Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (qua một số tác phẩm đoạt giải - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………….

PHÙNG TH HNG THM

TIU THUYT VIT V NÔNG THÔN
TH I MI
(QUA MT S TÁC PHT GII)
LUC Hà Ni- 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……………………….
PHÙNG THỊ HỒNG THẮM TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN

CẢNH VĂN HỌC THỜI KÌ ĐỔI MỚI 11
1.1. Đổi mới tư duy tiểu thuyết 11
1.2. Tiểu thuyết viết về nông thôn trong bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết thời kì đổi
mới 14
CHƯƠNG 2: HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT 20
2.1. Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn 20
2.1.1. Những vùng quê nghèo khó 20
2.1.2. Một nông thôn “đất lề quê thói” 25
2.1.3. Những làng quê “đang trải qua khoảnh khắc cuối của đêm dài trước bình
minh” 31
2.2. Thế giới nhân vật 35
2.2.1. Thế giới nhân vật phong phú, đa dạng, có mối quan hệ nhiều chiều 36
2.2.2. Thế giới nhân vật hiện thân cho những hệ tư tưởng đối lập nhau 41

2
CHƯƠNG 3: TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN 47
3.1. Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật: 47
3.1.1. Xây dựng những chi tiết ngoại hình: 47
3.1.2. Khắc hoạ nội tâm nhân vật 53
3.1.3. Miêu tả hành động nhân vật 55
3.2. Ngôn ngữ 58
3.3.1. Ngôn ngữ trần thuật (ngôn ngữ người kể chuyện): 58
3.3.2. Ngôn ngữ nhân vật: …………………………………………… 62
3.3. Không gian và thời gian nghệ thuật.…………… 64
3.3.1. Không gian nghệ thuật……………… 65
3. 3.2. Thời gian nghệ thuật : ……………………………………… 68
3.4. Kết cấu. 70
KẾT LUẬN …………………………………………… 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………… 77

những trang văn đầy tâm huyết của các nhà văn khi xây dựng nhân vật người nông
dân cùng hiện thực đời sống nông thôn Việt Nam.
1.3. Trong hàng loạt những tác phẩm văn xuôi viết từ sau đổi mới về đề tài
nông thôn Việt Nam, Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng),
Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng
Minh Tường) và Dòng sông mía (Đào Thắng) là những tác phẩm tiểu biểu, đặc sắc.
Giá trị nội dung và nghệ thuật của những tác phẩm ấy đã được khẳng định bằng

4
Giải thưởng của Hội nhà văn. Đề tài Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới
(qua một số tác phẩm đoạt giải) cho phép chúng tôi đánh giá những đóng góp của
các cây bút đó từ góc độ đặc trưng thể loại tiểu thuyết. Chúng tôi hi vọng đề tài
được lựa chọn sẽ góp một tiếng nói nhỏ vào định hướng chung của nền văn hóa
nghệ thuật nước nhà, thêm một sự đồng thuận trong thái độ của cộng đồng với vấn
đề nông thôn Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Nông thôn là một trong những đề tài lớn được quan tâm hàng đầu của đời
sống văn học trước 1945. Có hàng loạt những cây bút lớn mà tên tuổi của họ gắn
với những tác phẩm viết về đề tài nông thôn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn
Công Hoan Văn học hiện thực 1930- 1945 đã phản ánh sâu sắc, “ám ảnh” về một
giai đoạn lịch sử đầy nhọc nhằn, nhiều đau thương của nhân dân Việt Nam, đặc biệt
là người nông dân. Cùng với đó, rất nhiều những công trình nghiên cứu, những bài
phê bình, tiểu luận về đề tài này đã ra đời. Với mỗi tác giả lớn của văn học hiện
thực 1930- 1945 như đã kể trên đều có những Tuyển tập tác gia- tác phẩm. Đó là
những cuốn sách tuyển chọn những bài viết tiêu biểu của các nhà nghiên cứu phê
bình về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả, về giá trị trên tất cả mọi bình diện của
một hay một nhóm tác phẩm cụ thể. Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Văn
Đức, Trần Đăng Xuyền, Phạm Xuân Nguyên, Bích Thu, Nguyễn Đăng Mạnh đã
có nhiều gắn bó với hiện tượng văn học này. Những vấn đề xung quanh cuộc đời
con người tác giả, tác phẩm trong sự tiếp nhận và thưởng thức, phong cách nghệ

