế
loại (hệ thống cảm hứng, hệ thống hình tượng,...).
4.3. Xác định, phân tích và lí giải một số đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh về thi pháp thể loại.
7
Cuối cùng rút ra một số nhận xét về thi pháp thể loại của tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh.
5. Phương pháp nghiên cún
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: phương pháp thống kê - miêu
tả; phương pháp so sánh - đối chiếu; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp
loại hình, phương pháp cấu ừúc - hệ thống.
uyển chuyển của nó” (M.Bakhtin) nên việc đi tìm một định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết
có thể thích ứng cho mọi trường hợp trong thực tế văn học là điều khó có thể làm
được. Các nhà lí luận, tuỳ theo góc nhìn và hoàn cảnh, phát biểu, khi thì nhấn mạnh
đặc điểm này khi nhấn mạnh đặc điểm kia mà đưa ra quan điểm khác nhau về tiểu
thuyết.
Iiêghen gọi tiểu thuyết là “Sử thi tư sản hiện đại” và nhấn mạnh tính chất “văn
xuôi”của tiểu thuyết. Đồng quan điểm với Hêghen, BanZac xem “Tiểu thuyết là những
tấn kịch của xã hội tư sản”. Bêlinxki cho tiểu thuyết là “sự tái hiện thực tại với sự thực
trần trụi của nó”, là “xây dựng một bức tranh toàn vẹn, sinh động và thống nhất”.
Bakhtin đề cập đến vai trò thể loại và khái quát đặc diêm riêng của thể loại tiểu thuyết.
Ông xem thể loại là nhân vật chính của lịch sử văn học, trong đó tiểu thuyết là thể loại
quan trọng nhất, đang vận động biến đổi và chưa hoàn tất.
Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết được nhiều nhà lí luận, nhà văn bàn đến như
Phạm Quỳnh, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Phan Cư Đệ, Trần Đình Sử, Thạch
Lam, Nguyễn công Hoan, Nguyễn Đình Thi ... Chưa toàn diện song hầu hết các ý kiến
đã chỉ ra dấu hiệu đặc trưng của thể loại tiểu thuyết. Phạm Quỳnh khẳng định “Tiểu
9
hội hay là những sự tích lạ đủ làm cho người đọc có hứng thú” [56; 12]. Còn Nguyễn
Văn Trung trong “Những áng vãn chương quốc ngữ đầu tiền” đề nghị hiểu tiểu thuyết
theo lối Tây phương “là một thể văn xuôi, kể một câu chuyện, tuy là tương tượng
nhưng phải dựa vào thực tế đời sống hàng ngày, có thể có thực và người đọc không thể
dự đoán trước mọi diễn biến hay kết thúc của câu chuyện kế (nghĩa là truyện không
nhất thiết phải có hậu).
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi đồng chủ biên), tiểu thuyết là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện
thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số
phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, mô tả các điều
kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng ” [26; 328].
vào từng thời kì nhất định mà cái nhìn đời tư có thể kết họp với các chủ đề thế sự hoặc
lịch sử dân tộc. Khi yếu tố đời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng và
ngược lại, khi yếu tố lịch sử càng phát triển thì chất sử thi càng đậm nét.
1.1.2.2. Chat văn xuôi
Chất văn xuôi làm cho thể loại này khác biệt với truyện thơ, trường ca, sử thi.
Với tâm thế phơi bày sự thật, không thi vị hoá, lãng mạn hoá cuộc sống, đặc điếm này
tạo nên một trường lực mạnh mẽ để tiểu thuyết hấp thụ cái “hiện tại chưa hoàn thành”
ở tất cả các yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời, bao hàm cái cao cả lẫn cái tầm
thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài... Chất văn xuôi cũng biến tiểu thuyết
thành thể loại có “sở trường” trong miêu tả tâm lí nhân vật, đào xới tận cùng những
biến thái tinh vi trong đời sống tâm hồn con người. Các thể loại khác, trên quỹ đạo của
văn học hiện đại, có thể bị “tiểu thuyết hoá” nhưng không thể dung nạp chất văn xuôi
như một đặc trưng của nội dung thể loại như ở tiểu thuyết. Chất văn xuôi thể hiện rất
rõ trong các tiểu thuyết của Banzac, xtanđan, Phlobe, Đôtxtôiepxki, Sêkhop, Vũ
Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Khải, Bảo Ninh... Chính chất văn xuôi tạo ra một
vùng tiếp xúc tối đa với thời hiện tại đang sinh thành, cho phép tiểu thuyết phơi bày
đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống...
