Chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới qua 3 tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đ - Pdf 26

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH PHƢƠNG

CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN
TRANH THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUA 3 TÁC PHẨM:
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH)
KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG (CHU LAI)
TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ (PHẠM NGỌC TIẾN) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Hà Nội-2014
2

3

LỜI CẢM ƠN Luận văn đƣợc hoàn thành tại Khoa Văn học – Trƣờng Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn. Em xin bày tỏ lời tri ân sâu sắc tới PGS. TS Lê Dục Tú,
ngƣời đã hƣớng dẫn em thực hiện luận văn này bằng một tinh thần khoa học
nhiệt thành và nghiêm túc.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Văn học,
trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
đã giảng dạy em, trang bị cho em những nền tảng kiến thức bổ ích, giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài.
Và xin cám ơn sự động viên, quan tâm giúp đỡ của những ngƣời thân
trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian qua.
Với trình độ và kiến văn còn hạn chế của ngƣời viết, luận văn chắc
chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Tác giả luận văn mong muốn sẽ nhận
đƣợc những nhận xét, góp ý của các thầy cô, các nhà nghiên cứu và những
ngƣời có quan tâm đến vấn đề đƣợc thực hiện trong luận văn. Xin trân
trọng cảm ơn!
Hà Nội,10 .tháng 7 .năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thanh Phương

4

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6

2.4. Chất thơ từ vẻ đẹp của ngƣời lính 53
2.4.1. Tình yêu ngƣời lính 53
2.4.2. Tình đồng đội 58
CHƢƠNG 3: NHỮNG PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA CHẤT
THƠ QUA NỖI BUỒN CHIẾN TRANH, KHÚC BI TRÁNG CUỐI
CÙNG, TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ 63
3.1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu 63
3.1.1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh 63
3.1.2. Ngôn ngữ giàu nhạc tính 70
3.2. Giọng điệu trữ tình 75
3.2.1. Vài nét về giọng điệu 75
3.2.2. Giọng điệu trữ tình 76
KẾT LUẬN 83
6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Suốt ba mƣơi năm kháng chiến chống ngoại xâm, tiểu thuyết viết về
chiến tranh đã góp phần quan trọng vào việc hình thành diện mạo nền văn
học dân tộc. Sau 1975, trên tinh thần đổi mới tƣ duy nghệ thuật, tiểu thuyết
về chiến tranh vẫn tiếp tục phát triển và góp phần không nhỏ vào sự đổi
mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam.
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai),
Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) thực sự là ba tác phẩm mang đến cho
ngƣời đọc cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và cuộc sống của ngƣời
lính thời hậu chiến, bổ khuyết những khoảng trống mà tiểu thuyết viết về
chiến tranh giai đoạn trƣớc 1975 chƣa có điều kiện khám phá. Đây cũng
chính là một đóng góp quan trọng của ba tác giả kể trên trong hành trình
cách tân nghệ thuật tiểu thuyết.
Ngoài những cách tân trên một số phƣơng diện thì theo ngƣời viết vẻ

Trong bài Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh của Trần Duy Châu (Tạp chí
Cộng sản số 10 năm 1994) nhấn mạnh: “Bảo Ninh đã tạo nên hình ảnh đảo
ngƣợc của hiện thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc
ca khải hoàn của dân tộc thành tiếng hát bi thƣơng ai điếu cho những kẻ lạc
loài”. [25, tr. 25].
Một xu hƣớng khác nữa là sự cổ vũ động viên nhƣng e dè và đều chung
câu hỏi: Liệu rằng cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh có bị dồn nén quá
nhiều chất bi không? Nguyễn Phan Hách trong cuộc thảo luận về tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991) đã viết:
“Lùi ra xa, đứng cao hơn một chút thì thấy có thể thông cảm đƣợc với tác
phẩm này. Tôi chƣa hẳn tán thành hoàn toàn về nội dung, nhƣng cái đẹp,
cái tuyệt kĩ, văn chƣơng là văn chƣơng của cuốn sách đã át đi đƣợc những
e ngại khác ” [16, tr. 4]
8