chí văn học số 5- 1987 có đăng bài Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời
xa vắng” của tác giả Nguyễn Văn Lưu. Trong bài tác giả có viết: “Tiểu thuyết Thời
xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong
cách nhìn nhận, đánh giá thực tại. Ở đây không đơn thuần là một bi kịch tình yêu
của anh nông dân Sài nào đó mà còn là những vấn đề tâm lý- xã hội chung của thời
đại bộc lộ ra trên đường đời của anh thanh niên nông thôn đi vào cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa đầy nhiệt tình hăm hở nhưng chỉ có, chỉ đem theo, chỉ trang bị
bằng hành trang tinh thần và đạo đức của người nông dân nên không tránh khỏi vấp
váp và trả giá…”. Vấn đề mà tác giả nhiều bài viết nhận thấy trong Thời xa vắng là

6
sự bất cập của việc đặt nhu cầu của tập thể lên trên nhu cầu cá nhân. Bi kịch cuộc
đời nhân vật Sài với triền miên những chịu đựng bộc lộ được tình trạng căng thẳng
của một bộ phận quần chúng trong công cuộc xây dựng đất nước.
Tác giả Thuỵ Khê trong bài “Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật” viết rằng:
có một “khuynh hướng văn học đấu tranh, phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm
quá khứ, như Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng ”
(Nguồn: www.Geocities.com/lynguyen27do/taduyanh-thuykhue.htm). Ở những tiểu
thuyết ấy, các nhà văn xây dựng câu chuyện xung quanh chủ đề lời nguyền và thù
hận. Và từ đó những bi kịch của cá nhân con người, bi kịch của gia đình, dòng họ
và hơn hết là bi kịch của cả một xã hội trong một thời kì lịch sử đã qua được đặt ra
đầy đau đớn, ám ảnh.
Dòng sông mía của Đào Thắng là tác phẩm ra đời muộn hơn cả so với những
cuốn tiểu thuyết cùng đề tài nói trên song thực sự đã mang lại cho người đọc những
trang viết thú vị về nông thôn Việt Nam. Với PGS. TS Lí Hoài Thu, “Dòng sông
mía” là “một không gian tiểu thuyết vừa quen thuộc vừa mới mẻ” (tên bài viết). Tác
giả bài viết đã đi từ nét quen thuộc: quen thuộc từ hình ảnh dòng sông, cùng “bức
tranh thu nhỏ của một vùng dân cư có nghề chính là trồng mía, làm đường” để chỉ
ra những nét “mới mẻ”, độc đáo của Dòng sông mía. Tác giả Lí Hoài Thu đã chỉ ra

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đề tài nông thôn trong năm tiểu thuyết
đoạt giải (viết từ sau 1986- cái mốc của sự đổi mới toàn diện đời sống xã hội): Thời
xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Dòng sông
mía (Đào Thắng). Đây đều là những tiểu thuyết được Hội nhà văn trao giải thưởng
thường niên. Tuy thời điểm sáng tác của mỗi tác giả không trùng lặp, nhưng tác
phẩm của họ lại gặp nhau ở ý tưởng tái hiện lại gương mặt nông thôn một thời đã
qua với những cái “có thật”, để thế hệ sau có thể biết- có thể hiểu- có thể so sánh

