Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn dưới góc nhìn thể loại - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 




















ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 






















-2013
5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………….6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu……………………………………….9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu………………………………………………10
6. Kết cấu luận văn……………………………………………………… 11
NỘI DUNG……………………………………………………… 12
Chƣơng 1: TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG DÒNG CHẢY
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1 Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại…………… 12
1.1.1 Quá trình đổi mới đất nước và đổi mới văn học ……………….12
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới…………………….………….14
1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn - một hiện tƣợng của tiểu thuyết Việt Nam
đƣơng đại …………………………………………………… 21
1.2.1 Cuộc đời………………………………………………………… 21
6

1.2.1 Con đường sáng tạo văn học ………………………………… 21
1.2.3 Đề tài cơ chế và cải cách trong sáng tác của Nguyễn Bắc
Sơn 23
Chƣơng 2: CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT

KẾT LUẬN…………………………………………………………… 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 86
8

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Bắc Sơn trở thành một hiện tƣợng văn chƣơng khá đặc biệt khi
cuốn tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con đƣợc Nhà xuất bản Hội nhà văn
cho ra mắt công chúng vào tháng 8/2005 thì đến tháng 10 năm đó, Nhà xuất bản
Văn học đã tái bản. Sau đó, 16 báo trong đó có báo hình, báo nói, báo điện tử,
báo in có bài giới thiệu, phỏng vấn tác giả, trích đọc tác phẩm. Nhờ đó, ông nổi
tiếng “sớm” so với độ tuổi “muộn” của mình.
Văn chƣơng vốn là cái nghiệp của đời ông. Dù khi đã bƣớc vào cái tuổi
thất thập nhƣng ông vẫn ghi tên mình vào làng văn với hàng loạt tập bút ký nhƣ:
Người dẫn đường trời (1999), Hoa lộc vừng (1999), Hồng Hà ơi (2000), Nghề
đi mây về gió (2001), Đá dậy thì (2004), cùng các tập truyện ngắn: Thực hư
(1998), Quyền không được yêu (2000), Người đàn ông quỳ (2001), Luật đời
(2003)… Qua đó, cho thấy một cây bút Nguyễn Bắc Sơn “chín muộn, nhƣng ào
ạt, dồn dập, tràn đầy sinh lực” (Hoàng Minh Tƣờng).
Nguyễn Bắc Sơn đến với tiểu thuyết khi mái đầu đã điểm bạc. Cuốn tiểu
thuyết Luật đời và cha con xuất bản năm 2005. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay
với sự dồn nén, tìm tòi, chiêm nghiệm và tâm huyết của một mái đầu bạc trắng
sau hơn 40 năm mê đắm văn chƣơng từ cái thuở đứng trên bục giảng rồi làm
cán bộ quản lý ở trƣờng cấp 3 Chu Văn An. Theo nhà thơ, đạo diễn điện ảnh Đỗ
Minh Tuấn: “Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên mổ xẻ
sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế, một sự vận động
đụng chạm chạm đến từng gia đình, từng số phận”. Tác phẩm đã đƣợc chuyển
thể thành kịch bản phim Luật đời phát sóng trên kênh VTV1 của Đài truyền
hình Việt Nam. Ngay sau khi công chiếu, bộ phim đã thu hút sự quan tâm đông
9

văn đàn đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và ngƣời đọc.
Xung quanh 2 tiểu thuyết này đã có gần 30 bài phê bình, bài phỏng vấn và 2
cuộc tọa đàm. Một do báo Văn nghệ tổ chức ngày 26/12/2005 với Luật đời và
cha con và một do Hội nhà văn tổ chức 9/ 2011 với Lửa đắng, sau khi nó đƣợc
nhận giải ba cuộc thi tiểu thuyết (Hội nhà văn tổ chức trong 2 năm 2008 –
2910).
2.1 Các ý kiến nhận xét về tiểu thuyết “Luật đời và cha con”:
Trên báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Tuổi trẻ, Lao động ,Thể thao và Văn
hóa, Hà Nội mới, Người Hà Nội, An ninh Thủ đô cuối tuần, Tạp chí Nhà văn …
nhƣ: Luật đời và cha con (Đỗ Minh Tuấn), Luật đời và cha con (Hoàng Minh
Tƣờng), Cái nhìn hiện thực và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
(PGS.TS Nguyễn Bích Thu) hay Đi qua ranh giới để tồn tại (PGS.TS Nguyễn
Đăng Điệp), Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới (Nguyễn Chí Hoan), Một bức
tranh sống động (Công Minh), Chuyện không chỉ của thời nay (Phạm Xuân
Nguyên)… Do giới hạn dung lƣợng và sự chi phối của mục đích nghiên cứu nên
chỉ đi sâu một khía cạnh nào đó liên quan tới nội dung và hình thức nghệ thuật
của tiểu thuyết.
Bài viết của Nguyễn Đăng Điệp đánh giá: “Chính việc biết tạo nên nhiều
sắc thái giọng điệu khác nhau đã khiến cho tác phẩm không rơi vào đơn điệu.
Ngôn ngữ Nguyễn Bắc Sơn là thứ ngôn ngữ gần gũi với cuộc sống. Ông sử
dụng khá nhiều khẩu ngữ, xây dựng nhiều tình tiết mang tính kịch và biết gia
tăng chất giọng hài hƣớc, dí dỏm… Vì thế, khi đọc Luật đời và cha con, ngƣời
đọc nhƣ đƣợc tiếp xúc trực tiếp với những luồng điện nằm sẵn trong đời, đƣợc
thấy phù sa đời sống chạm vào xúc giác của mình, đƣợc hít thở vị mặn của cuộc
sống đang diễn ra trƣớc mắt ta từng phút giây”.
11

Trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 31/03/2006, Nguyễn Chí Hoan đã chỉ
ra những đổi mới trong tiểu thuyết Luật đời và cha con: “Cuốn tiểu thuyết này
đặt trọng tâm và dựa cả vào nhân vật và cốt truyện, trong đó phần của các nhân

Từ lúc Lửa đắng ra đời, đã có hơn 20 đơn vị báo chí phỏng vấn, viết bài
giới thiệu. Thêm vào đó là một số bài nghiên cứu, phê bình trên báo Văn nghệ,
Công lí, Nhà báo và công luận …
Vũ Duy Thông trong bài Thay lời giới thiệu cho cuốn tiểu thuyết Lửa
đắng nhận định: Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết viết về ngày hôm nay, ở ngay
dòng chảy chính của hiện thực, trực tiếp có mặt ở những va đập kiến tạo ra nó,
cả những đổ vỡ hào sáng, cả những kết tụ phũ phàng. Thành công đầu tiên của
Nguyễn Bắc Sơn trong Lửa đắng là đã xây dựng đƣợc một dàn nhân vật là
những ngƣời phần nhiều có chức, có quyền không phải là những hình nộm khô
khan minh họa cho một triết lý sống; không phải là những hình kỷ hà trống rỗng
để tác giả trút vào đó quan niệm của mình về họ. Các nhân vật của ông tồn tại
nhƣ ngƣời đang sống quanh ta, bởi thế, có lẽ là đầu tiên một cách có hệ thống,
trong tiểu thuyết đƣơng đại, ngƣời đọc đƣợc hé mở tấm màn của chủ nghĩa sơ
lƣợc để tiếp cận với lớp ngƣời vẫn thƣờng đƣợc gọi là “quan” trong xã hội với
tấm chân dung chân thực của nó.
Đánh giá về tiểu thuyết Lửa đắng, Lê Thành Nghị cho rằng: Đây là một
cuốn tiểu thuyết thế sự - đạo đức bởi nó viết một cách trực diện về hiện thực
nóng bỏng của đất nƣớc hôm nay, hiện thực nhọc nhằn của công cuộc đổi mới,
hiện thực của cái cũ, lạc hậu với những kìm hãm ghê gớm đầy quyền lực, đầy
thủ đoạn của nó và cái mới, cái tốt đẹp, cái hợp quy luật, hợp lòng ngƣời quyến
rũ nhƣng mong manh Về nghệ thuật thể hiện, Lê Thành Nghị nhận xét: Lửa
đắng chọn lối kể chuyện cổ điển, một văn phong giản dị, ít bay bƣớm, văn hoa,
13

một giọng điệu mang tính thông tấn, báo chí tƣơng đối nhanh và hiệu quả.
Nhiều chỗ là dòng ý thức của tác giả, của nhân vật làm tăng chiều kích của tâm
trạng, của tâm lý và vì vậy tăng thêm tính chân thực nghệ thuật. Nhiều chỗ là
những bình luận, những trang chính luận sâu sắc. Tác giả không hề tả cảnh,
không hề cài đặt huyền ảo sống sít, nhƣng lại có ý thức đa chất hài (đầy màu sắc
chợ búa) vào đúng chỗ cần thiết (trong cuộc trƣng cầu ý kiến các hộ buôn bán

thể sau:
- Đƣa ra một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong mối
quan hệ với các xu hƣớng sáng tác tiểu thuyết giai đoạn hiện nay.
- Chỉ ra những nét nổi bật trong thi pháp thể loại của tiểu thuyết Nguyễn
Bắc Sơn về cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp loại hình, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp phân tích,
phƣơng pháp so sánh, và phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học.
6. Cấu trúc của luận văn:
15