1.1.2.3. Nhân vật tiểu thuyết thường là “con người nếm trải
”
Đây là thuật ngữ vận dụng ý tưởng của Bakhtin nhằm chỉ những nhân vật phải
chịu rất nhiều những trải nghiệm trong cuộc đời với bao nhiêu thăng trầm, biến đổi,
suy nghĩ, dằn vặt đau khổ và có sự lớn lên, trưởng thành trong ý thức, tư duy. Neu
nhân vật sử thi tương đối đơn giản và thường là nhân vật hành động thì nhân vật tiểu
thuyết là “con người trong con người”, “con người không trùng khít với chính nó”
(Bakhtin). Nghĩa là nhân cách con người tiểu thuyết phức tạp hơn nhiều so với những
11
1.2.1.1. Ouan niệm nghệ thuật mói về con ngưòi
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con
người được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người
trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nghệ thuật
13
trong đó. Một nền văn học mới bao giờ cũng được bắt đầu từ việc đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người.
Neu con người trong tiểu thuyết 1945 - 1975 được nhìn nhận chủ yếu ở phương
diện công dân, trách nhiệm với cộng đồng thì con người trong tiểu thuyết sau 1986
được nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn. Đó là con người cá nhân, con người
đời thường tồn tại trong mối quan hệ vói xã hội, với tự nhiên và với chính mình những quan hệ mà trước đây do nhu cầu của đòi sống thời chiến đã không được chú ý
một cách thích đáng. Nhà văn đặt con người trong nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp,
nhìn nhận con người như là tổng hoà các mặt đối lập: sáng - tối, thiện - ác, cao cả thấp hèn ... Đặc biệt, không bị ám ảnh bởi cái nhìn sử thi, tiểu thuyết đi sâu phân tích
bi kịch cá nhân thời hậu chiến và khi đụng chạm mặt trái cơ chế thị trường phải đối
diện thường trục với nhiều con người trong một con người. Giang Minh Sài trong Thời
xa vắng, Iloan, Khiêm trong Ngược dòng nước lũ, Bối trong Ba người khác, anh Khải
trong Thượng đế thì cưòi... là những con người bi kịch như thế.
Con người bản năng với những ham muốn, những dục vọng, thậm chí cả tình
dục cũng không còn là cấm kị trong văn học. Tiểu thuyết sau đôi mới, nhất là tiểu
thuyết những năm đầu thế kỉ XXI, yếu tố tình dục xuất hiện khá dày đặc. Không nhằm
“lạ hoá” để câu khách mà sex có ngôn ngữ và đời sống riêng của nó. Sex được nhìn
nhận như một phần cuộc sống, một nhu cầu tự nhiên và khát vọng chính đáng của con
người trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc đích thực. Khai thác các yếu tố tích cực của
con người tự nhiên, ứng xử với nó một cách văn hoá là khía cạnh nhân bản của tiêu
thuyết giai đoạn này.
Tiểu thuyết cũng không ngần ngại khám phá đời sống tâm linh để thâm nhập và
lí giải chiều sâu bí ẩn trong tâm hồn con người. Đó là thế giới của cõi vô thức, tiềm
thức, giấc mơ... Và xu hướng huyền thoại hoá con người để nhân vật hiện diện với sức
được nhận thức lại, nhiều “cấm địa”, thậm chí kiêng kị bị kìm nén bấy lâu nay, tự
do bung toả như sex, thế giới tâm linh, cõi tiềm thức, vô thức,... Tiểu thuyết trở
thành “vũ khí phê bình” đắc lực đấu tranh cho giá trị nhân bản của cá nhân con
người. Mặt khác, đề cao chức năng giải trí của văn chương, tiểu thuyết quan tâm
nhiều đến khoái cảm thẩm mĩ và là “sân chơi” đế nhà văn và độc giả cùng sáng tạo,
cùng đối thoại về các vấn đề đời sống.
Một thành tim đáng chú ý của tiểu thuyết sau 1986 là sự xuất hiện của những
nhà văn và độc giả mới “không hề bị vướng mắc bởi cái nhìn sử thi” (Hoàng Ngọc
Hiến). Nhà văn tự do sáng tạo và lí giải những vấn đề đời sống bằng kinh nghiệm và ý
hướng cá nhân. Độc giả cũng tự do lựa chọn món ăn tinh thần, tự do bày tỏ quan điểm,
15
đòi hỏi được ừải nghiệm, khám phá mình trên những trang sách, kể cả đối thoại với
nhà văn, với nhân vật để nhận thức về đời sống.