8
làng quê xưa và nay có đặc điểm gì đã biến chuyển, có đặc trưng gì vẫn bảo tồn bền
vững trở thành hồn cốt của nông thôn Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Hướng tiếp cận của đề tài xuất phát từ đặc trưng thể loại tiểu thuyết. “Trong
mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả năng phản ánh
toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc hết sức gần gũi” [32,
tr. 189]. Bằng hướng tiếp cận đó, chúng tôi đi sâu khai thác bức tranh hiện thực và
thế giới nhân vật được thể hiện trong mỗi tác phẩm. Sự thành công của một tác
phẩm là kết quả của sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và nghệ thuật biểu hiện. Tìm
hiểu các tác phẩm này gắn với nét đặc sắc trong nghệ thuật biểu hiện của mỗi cây
bút, chúng ta sẽ hiểu sâu sắc hơn hình tượng người nông dân và bức tranh nông
thôn Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài, trước hết chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân
loại. Thao tác thống kê mang lại rất nhiều tác phẩm viết về đề tài nông thông qua
các giai đoạn, làm cơ sở cho bước so sánh trong quá trình triển khai nội dung. Thao
tác phân loại rất quan trọng để lựa chọn ra một nhóm tác phẩm phù hợp với đối
tượng và mục đích của đề tài, và kết quả đã tìm ra được năm tiểu thuyết như đã giới

nông thôn trong tổng thể tiểu thuyết thời kì đổi mới để thấy được cái riêng, nổi trội
của đề tài so với những đề tài khác.
Chương 2: HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
Chương 2 cụ thể hóa nội dung được phản ánh trong năm tiểu thuyết, trong đó
có hai phần minh bạch là hiện thực cuộc sống và thế giới nhân vật. Người đọc tìm
thấy trong đó những vùng quê nghèo khó, một nông thôn còn nặng “đất lề quê thói”,
và một nông thôn vẫn đang trong khoảnh khắc cuối của đêm dài trước bình minh.
Trong bức tranh làng quê ấy có một thế giới nhân vật hết sức phong phú, phức tạp,
với những mối quan hệ nhiều chiều và đối lập nhau về tư tưởng giữa các thế hệ.
Một nông thôn vừa cũ, vừa mới; vừa bình yên, vừa rối loạn hiện lên chân thực,
sinh động qua từng trang viết.

10
Chương 3: TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
Chương 3 đi vào khai thác những phương thức biểu hiện nổi bật của năm tiểu
thuyết. Hướng nghiên cứu của đề tài xuất phát từ đặc trưng thể loại tiểu thuyết, bởi
thế bên cạnh phần nội dung hiện thực thì những vấn đề về hình thức nghệ thuật
cũng hết sức quan trọng. Hình thức đóng vai trò chuyển tải hiệu quả nội dung của
văn bản. Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi đã đề cập đến nghệ thuật xây
dựng nhân vật, yếu tố ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật và kết cấu.
Chúng tôi cho rằng đó là những phương diện cơ bản và góp phần đắc lực làm nên
thành công của năm bộ tiểu thuyết.


hiện thực, con người trong sự biện chứng, trong sự thật như nó vốn có. Cùng với
một đối tượng, nhưng mỗi nhà văn với cách nhận thức riêng lại thể hiện đối tượng
ấy từ những góc độ khác nhau với đầy những phát hiện mới mẻ. Như vậy trong bản
thân “tư duy tiểu thuyết” đã có những đổi mới rõ rệt, phù hợp và cần thiết cho một
xã hội hiện đại.
Vậy đổi mới tư duy tiểu thuyết là đổi mới gì? Khi xã hội bước sang một thời
đại mới, với những thay đổi toàn diện về cả chính sách và quan niệm, thì văn
chương cần có một cách viết mới, hướng tới một đối tượng rộng hơn so với trước.
“Văn học là nhân học”, đối tượng muôn đời của văn học là con người, nhưng tư duy