Cũng trong cuộc thảo luận này, Vũ Quần Phƣơng nhận xét: “Nếu cái
đáng khen trong cuốn sách là chân thực trong tâm trạng, thì chỗ cần lƣu ý
tác giả cũng là tính chân thực cần có, trong khi dựng lại bối cảnh hậu
phƣơng miền Bắc và những trận đánh trả máy bay Mỹ. Bảo Ninh đã đánh
mất cái hào khí rất đẹp của năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ, nhƣng nó có cảm
giác tác giả có những điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có
chỗ cực đoan. Đọc những chi tiết khủng khiếp, đay nghiến, thấy tác giả ác,
ta chƣa thấy đƣợc nhân tố làm nên chiến thắng ở đây” [16, tr. 4]. Nhìn
chung, các ý kiến của các cây bút nhìn chiến tranh quá gần, thậm chí cảnh
giác với nguy cơ chiến tranh, e sợ tác giả rơi vào tình trạng giải thiêng cuộc
chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.
Xu hƣớng đánh giá cao đóng góp của Bảo Ninh trong sự phát triển của
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tiêu biểu có Nguyên Ngọc. Trong cuộc thảo
luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991),
ông khẳng định: “Cuốn sách Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là sự

thực xã hội chủ nghĩa trong chiến tranh và trƣớc 1986. Cái mới ở đây đƣợc
xác định không chỉ ở việc anh đƣa vào trong tác phẩm của mình những chất
liệu hiện thực chƣa từng có trong văn học chiến tranh (dẫu điều này cũng
có giá trị thẩm mỹ riêng) mà trƣớc hết thể hiện ở việc anh đã tìm đến một
phƣơng pháp tiếp cận hiện thực khác với phƣơng pháp điển hình hóa của
văn học hiện thực truyền thống. Anh không tiếp cận hiện thực thông qua
những nhân vật điển hình, hoặc mang tính phản ánh, hoặc mang tính lý
tƣởng (trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ là sự kết hợ cả hai yếu
tố này). Anh xây dựng và tô đậm tính cá biệt của số phận nhân vật” [54, tr.
248].
Nguyễn Đăng Điệp lại nhìn thấy sự mới mẻ trong cách viết và tiếp cận
hiện thực của Bảo Ninh qua bài viết: Kỹ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh. Theo ông, “Cho dù viết nhiều về chiến tranh
10

nhƣng xét đến cùng tinh huyết của Bảo Ninh kết tụ trong cuốn tiểu thuyết
để đời của ông: Thân phận tình yêu. Toàn bộ tác phẩm là niềm khắc khoải
không nguôi của một ngƣời lính bƣớc ra từ cuộc chiến khắc nghiệt ấy. Vì
thế, nó trung thực đến tận đáy. Và cũng vì thế mà khuôn mặt của chiến
tranh là một khuôn mặt nhàu nát với bao nỗi đau chồng chất. Tên gọi hợp
lý nhất cho nỗi đau ấy phải là Nỗi buồn chiến tranh. Bởi thế, đi liền và hòa
lẫn với nỗi buồn chiến tranh là thân phận cay đắng của tình yêu. Cả hai chủ
đề này xoắn kết với nhau. Nó tựa nhƣ hai mặt của một bản thể thống nhất.
Bị cuốn vào vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc chiến, tình yêu cũng bị đày
đọa, bị đẩy tới bờ vực của sự hủy diệt.[11, tr. 399].
Trong công trình Thi pháp hiện đại, bài viết Thân phận tình yêu của
Bảo Ninh, Đỗ Đức Hiểu cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này: “Trong
văn học Việt Nam mấy chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là
quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết tình yêu xót thƣơng
nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam. Nỗi buồn chiến tranh thể hiện

Có thể nói, Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh ngày càng
đƣợc đánh giá cao trong cái nhìn rộng rãi hơn cả về nội dụng, nghệ thuật.
Năm 2003, trả lời phỏng vấn trên Báo Sinh viên Việt Nam về văn học 10
năm qua, Nguyên Ngọc lại một lần nữa khẳng định: Từ Nỗi buồn chiến
tranh, chúng ta mới thực sự có tiểu thuyết hiện đại [48, tr. 9].
Khảo sát nghiên cứu cho thấy, chủ yếu là các công trình bài viết đánh
giá về cái nhìn của Bảo Ninh khi viết về chiến tranh, bút pháp nghệ thuật.
Cụ thể khi đề cập tới chất thơ thì chƣa có một công trình chuyên sâu. Chỉ
dừng lại ở những bài viết đối sánh nhỏ lẻ nhƣ: Trong cuốn Tự sự học – Một
số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2), bài viết Tư duy thơ trong tiểu thuyết
Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Bình đã nhận định về những văn bản
đƣợc tạo lập theo nhãn quan thơ trong đó có Nỗi buồn chiến tranh. “Nhìn
sâu vào cách tạo lập văn bản sẽ nhận ra những đặc trƣng của tƣ duy thơ đã
12