1.2.2. Đồi mới thi pháp
1.2.2.1. Sự đa dạng về bút pháp
Những đối mói trong tư duy nghệ thuật đã tiếp sức cho nhà văn tìm kiếm những
phương thức biếu hiện mới trong việc khám phá đời sống vốn phong phú và đa dạng.
Có thể kể đến một số bút pháp nổi trội được nhiều nhà văn sử dụng trong tác phẩm
như bút pháp kì ảo, bút pháp giễu nhại, bút pháp tả thực mới...
Bút pháp kì ảo là một trong những cách thức chiếm lĩnh đời sống được nhiều
cây bút của văn học thời kì đổi mới sử dụng. Tác phấm được xem có yếu tố kì ảo khi
“Có sự thâm nhập họp lí của yếu tố “hư”, yếu tố “ảo” vào cái “thực” để tạo nên những
tác phẩm văn chương, vừa có tính hiện thực, nhân văn, vừa kích thích óc tưởng tượng
tích cực của người đọc, tạo ra những hình tượng đa nghĩa, có kết cấu mở, giúp người
đọc có thế đồng sáng tạo với nhà văn” [18, 169]. Bút pháp kì ảo vốn rất quen thuộc
trong các truyện cổ dân gian hay các tác phẩm văn học trung đại như Việt điện u linh,
Lĩnh Nam chích quái, Thanh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục ... Đen văn học hiện đại,
người đọc biết đến một thế giới “liêu trai”, hoang drờng, rùng rợn qua tác phấm của
mới. Thời xa vang của Lê Lựu, Ba người khác của Tô Hoài, Mảnh đất lam người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Dòng sóng Mía của Đào Thang... là những tiểu
thuyết khai thác sâu sắc những vấn đề cần nhận thức lại này.
1.2.2.2. Đổi mới kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Tiểu thuyết truyền thống thường triển khai kết cấu theo trình tự thời gian. Ket
cấu này gan chặt với cách tổ chức cốt truyện sự kiện, men theo dòng đời của nhân vật.
Tiểu thuyết thời kì đối mới, bên cạnh những nhà văn vẫn trung thành với kiểu kết cấu
truyền thống thì nhiều tác giả đã tìm tòi, thử nghiệm kiểu kết cấu lắp ghép, phân mảnh,
đồng hiện. Kiểu kết cấu này dựa ừên kĩ thuật lắp ghép (collage) của điện ảnh. Ớ đó, cấu
trúc truyện có vẻ rời rạc, lỏng lẻo, nội dung được kể không tuân theo logic nhân quả,
thường triển khai theo mạch vận động của dòng ý thức, cái ảo và thực đan xen nhau, các
đoạn hội thoại không đặt nặng tính hô ứng rõ rệt, câu chuyện thường hình thành theo
kiếu chuyện nọ xọ chuyện kia... cốt truyện, vì thế ít theo mạch tuyến tính, lỏng lẻo và
rất khó tóm tắt. cốt truyện ‘truyện lồng trong truyện”, “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” rất
được các nhà văn đương đại yêu thích như Nổi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Cơ hội
của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Thoạt kí thuỷ của Nguyễn Bình
Phương... Những hình thức kĩ thuật tạo dựng kết cấu này góp phần thể hiện các tính
sáng tạo của nhà văn. Họ đang chơi trò chơi kết cấu trong lãnh địa tiểu thuyết của mình.
17
Xây dựng nhân vật theo lối ẩn danh, có có nghĩa là thông tin cá nhân của nhân
vật bị mờ hoá đang là xu hướng chủ yếu của tiểu thuyết sau thời kì đổi mới. Nhân vật
không nhất thiết phải có một bộ hồ sơ đầy đủ về bản thân như tiểu thuyết truyền thống
mà chỉ là những ‘"mảnh vỡ” về ngoại hình, về tính cách, thậm chí cả cái tên của nó
cũng không có, hoặc có nhưng không rõ ràng, không ám ảnh. Chẳng hạn, nhân vật T
trong T mất tích của Thuận, tiến sĩ N trong Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh hoặc nhân
vật được mô hình hoá trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. Thiên sứ chỉ đánh số 2 mô
hình I (Quang lùn) và II (Hùng), nhưng người đọc cũng có thế tăng con số đó lên
thành mô hình III (người đần bà công dân), mô hình IV (người không mặt)... Mỗi mô
tưởng, hồi ức, hoài niệm, giấc mơ... Nôi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là cuốn tiểu
thuyết đi được xa nhất trong việc sử dụng bút pháp này đế miêu tả tâm trạng cô đơn,
không thể hoà nhập với cuộc sống thực tại và luôn chìm đắm trong hồi ức, mộng mị
đứt nối. Người sông Mê của Châu Diên miêu tả dòng ý thức phân lập, lẫn lộn, kì quặc
của người sống trong trạng thái mê mê tỉnh tỉnh không phân biệt được mình là Hương
hay Hoa, sống hay đã chết.