12
của con người hiện đại đã thay đổi. Vậy nhà văn cũng phải đổi mới tư duy cho phù
hợp, làm sao để thấu hiểu sâu sắc và tái hiện sinh động, chân thực con người hiện
thực trong bối cảnh xã hội mới. Hoàng Quốc Hải trong bài Lại bàn về đổi mới tư
duy (Bài viết tham dự Hội thảo về “Đổi mới tư duy tiểu thuyết”- họp ngày
07/11/2002 tại Đại Lải) cho rằng: Đổi mới tư duy tiểu thuyết trước hết là “đổi mới
nhận thức của nhà văn trước những biến thái xã hội của thế giới ”, nghĩa là “Nhà
văn cứ viết, viết không phụ thuộc vào hình thức biểu hiện, không phụ thuộc vào sự
cho phép hay không cho phép của bất cứ ai ”. Đó là quan niệm hướng tới phản ánh
sự thật theo chính sách đổi mới toàn diện của Đảng, nhà nước. Nhưng dù đổi mới
bằng cách nào, thì văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng vẫn phải đạt tới chuẩn
mực về sự hấp dẫn, nhân văn và nhân đạo.
Như đã nói ở trên, đổi mới tư duy tiểu thuyết không gì khác chính là sự thay
đổi quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn. Trước 1975, các nhà văn
nhận thức và thể hiện hiện thực gắn với hai cuộc chiến tranh vệ quốc dân tộc. Hiện
thực cuộc sống và con người được miêu tả mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn. Hiện thực ấy được lý tưởng hoá, biểu dương tô đậm sức mạnh tinh
thần con người Việt Nam, với giọng điệu ngợi ca là nổi bật. Nguyễn Khải viết
truyện ngắn Mùa lạc năm 1960- những năm đầu của công cuộc xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở Miền Bắc. Với niềm tin lạc quan vào cuộc sống mới, vào những đổi thay tốt

Tư duy sử thi khẳng định “sự tất định”, khẳng định một chân lí đúng độc tôn
là con người hoặc là hoàn toàn tốt, hoặc là hoàn toàn xấu. Được “sự chỉ đạo” bởi tư
duy ấy, cho nên con người trong văn học chiến tranh là con người biểu dương cho
lý tưởng, mọi chuẩn mực đạo đức đều được soi chiếu dưới lí tưởng cách mạng, luôn
mạch lạc rạch ròi giữa thiện- ác, cao cả- thấp hèn Tư duy tiểu thuyết lại khẳng
định sự không ổn định, không cố định, không tuyệt đối của bất kì sự vật, con người
nào. Trong mỗi khoảnh khắc, mỗi hoàn cảnh, mỗi thời điểm, cuộc đời, con người có
thể thay đổi, chuyển biến như những biến thái của kiếp hiện sinh. Bởi thế, con
người trong tiểu thuyết thời kì đổi mới là con người được hình dung từ nhiều chiều,
không nguyên phiến. Con người ấy được tái hiện với đầy đủ những cung bậc cảm
xúc, đan xen cái tốt- cái xấu, biết khao khát, biết yêu thương, biết căm thù, biết sợ

14
hãi, biết lừa lọc, biết dối trá, biết hận thù, Con người không phải là phương tiện để
chuyên chở đạo đức, lý tưởng mà luôn vận động trong hành động và nội tâm. Đó là
con người luôn biết đấu tranh giữa đúng- sai, bị giằng xé giữa thiện- ác, được - mất,
hạnh phúc- khổ đau. Bên trong và bên cạnh con người lí trí là con người bản năng,
con người tự do.
1.2. Tiểu thuyết viết về nông thôn trong bức tranh toàn cảnh
tiểu thuyết thời kì đổi mới.
Hiện thực đời sống của xã hội khi bước vào thời kì đổi mới thực sự là mảnh
đất tiềm năng cho sự phát triển và sáng tạo thể loại tiểu thuyết. “Nếu thừa nhận cảm
hứng về con người với những bước thăng trầm của số phận là đặc trưng nổi bật của
tiểu thuyết thì rõ ràng, tiểu thuyết thời kì đổi mới đã khơi đúng, khơi sâu vào mạch
chính của thể loại” [31, tr.176]. Nửa sau thập niên 80, thập niên 90 của thế kỷ XX,
đời sống văn học xuất hiện một loạt tiểu thuyết “làm cho văn đàn sôi động và sóng
gió”. Tác giả Bùi Việt Thắng thống kê, sau 1975 “đã xuất hiện hàng loạt nhà văn
chuyên tâm viết tiểu thuyết và có nhiều thành công đáng kể như: Chu Lai (11 tiểu
thuyết), Lê Lựu (7 tiểu thuyết), Nguyễn Khải (7 tiểu thuyết), Ma Văn Kháng (8 tiểu
thuyết) ” [21, tr. 183].