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chƣơng. Cụ thể nhƣ sau:
Chƣơng 1: Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong dòng chảy của tiểu thuyết
Việt Nam đương đại.
Chƣơng 2: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn.
Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn.
16

NỘI DUNG
Chƣơng 1
TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG
DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại
1.1.1. Quá trình đổi mới đất nước và đổi mới văn học
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với đại thắng mùa xuân năm 1975 đã
mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Trong chiến tranh, đất nƣớc ta
đã phải gồng mình chuẩn bị sức ngƣời, sức của cho tiền tuyến. Hậu quả để lại
thật nặng nề. Vì vậy, ta phải dồn sức để khôi phục lại cuộc sống sau chiến tranh.

thuật của giới văn nghệ sĩ. Nếu nhƣ văn học trong giai đoạn trƣớc chủ yếu phục
vụ cho mục tiêu chung của cách mạng thì giai đoạn này, văn học bám sát quá
trình xây dựng và phát triển đất nƣớc nhƣng cần nhấn mạnh ở sự phản ánh hiện
thực và vai trò dự cảm, dự báo.
Trong thời bình, con ngƣời trở lại với cuộc sống thƣờng nhật với biết bao
những vấn đề xã hội nhƣ: hôn nhân, gia đình, tôn giáo, sự thức tỉnh cá nhân,
phụ nữ…. Và văn học phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề còn đang
tồn đọng này trong xã hội.
Có thể khẳng định rằng, văn học đã bắt kịp quá trình đổi mới của đất
nƣớc. Chính vì vậy, nó đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều sáng tạo
về nghệ thuật….
18

1.1.2. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Thực tiễn văn học từ sau thời kỳ đổi mới cho thấy có hàng loạt cuốn tiểu
thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của các tác giả hải ngoại. Nhƣ vậy tiểu
thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày càng
nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng nhƣ “giá trị
tiềm ẩn” của thể loại trong tƣơng lai.
Trong thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật, Việt Nam cũng nhƣ ở nƣớc
ngoài luôn song hành các tác phẩm viết theo thi pháp truyền thống và hiện đại.
Mỗi xu hƣớng sáng tác đều có chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận của riêng
mình cũng nhƣ đều có những thành công và hạn chế. Do vậy không vì cổ xuý
cách tân mà khƣớc từ truyền thống và cũng không vì truyền thống mà dị ứng
với cái mới. Xét cho cùng, khi viết theo thi pháp truyền thống ngƣời viết cũng
đã nỗ lực đổi mới về nội dung cũng nhƣ ở nghệ thuật trần thuật. Nhìn chung,
những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống phản ánh một cách đầy đủ và
trung thực những trải nghiệm của đời sống con ngƣời. Về mặt tự sự, nó hấp dẫn
ngƣời đọc trƣớc hết bằng nội dung chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống
của một nhân vật mang tính cách giống hay khác với họ. Tính thẩm mỹ của tiểu

những thăng trầm của đời sống xã hội: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn
Khắc Trƣờng), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dƣơng Hƣớng), Dòng
sông mía (Đào Thắng), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân
Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình
Quang), Cõi mê (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc
Sơn), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia
đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân
Khánh), Ba người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng)… Các
nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời ngƣời, một thân phận trong hành
trình của thế kỷ XX gắn với chiều dài lịch sử qua bao cuộc “bể dâu”. Mỗi tiểu
20

thuyết là một cách khai thác sâu hơn về cõi ngƣời, cõi đời để đạt đƣợc một tầm
sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh.
Các tiểu thuyết nói trên đều hƣớng tới hệ quy chiếu, đó là thế giới riêng
của những con ngƣời chịu nhiều nếm trải cay đắng, thấm đẫm sắc thái bi hài của
số phận. Hơn nữa, tiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con ngƣời
Việt Nam ở hải ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T. mất tích (Thuận),
Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai), Gió từ thời khuất mặt (Lê
Minh Hà), Thảo (Võ Hoàng Hoa), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phƣợng), Quyên
(Nguyễn Văn Thọ) Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thể loại, làm
cho diện mạo tiểu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộc
đời và con ngƣời trong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn.
Hiện thực đời sống con ngƣời với những tâm tƣ, khát vọng, những bi
kịch riêng tƣ chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài đƣợc các cây bút tiểu
thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều sâu mới.
Trong những năm gần đây nhiều tiểu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc
giả: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng
đế thì cười (Nguyễn Khải), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Gia đình bé mọn
(Dạ Ngân), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng). Tìm đến chất liệu cái tôi, các