Đong hiện vốn là kĩ thuật của điện ảnh nhưng được nhà văn sử dụng như một
bút pháp đế đào sâu vào thế giới tâm linh của con người. Kĩ thuật đồng hiện có khả
năng xoá bỏ sự ngăn cách của các thời quá khứ - hiện tại - tương lai. ơ đó, hiện tại,
hồi tường, ảo giác, giấc mơ được xáo trộn theo chủ đích nghệ thuật của nhà văn và từ
khoảnh khắc tâm lí dó, các vỉa tầng hiện thực và tâm thức nhân vật được đào xới. Có
thể đồng hiện về không gian, thời gian và các bình diện tâm lí nhân vật. Cùng với kĩ
thuật dòng ý thức, thủ pháp đồng hiện có khả năng dịch chuyển điểm nhìn từ bên
ngoài vào bên trong và như thế độc giả dễ dàng nam bắt những trạng thái tâm lí phức
tạp, tinh vi của nhân vật. Nhân vật Kiên trong Nôi buồn chiến tranh luôn có những
tạt ngang về thời gian, không gian nhất là khi anh một lúc mộng mị về tình yêu với
Phương và mộng mị về chiến tranh. Trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo đế cho nhân vật
Thần Tông luôn đi về giữa hai tầng vô thức và hữu thức khi chứng kiến lễ hành hình
cung nữ Ngạn La. Kĩ thuật đồng hiện giúp nhà văn miêu tả những chuyển động thẳm
sâu trong tâm hồn nhân vật.
Lắp ghép vốn là thuật ngữ điện ảnh nhung được sử dụng rộng rãi trong tự sự
hiện đại. Kĩ thuật lắp ghép là sự pha trộn, sắp xếp các hiện tượng xa nhau nhưng
được đặt cạnh nhau đế tạo ra những lớp nghĩa mới. Tiểu thuyết đương đại thường
pha trộn các biểu tượng, các yếu tố kì ảo và giấc mơ khiến cho hiện thực thấm đẫm
chất siêu thực. Xuyên qua biểu tượng, huyền thoại và giấc mơ đó, người đọc sẽ “lọc”
ra chất hiện thực được phản ánh và nắm bắt được ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Bé
19
Hon trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, nhân vật bào thai trong Thiên thần sám hối
20
có sự dịch chuyển từ bên ngoài vào bên trong. Nghĩa là người kế chuyện đã nhập thân
vào nhân vật, nhìn thế giới và trình bày cảm nhận bàng chính cảm nhận của nhân vật
chứ không đứng ở vị trí bên ngoài để quan sát và miêu tả đối tượng. Trong các tiểu
thuyết Cơ hội của Chúa, Nỗi buồn chiến ừ anh, Hồ Quỷ Ly, Mau Thượng Ngàn, Giã
biệt bóng toi, Khải huyền muộn, Phiên bản... điểm nhìn trần thuật có sự dịch chuyển
linh hoạt như thế. Chính điều này tạo nên tính phức điệu, đa âm và gia tăng tính đối
thoại ở tiểu thuyết đương đại.
Thứ hai là đôi mói ngôn ngữ trần thuật. Từ chối thứ ngôn ngữ diễm lệ, mượt
mà của chủ nghĩa lãng mạn, ngôn ngữ giàu chất thơ của văn học cách mạng, tiểu
thuyết đương đại đã có những bước chuyển mình, bứt phá khi tạo ra thứ ngôn ngữ đa
thanh vừa giàu sắc thái đời thường vừa giàu chất triết lí, suy tư. Đó là thứ ngôn ngữ
góc cạnh, thô ráp, thậm chí thô tục. Không còn bị ràng buộc bởi những tín điều đạo
đức luân lí, khát vọng diễn đạt chân thật cái đời sống “đa sự”, con người “đa đoan”,
nhà văn thang than trong cách định danh, định tính, suồng sã trong giọng điệu, thành
phần khấu ngữ gia tăng và cú pháp cũng linh hoạt mềm mại hơn. Không khó đế tìm
thấy những lời trần thuật như: “chúng ta chỉ thu nhận những đức tin đã đóng gói và
chế biến sẵn”, “nền âm nhạc thiếu tự tin của chúng ta"{Thiên sứ), “Con này dáng
người tạm được nhưng răng hơi lộ và thối mồm” {Cõi người rung chuông tận thế)...