sông mía (2004),, Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002), Hoàng Minh Tường với
bộ tiểu thuyết Gia phả của đất, gồm: Thuỷ hoả đạo tặc, Đồng sau bão, Ngư phủ, và
tiểu thuyết Thời của Thánh Thần, Phạm Ngọc Tiến với Những trận gió người (sau
đổi thành Gió làng Kình)
Nhìn vào sự thống kê (tuy còn tương đối) ở trên có thể thấy đề tài nông thôn
là đề tài có sức hấp dẫn đối với nhiều cây bút và thu được nhiều thành tựu hơn cả
trong giai đoạn này. Nhà văn, nhà biên kịch Phạm Ngọc Tiến đã công nhận rằng:
“chất dân dã của người nông dân tạo nên diện mạo cho nhân vật có tính cách riêng
biệt, điển hình, sinh sắc. Hình thái sinh hoạt nông thôn dễ đưa vào tác phẩm. Đề tài
nông thôn chứa đựng nhiều vấn đề trong đó như nhân sinh, đổi đời, băng hoại đạo
đức ”. Vấn đề không mới, song giá trị và sức hấp dẫn nằm trong sự khám phá của
mỗi nhà văn.
Sự nổi trội của đề tài nông thôn không chỉ được đánh giá bằng tiêu chí số
lượng mà còn khẳng định bằng chất lượng nghệ thuật. Giá trị thực tế đã được khẳng

1
Xem thêm: Dương Khánh Toàn. Hình tượng người trí thức trong văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới. Luận
văn thạc sĩ 2004.

16
định với khá nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng, đặc biệt với năm tác phẩm đoạt giải
thưởng của Hội nhà văn. Thời xa vắng với anh nông dân Sài đã làm rạng danh Lê
Lựu từ những năm đầu đổi mới. Năm 1991 có ba tiểu thuyết đoạt giải thì có hai tiểu
thuyết viết về nông thôn là Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng; sau
nhiều năm không có tiểu thuyết đoạt giải thì năm 1997 Thuỷ hoả đạo tặc lại giành
được Giải thưởng lớn đó. Tiểu thuyết Dòng sông mía (Đào Thắng) là hiện tượng
văn học đáng chú ý nhất năm 2004.
Sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết nói chung và trong
tiểu thuyết về đề tài nông thôn viết từ sau 1986 thể hiện trên nhiều phương diện: đề
tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ. Đề tài chiến tranh, lịch sử, dân tộc của giai đoạn

mang tính chất nhân sinh. Nguyễn Khải viết Mùa lạc vào năm 1960- tác phẩm nằm
trong cảm hứng lạc quan chung của văn học đương thời vốn tràn đầy niềm tin yêu
cuộc sống và con người mới. Nhân vật trung tâm tác phẩm- cô Đào- được xây dựng
bằng chính niềm lạc quan và có phần lí tưởng về cuộc đời của tác giả. Trước khi
đến với “miền đất mới”, cuộc đời của người phụ nữ 28 tuổi này đầy bất hạnh khi bị
cơn lốc cuộc đời càn quét mất hết chồng con, nhà cửa, nhan sắc Cánh cửa cuộc
đời tưởng như đã đóng chặt với con người ấy. Vậy mà nông trường Điện Biên- cuộc
sống tươi vui, nhân ái và tình yêu thương của con người nơi đây đã gọi thức niềm
vui và cảm xúc trong chị. Như vậy, việc nhà văn tái hiện cuộc đời số phận nhân vật
Đào là một cách để ca ngợi cuộc sống mới, tương lai mới tốt đẹp của dân tộc, đất
nước. Các nhà văn thời đổi mới không có được niềm lạc quan toàn vẹn ấy. Họ nhìn
thấy và phản ánh về con người và cuộc sống trong cái nhìn chân thực, từ đó phát
hiện không ít những bi kịch xót xa. Thân phận của Giang Minh Sài trong Thời xa
vắng (Lê Lựu) là thân phận mang tính bi kịch khi cả cuộc đời phải sống vì người
khác, không dám vượt thoát những qui định truyền thống để nắm giữ lấy tình yêu-
hạnh phúc thực sự cho cuộc đời mình.
Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết thể hiện rõ qua phương diện cốt truyện. “Cốt
truyện là hệ thống sự kiện làm nòng cốt cho sự diến biến các mối quan hệ và phát
triển tính cách nhân vật” [29, tr.226]. Tiểu thuyết thời kì đổi mới phong phú hơn
tiểu thuyết ra đời trước đó về cách xây dựng cốt truyện. Một số tiểu thuyết (như các