bỏ khoảng cách tƣ duy nghệ thuật giữa văn học Việt Nam và những nền văn học
tiên tiến của nhân loại. Bao trùm trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phƣơng, Nguyễn Danh Lam, Thuận là một thế giới vô hồn, một thế giới
“mờ”, khó tìm thấy một gƣơng mặt chính thống. Ngƣời đọc thấy ở các tiểu
thuyết Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Giữa vòng vây trần gian, T. mất tích, Kín, Nháp…
sự “hồ nghi tồn tại nhƣ một loại hình tâm trạng làm nên cảm quan của thời đại
mới. Các nhà nghiên cứu gọi đó là “dấu hiệu cảm quan hậu hiện đại” (Lã
Nguyên).
22

Các tiểu thuyết theo hƣớng hiện đại đã tạo nên cảm giác về sự trôi dạt của
thân phận con ngƣời. Các thủ pháp nghệ thuật nhƣ đồng hiện, kỹ thuật dòng ý
thức, độc thoại nội tâm, môtíp giấc mơ, ký ức, vọng niệm đã tỏ ra có hiệu lực
bộc lộ những miền sâu kín và bí ẩn của con ngƣời. Ở đây xu hƣớng tự do,
phóng khoáng trong các kiểu diễn ngôn, sự co giãn, mềm dẻo của kết cấu, sự
không liên tục của ý tƣởng, chối bỏ sự trau chuốt mang tính tu từ đã góp phần
tạo nên giọng điệu mới với các sắc thái thẩm mỹ đa dạng. Tất cả đã nói lên một
cái gì đó về một tâm thức đã xuất hiện nhƣng không dễ phát hiện trong đời sống
hôm nay: tâm thức hậu hiện đại.
Bằng những “âu lo”, “bất ổn” trên bề mặt giọng điệu, nhà tiểu thuyết
hƣớng độc giả đến những “bất ổn”, “lo âu” ở đáy sâu đời sống hiện thực, khiến
họ phải trăn trở nhiều hơn, nghĩ ngợi nhiều hơn trƣớc những gì đƣợc viết ra. Ở
đó hàm chứa một thái độ “kép”, mâu thuẫn và phức hợp; cƣời cợt, giễu nhại cái
cũ song cũng chƣa tạo đƣợc một niềm tin bền chắc vào cái mới. Đó là thái độ
tìm kiếm hơn là khẳng định. Từ đó, giọng điệu ngả sang phía cật vấn, hoài nghi
nhƣ một hệ quả tất yếu: các nhân vật thƣờng xuyên đặt câu hỏi với chính mình,
với những nhân vật khác, với cả chính ngƣời viết và ngƣời đọc. Trong các tác
phẩm Tấm ván phóng dao, Thoạt kỳ thủy, T. mất tích, Giữa vòng vây trần
gian hầu nhƣ đều là những câu hỏi còn bỏ ngỏ về thân phận và cuộc đời con
ngƣời, là những cuộc tìm kiếm bản ngã và cá tính, hạnh phúc và bình yên, niềm

ngƣời đọc nhận ra chất thơ thẩm thấu vào cơ cấu bên trong của tác phẩm. Sự
xâm nhập của tiểu luận triết học trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
của Hồ Anh Thái khiến tác phẩm mang một giọng điệu trầm tƣ, giàu suy ngẫm,
kích thích cảm hứng đồng liên tƣởng, sáng tạo của chủ thể tiếp nhận.
Sự làm mới cách thức thể hiện tiểu thuyết với hiện tƣợng liên văn bản
xuất hiện một cách thƣờng xuyên ở nhiều cấp độ và dạng thức khác nhau tạo
24