hoặc “lạ hoá” ngôn ngữ: “Tóc tôi lên cơn sốt”, “ngôi sao lùn”, “bán đứng V.Hugo cho
nền kinh doanh nước đá”, “các phụ tùng đời sống” {Thiên sứ)... Thứ ngôn ngữ này có
khả năng kéo văn chương gần cuộc sống và diễn đạt chân thực trạng thái xô bồ, hỗn
loạn của đời sống hiện đại.
Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm giàu tính hướng nội,
đậm chất trữ tình là phương tiện hữu hiệu để nhà văn đi sâu vào ừạngthái tâm lí chập
chờn, đút nối, mong manh, mơ hồ và hư ảo của tâm thức con người. Có thể coi Nỗi
buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tấm ván phóng đao của Mạc Can, Người sông mê của
Châu Diên, Thoạt kì thuỷ của Nguyễn Bình Phương... là những tác phấm thành công
Thái, Châu Diên, Nguyễn Nuân Khánh...). Giọng điệu tranh biện, đối thoại nhằm
hướng tới nhận thức sâu hơn, toàn diện hơn các giá trị đời sống (Tiếu thuyết Nguyễn
Việt Hà, Nguyễn Khải, Bắc Sơn, Bảo Ninh.. ,).Giọng trữ tình chủ yếu bày tỏ cảm xúc
cá nhân trước hiện thực đời sống. Giọng điệu hoài nghi thể hiện cái nhìn “bất khả tín”
của nhà văn đối với hiện thực đời sống và bản chất con người (Tiểu thuyết Phạm Thị
Hoài, Hồ Anh Thái, Thuận, Nguyễn Bình Phương...). Nhưng nổi bật nhất làm nên sự
22
đổi mới giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết đương đại là giọng giễu nhại và giọng
vô âm sắc.
Giễu nhại là bắt chước để cười cợt, mỉa mai, hài hước nhằm phê phán những cái
xấu xa, “dị biệt” trong cuộc sống mà chúng ta không thể dung túng, buông tha. Giễu
nhại đã trở thành giọng điệu phổ biến ở nhiều cây bút tiếu thuyết như Iiồ Anh Thái, Tạ
Duy Anh, Nguyễn Việt Iià, Châu Diên, Phạm Thị Hoài... Dường như không có địa hạt
nào là cấm kị đối với nhà văn, từ nếp sinh hoạt trong đời sống đến những vấn đề chính
trị, lí tưởng, từ tầng hữu thức đến tầng vô thức trong mỗi con người. Chẳng hạn: giễu
nhại văn hóa thi hoa hậu: “Bạn sẽ làm gì ngay sau khi đăng quang hoa hậu? Em kính
thưa ban giám khảo, nếu em đăng quang hoa hậu, việc đầu tiên em sẽ hiến thân cho
người nghèo trong xã hội ”(Mười lè một đêm); giễu nhại lối sống của giới trẻ qua
những ca khúc trữ tình hiện đại: “Neu mai anh chết em có buồn không? Một bài rền rĩ
mà nghe chỉ thấy vui vui tai. Thậm chí tôi suýt bật cười. Ngươi cứ việc chết đi, người
tình duy nhất của ngươi, một nữa cuộc đời ngươi sẽ lập tức đi hát karaoke với một
người tình duy nhất khác.” (Cõi người ning chuông tận thế); giễu nhại những tác
phẩm kinh điển ngợi ca lí tưởng một thời: “Lời tuyên bố của anh ta về cái chết “... để
đến khi nhắm mắt xuôi tay, khỏi thấy mình sống hoài sống phí...” đã sổ một nét tàn
nhẫn phân cách đời sống và cõi bên kia, đặt một câu hỏi vô lí về ý nghĩa cuộc đời. (...)
Anh ta hẳn không bao giờ biết tới những thiên sứ pha lê vụt đến, vụt đi, ban phát và
trao tặng không hỏi vì sao, bí ẩn và mỏng manh như bé Hon của tôi” (Thiên sứ)...
Với giọng giễu nhại, những thói hư tật xấu bị bóc mẽ, những nhân cách tha hoá