chi phối từ quan niệm thể loại đến bút pháp tiểu thuyết. Thứ nhất là sự nổi
bật nhịp điệu. Cảm xúc trong thơ đƣợc mã hóa bằng nhịp điệu. Ở Việt
Nam, khái niệm “thơ ca” cũng cho thấy nhịp điệu có vai trò rất quan trọng
đối với sáng tác thơ. Văn xuôi tự giác về điều này muộn hơn nhiều và nhịp
điệu tiểu thuyết trong thời gian dài chủ yếu đƣợc nhìn nhƣ tốc độ trần thuật,
sự luân phiên thành phần động – tĩnh. Với Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),
Chinatown (Thuận), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… nhịp điệu nổi lên
nhƣ một cảm hứng sáng tạo, một sự “cố tình của bút pháp” và trở thành
một cơ chế tổ chức văn bản” [4, tr. 485]
Trong cuốn Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu có viết: “Chất thơ và
hƣơng thơm trong cuốn tiểu thuyết chủ yếu tỏa lên từ mối tình của Phƣơng,
từ thân thể và tâm hồn Phƣơng” [22, tr. 269].
Để tìm thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu về chất thơ trong Nỗi
buồn chiến tranh là điều ít ỏi, vì thế ngƣời viết hy vọng qua luận văn này
có thể tìm hiểu toàn diện vấn đề này trên phƣơng diện nội dung và nghệ

nhƣ những con ngƣời tâm linh. Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối
thúc bởi sự sám hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát. Đó là những con ngƣời trở
về sau chiến tranh bị mất thăng bằng, khó tìm đƣợc sự yên ổn trong tâm
hồn. Họ sống trong cảm giác không bình yên… đi vào ngõ ngách đời sống
tâm linh con ngƣời. Chu Lai làm ngƣời đọc bất ngờ vì những phám phá
nghệ thuật của mình. Nhân vật Chu Lai thƣờng tự soi mình, khám phá một
bản ngã hay là một con ngƣời trong con ngƣời [56, tr. 104]
Trong bài Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết in ở Báo Văn Nghệ, số 26, năm
1993, Đỗ Văn Khang đề cập đến nghệ thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân
vật trong tiểu thuyết Chu Lai: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ
vãng cũng có nhiều đóng góp mới. Ngày trƣớc nhân vật thƣờng mang một
ý phổ quát, tức là có cái gì đó chung cho cả lớp ngƣời…, còn Hai Hùng của
Chu Lai có cùng số phận đƣợc miêu tả nhƣ một yếu tố cá biệt, độc nhất
14

nhƣng vẫn mang tính điển hình” [26, tr. 4]. Dù bƣớc đầu đã có một số công
trình nghiên cứu khá đầy đủ về tiểu thuyết Chu Lai nhƣ: Đề tài chiến tranh
trong tiểu thuyết Chu Lai (Phạm Thúy Hằng, Luận văn Thạc Sĩ, Đại học Sƣ
phạm Hà Nội, năm 2003), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai (Tạ
Thị Thanh Thùy, Luận văn Thạc Sĩ, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, năm 2005.
Sự thể hiện hình tượng người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai
(Lê Thị Luyến, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, năm 2006). Nhƣng xét
cách toàn diện, nghiên cứu về chất thơ trong tiểu thuyết của Chu Lai vẫn
còn thiếu cái nhìn cụ thể chi tiết, chỉ dừng ở các bài khái quát nhƣ:
Trên Tạp chí Nhà văn, số 8 năm 2006 với bài Nội lực của Chu Lai, Bùi
Việt Thắng đƣa ra những đánh giá mang tính bao quát toàn bộ các tác
phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Chu Lai ở phƣơng diện nhân vật và
giọng điệu. Ông nhấn mạnh đến “những dấu son đỏ” nhƣ những cột mốc
ghi nhận lộ trình sáng tạo của Chu Lai là Ăn mày dĩ vãng (1992) và Khúc bi
tráng cuối cùng (2004) [55, tr. 6]

riêng khác nữa của Phạm Ngọc Tiến: “Biên tập kịch bản nhƣ làm thợ” [14].
Tuy nhiên, ngƣời viết nhận thấy chƣa có bài viết cụ thể nào nói về chất thơ
trong Tàn đen đốm đỏ của Phạm Ngọc Tiến. Chính vì vậy, khai thác chất
thơ trong sáng tác của ông, ngƣời viết hy vọng sẽ đóng góp một phần nào
những phát hiện mới về giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết theo
phƣơng diện chất thơ.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tƣợng
Chất thơ trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh thời kỳ đổi mới qua
ba tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng
(Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) 16

* Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới có hàng trăm cuốn sách
đƣợc xuất bản. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, ngƣời viết chỉ
khai thác chất thơ qua:
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)
Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai)
Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến)
4. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA LUẬN VĂN
Triển khai đề tài này, ngƣời viết cố gắng phát hiện và chỉ rõ nội dung,
hình thức biểu hiện của chất thơ trong ba tiểu thuyết viết về đề tài chiến
tranh trên các phƣơng diện cụ thể tƣơng ứng.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, ngƣời viết sử dụng kết hợp
các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp thống kê, phân tích tổng hợp: Phƣơng pháp thống


18

CHƢƠNG 1: CHẤT THƠ VÀ CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI
1.1. Chất thơ và vai trò của chất thơ trong văn xuôi
1.1.1. Chất thơ
Xác định chất thơ là một vấn đề rất khó. Đúng nhƣ lời nhận xét của
Nguyễn Tuân: “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toàn thập tôi
thấy nó cũng khó nhƣ định nghĩa cho chất Uymua (kermous)”. Nhƣng khi
chúng ta đã quan niệm thơ không phải là một cái gì thần bí, siêu việt, thơ
gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn con ngƣời và năng lực sáng tạo qua
ngƣời nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là cần thiết và có thể tiến hành
đƣợc trên những nét lớn dễ chấp nhận.
Hoài Nam từng viết: “Chất thơ của bài thơ nằm trong một cái đích rất mơ
hồ nhƣng lại rất cụ thể, nó mơ hồ ở chỗ nó tan biến vào từng câu thơ, nó chảy
ra bàng bạc trong từng tác phẩm nhƣng nó cụ thể ở chỗ nó tụ lại ở một điểm
ngời sáng nào đó làm cho cái bàng bạc trải rộng kia lấp lánh lên. “Điểm ngời
sáng” là nơi gặp gỡ của tất cả các câu thơ, ý thơ, là nơi ngã ba, ngã bảy toả đi

của cuộc sống và cao hơn nữa nó còn nói về cuộc sống với một lý tƣởng
đẹp. Ngay khi thơ nói đến cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái tầm thƣờng của
cuộc sống thì cũng nhìn những cái đó dƣới con mắt của cái đẹp mới có chất
thơ. Nếu nói ý thức và thiên hƣớng của mọi hoạt động sáng tạo của con
ngƣời theo quy luật của cái đẹp nhƣ Mác nói thì với thơ, ý thơ và cảm hứng
sáng tạo biểu hiện rõ rệt đặc tính này. Có 1 nhà thơ cho rằng: “Cái đẹp là
địa hạt hợp pháp của thơ ca”, Bôđơle xem thơ ca là: “Ƣớc mong của con
ngƣời vƣơn tới cái đẹp cao thƣợng”, Sile nhấn mạnh đến cái đẹp và năng
lực tạo cái đẹp ở trong thơ: “Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ
đẹp của những cái gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹp cho những cái gì xấu xí
nhất”. Mặc dù quan niệm đó của Sile có hơi quá song thực tế nói đến thơ là
nói đến cái đẹp, là sự phản ánh cái đẹp, làm đẹp lòng ngƣời, tâm hồn con
ngƣời và đó hẳn là một điều hiển nhiên của thơ.
20

Xét trên phương diện cảm hứng: Chất thơ gắn liền với cảm hứng bay
bổng lãng mạn, đó là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác
phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tƣ tƣởng xác định, một sự đánh giá nhất
định, gây tác động đến cảm xúc của những ngƣời tiếp nhận tác phẩm.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có viết: “Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ
đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực,
bởi nó biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc với tƣ tƣởng thành tình yêu đối
với tƣ tƣởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [56, tr.
45]. Chất thơ đối lập với cái dung tục, thấp kém, đê tiện trong một hiện
thực đầy phức tạp. Mặt khác, bản thân cái hiện thực đầy phức tạp, đầy xung
đột với những dục vọng muôn vẻ của con ngƣời lại là mảnh đất nuôi dƣỡng
cho chất thơ của cuộc sống, của tâm hồn con ngƣời cất cao lên, vƣợt lên
khỏi mặt đất “hiện thực” nghiệt ngã để khẳng định giá trị con ngƣời.
Nhƣ vậy, ở góc nhìn này chất thơ là một bình diện của hiện thực cuộc
sống, nó xuất hiện chính trong cuộc đấu tranh của con ngƣời trong hiện