nên kiểu kết cấu truyện lồng truyện. Hình thức văn bản trong văn bản góp phần
tạo nên những tiếng nói khác nhau, mở rộng trƣờng nhìn, đa dạng hóa cấu trúc
của tiểu thuyết. Với hình thức này, tác phẩm sẽ tạo nên sự liên thông giữa thế
giới thực và thế giới ảo (Đi tìm nhân vật, Thoạt kỳ thủy ) và nhân vật trong tiểu
thuyết sẽ “đƣợc sống lập thể” ở nhiều thế giới khác nhau, nhập nhiều vai khác
nhau, các giới hạn không gian, thời gian do vậy đƣợc mở ra đến vô hạn (Paris
11 tháng Tám, Và khi tro bụi, Đức Phật, nàng Savitri và tôi ).
Từ sau thời kỳ đổi mới và nhất là trong những năm gần đây, đổi mới tƣ
duy tiểu thuyết ở các nhà văn đã dẫn đến những cách tân quan trọng trên cả
phƣơng diện nội dung và hình thức, đặc biệt ở hình thức, ở quan niệm về chất
liệu, làm mới ngôn ngữ tiểu thuyết hƣớng tới tính hiện đại, thậm chí hậu hiện
đại của văn học thế giới. Tác động của các tiểu thuyết hƣớng tới sự cách tân
triệt để đã ảnh hƣởng không nhỏ đến vấn đề tiếp nhận văn học của độc giả
đƣơng đại. Với ngƣời đọc nói chung, các tiểu thuyết viết theo lối mới, đặc biệt
những tác phẩm có sự kết hợp hiệu quả của cách thức diễn đạt với nội dung
mang tính nhân văn sâu sắc đã tạo ra một “trào lƣu văn hóa đọc” khá sôi nổi
trong công chúng (Giàn thiêu - Võ Thị Hảo, Mẫu thượng ngàn - Nguyễn Xuân
Khánh, Mười lẻ một đêm - Hồ Anh Thái, Tấm ván phóng dao - Mạc Can, Dưới
chín tầng trời - Dƣơng Hƣớng, Thượng đế thì cười - Nguyễn Khải). Chính điều
này sẽ góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và “tầm đón đợi mới” với thể loại
của ngƣời đọc, rút ngắn khoảng cách đẳng cấp của ngƣời đọc. Tuy nhiên có một
vấn đề đặt ra ở đây là không phải tiểu thuyết cách tân nào cũng có độc giả. Trên

Trƣởng phòng quản lý báo chí, xuất bản, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội thì ông
nhận lời ngay. Ông bảo, không vì cái chức trƣởng mà ông ham đâu, cái quan
trọng là về đây làm sẽ “thỏa chí tang bồng” với sự viết lách của ông hơn thôi.
26

1.2.1 Con đường sáng tạo văn học
Vốn là ngƣời thích tìm tòi, sáng tạo nhƣng thời gian và công việc không
cho phép sáng tác, giờ đƣợc làm ở mảng báo chí. Ông sẽ tha hồ “thỏa chí tang
bồng. Giờ đƣợc làm bên mảng báo chí, xuất bản thì ông sẽ có điều kiện tiếp xúc
nhiều hơn, học hỏi và cập nhật đƣợc nhiều thông tin hơn. Ở đây, Nguyễn Bắc
Sơn mới có thể rời thế giới mô phạm để thực sự đƣợc cọ xát với đời sống, thực
tế. Chính trong khoảng thời gian này, ông đã có hàng loạt bút ký và truyện ngắn
nhƣ “Hoa lộc vừng”, “Hồng Hà ơi”, “Thực hư”, “Quyền không được yêu”…
đồng thời, ông cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu rất ấn tƣợng.
Là ngƣời đam mê tìm tòi, những gì với ông cần đƣợc lý giải thì ông phải
tìm bằng đƣợc cách lý giải. Trƣớc đó, ông là ngƣời có hai bút ký trƣờng thiên
về cầu Long Biên và Sông Hồng đƣợc in trong “Bộ tổng tập tạp văn và ký Hà
Nội ngàn năm” và 2 cuốn sách khác. Ông cũng có những kiến giải rất hay về
các vấn đề lịch sử ví nhƣ bài “Trận địa cọc Bạch Đằng đƣợc thi công nhƣ thế
nào”, “Vì sao một số ít ngƣời thuận tay trái, vì sao đa số rẽ ngôi tóc bên trái”,
“Bàn tính gảy Trung Quốc đã ra đời nhƣ thế nào?” .v.v.
Có lần đi máy bay, ông cũng tò mò ngƣời ta làm cái nghề này nó nhƣ thế
nào, thú vị hay không? Cứ nhƣ vậy, tập sách viết về lao động đặc thù của những
ngƣời “Đi mây về gió” ra đời… Rồi khi làm ở Phòng Quản lý báo chí, xuất bản
ông cũng là ngƣời góp ý, sửa đổi mấy văn bản quyphạm pháp luật liên quan đến
ngành của mình.
Sống hết mình, làm việc cũng hết mình, dù ở vị trí nào, với ông cũng phải
làm cho tốt. Tuy nhiên, trong thời gian làm ở đây, ông cũng nhận thấy rằng, khi
mà cơ chế thị trƣờng đang dần xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn thì đời sống
con ngƣời, tƣ duy và bản lĩnh của nhiều ngƣời cũng phức tạp và đổi thay để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status