18
tiểu thuyết hồi ức về chiến tranh) lựa chọn cốt truyện giàu tâm trạng, thì các nhà văn
viết về nông thôn về cơ bản vẫn lựa chọn cốt truyện mang tính kế thừa truyền thống:
cốt truyện sự kiện giàu kịch tính. Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều
ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Lão Khổ (Tạ Duy
Anh), Dòng sông mía (Đào Thắng), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường) đều
là những tiểu thuyết mà cốt truyện khá rõ ràng với mở đầu, phát triển, kịch tính, kết
thúc. Người đọc có thể dựa vào những sự kiện ấy mà kể lại cho người nghe về nội
dung câu chuyện. Tuy nhiên trong một số tiểu thuyết có sử dụng kết hợp thủ pháp

trọng tâm, đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Khi khai thác về một đối tượng
không mới trong truyền thống văn học, các nhà văn vẫn khẳng định được tài năng
sáng tạo của mình bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật thông qua việc lựa chọn đề
tài, xây dựng cốt truyện, nhân vật và cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật. Nông thôn Việt
Nam vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa cũ vừa mới, vừa bình yên vừa phức tạp
hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết.

20
CHƯƠNG 2:
HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT

2.1. Bức tranh hiện thực cuộc sống nông thôn
Hiện thực cuộc sống là nơi bắt đầu cũng là nơi đi đến của nhưng sáng tạo
văn chương. Viết về nông thôn Việt Nam dù ở thời kì nào cũng nhận thấy rất rõ
hiện thực làng quê qua cái nhìn rất riêng của mỗi nhà văn. Cái làng quê đã trở thành

trong vòng tròn không lối ra. Sự ít học, cái nghèo khó và thói quen đã ràng buộc
con người trong những suy nghĩ cũ. Bởi thế, khi có chủ trương thay đổi cung cách
làm ăn, buộc người dân không được đi làm thuê mà phải canh tác trên chính mảnh
đất quê hương mình thì họ lại “ấm ức”, họ sợ “gia đình chết đói thì ai chịu trách
nhiệm”. Cuộc sống đã thay đổi, đã độc lập tự do nhưng người dân làng Hạ Vị
dường như chưa thấy đó là cơ hội cho sự đổi đời. Căn nguyên của tất cả những lo sợ
ấy là để duy trì miếng cơm manh áo cho mỗi người trong gia đình, bởi thế thay đổi
họ cũng thật đơn giản: “Thành ra đầu cuộc họp là nỗi khổ, ấm ức, cuối cuộc họp đã
là sự sung sướng thỏa mãn Nếu được một lẻ gạo người nông dân có thể cho một
thúng lời khen, huống hồ ngày mai mỗi nhân khẩu ít nhất cũng được mười cân thóc
thì có thức suốt đêm nay mà khen ông chủ tịch có thấm gì” [18, tr. 35]. Người nông
dân với những tính toán rất chân thật như thế thật đáng thương, đáng trọng.
Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,
sự nghèo đói được miêu tả đến mức làm linh hiển âm khí của xóm Giếng Chùa. Cái
đói giáp hạt nhảy xổ cả vào xóm vốn “đứng đầu về cái sang cái giàu toàn xã” khiến
“nhiều nhà phải nấu cháo trộn thêm rau tập tàng. Nhiều nhà luộc chuối xanh chấm
muối”. Người ta “sáng chế” ra bánh mạt ngô, cháo cám, bánh cám đồ cách thủy
Họ duy trì cuộc sống bằng tất cả những thức ăn có thể, cầm cự cái đói qua ngày và
chưa biết ngày sau sẽ ra sao. Nếu giọng kể chuyện của nhà văn không có đôi chỗ
hóm hỉnh thì cảnh đói xóm Giếng Chùa sẽ thật thê thảm, bi đát: “Những người hao
gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng vội vã đi đâu, nhưng kì thực chẳng có việc gì hết,
cứ ra vào quẩn quanh với cái bụng sôi èo èo!” [34, tr. 9]. Cái đói đến cùng kiệt, báo

22
động sự tiếp diễn của nạn đói năm Ất Dậu ngày nào đang bao trùm lên không gian
trong tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Khắc Trường khiến không chỉ con người mà
dường như cả quanh cảnh làng quê với tre vàng, ngõ vắng cũng trở nên tiêu điều xơ
xác. Người ta đâu thể nghĩ tới bất cứ điều gì khác khi trong bụng không ngừng thúc
giục miếng ăn. Tác giả của Mảnh đất lắm người nhiều ma không lí giải cho người
đọc nguyên nhân của cái đói bao trùm xóm làng này, và không thấy những trang

nông thôn nghèo khó lam lũ chỉ được miêu tả lướt qua để điểm dừng của những cây
bút hướng đến là một nông thôn đầy biến đổi. Dù chỉ là những chi tiết thoáng qua
nhưng ấn tượng vẫn thật mạnh mẽ. Dù trước bao biến động nông thôn ấy vẫn thật
quen thuộc như tự nghìn đời. Đó là những làng quê lam lũ nhọc nhằn để khi gặp nó
lại nhân lên niềm thương hơn với những kiếp người!
Hiện thực nông thôn ấy bắt gặp lại nơi Dòng sông mía của Đào Thắng càng
thấy rõ sức tàn phá của đói nghèo, cơ hàn. “Bấy giờ làng xóm đang đói quay đói
quắt. Thằng Khuê cuốc thêm cụm củ đao non, bới mấy gốc sắn tầu Cây đao còn
non, chưa xuống củ nên củ bằng ngón chân, sượng sưng sỉa, chưa có tí bột nào. Gốc
sắn tầu trồng ven bờ dậu còn non cây đào lên mới chỉ có rễ to, chưa có ai dám gọi
là củ, dài thõng thượt, cắn vào mồm nhai sồn sột như ăn thân chuối” [25, tr. 254].
Sự đói khổ ấy khiến người đọc nhận ra thật rõ nỗi cơ cực của đời người. Mẹ con chị
Cả Thuần phải sống nhờ vào những thứ tưởng chỉ để nuôi bò, nuôi lợn mà chống
chọi với cái ác, bất công. Dòng sông Châu Giang vỗ về một vùng đất mật phù sa
cho những con người nơi đây vị ngọt của mía đường không đâu sánh kịp, vậy mà
người ta vẫn không thể sống nổi với nghề. Như cu Lẹp sinh ra đã ăn sống những
con trai tanh nhớt nhát để cầm chừng. Khi mất đôi cánh tay tháo vát bởi vòng
nghiến của “ông hàng, bà hàng” nơi lò mía nhà ông Quĩ Nhất, nó mưu sinh dựa hẳn
vào dòng sông Châu. Lẹp giống thuỷ tộc hơn giống người. Cái nghèo đói cùng sự
ám ảnh thân phận kẻ ăn người ở đã rút cạn dòng máu người ở Lẹp. Những con trai
nơi đáy sông Châu đã sinh dưỡng trong đứa con hoang này một dòng máu mới- máu
lạnh. Dòng sông mía là một khúc đoạn lịch sử chuyển dòng từ thời Tây thực dân,
qua cách mạng, kháng chiến, hòa bình, cải cách ruộng đất, chống Mĩ, hòa bình và
cuối cùng đến chiến tranh biên giới với Trung Quốc. Lịch sử chuyển mình nhưng sự

Trích đoạn Miêu tả hành động nhân vật Ngôn ngữ Không gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status