nhìn nội tâm, từ thế giới bên ngoài chuyển vào bên trong. Nói đến trữ tình
là nói đến cảm xúc, tâm trạng, tâm tƣ tình cảm, thế giới tinh thần của con
ngƣời. Với đặc trƣng cơ bản là bộc lộ tình cảm, trữ tình hƣớng đến khả
năng biểu cảm ở ngay tổ chức bên trong của ngôn ngữ, truyền cho nó sự
xúc động và tính chủ quan.
Chất trữ tình tạo nên những xúc cảm nghệ thuật. Nó thƣờng đƣợc sử
dụng để chỉ những sáng tác văn học bộc lộ trực tiếp ý nghĩ, cảm xúc chủ
quan của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh thì chất thơ lại thƣờng đƣợc
sử dụng để chỉ những sáng tác văn học, không chỉ bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ
của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh mà còn thể hiện sự kết tinh của
cái đẹp qua những hình tƣợng nghệ thuật đƣợc tạo dựng bằng ngôn ngữ
giàu hình ảnh và nhạc điệu. Để tác phẩm văn chƣơng còn mãi trong lòng
22

ngƣời đọc cần có chất thơ. Chất thơ có thể ví nhƣ sự kéo dài chất trữ tình,
là “cái lõi” của chất trữ tình.
Trên đây, là những so sánh cơ bản để phân biệt chất trữ tình và chất thơ.
Sự phân biệt trên cũng chỉ là tƣơng đối. Nhƣng qua đó, ta có thêm cơ sở để
định giá về giá trị của tác phẩm văn học nói chung, và tiểu thuyết nói riêng
thông qua Chất thơ.
1.2. Vai trò của chất thơ trong văn xuôi
Thõ là hình thức sáng tác vãn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những
tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc giàu hình ảnh và nhất
là có nhạc ðiệu. Thế giới chủ quan của con ngýời, cảm xúc, tâm trạng, ý
nghĩa ðýợc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của thõ. Ðặc
trýng cõ bản của thõ là thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô ðọng, ngôn
ngữ có nhịp ðiệu. Chất thõ là ðiều kiện cõ bản của bài thõ. Không có chất
thõ thì nhất ðịnh không thể có thõ hay.
Cũng trên cõ sở này xuất hiện khái niệm “chất thõ” ðể chỉ những sáng
tác (bằng vãn vần hoặc vãn xuôi) giàu cảm xúc, nội dung cô ðọng, ngôn

1.3.1. Từ những tiền đề lý luận của tiểu thuyết
Trong khuôn khổ của luận văn, ngƣời viết xin trình bày những vấn đề lý
luận tiểu thuyết làm nền cho việc tìm hiểu chất thơ trong tiểu thuyết viết về
chiến tranh.
Tiểu thuyết là một thể loại “còn rất trẻ và đang phát triển. Cái sƣờn thể
loại của tiểu thuyết vẫn chƣa hoàn chỉnh, chƣa cứng rắn lại và ta vẫn chƣa
hình dung hết đƣợc tất cả những khả năng tạo hình của nó. Tiểu thuyết là
một thể loại còn uyển chuyển, mềm dẻo và dƣờng nhƣ không bị đóng
khung trong những quy phạm chật hẹp nhƣ một số thể loại khác.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết có tính “văn xuôi”, tính tổng hợp, đa phong
cách và đa thanh, trong tiểu thuyết có sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của
nhiều màu sắc thẩm mỹ: cái cao cả và thấp hèn, chất thơ và chất văn
24

xuôi… Tuy nhiên cũng có những lúc một màu sắc thẩm mỹ nào đó sẽ giữ
vai trò chủ đạo.
Tính đa thanh của tiểu thuyết hiện đại đƣợc biểu hiện rõ rệt trên phƣơng
diện ngôn ngữ. Trong văn chƣơng, cũng nhƣ trong cuộc sống, tính đối
thoại nội tại của ngôn từ biểu hiện thiên hình vạn trạng, nhƣng trong mỗi
loại hình văn học khác nhau nó có mặt ở mức độ khác nhau: theo Bakhtin,
ở thơ, nhất là thơ trữ tình thì ít, còn ở văn xuôi, đặc biệt văn tiểu thuyết thì
lại rất nhiều. Lời thơ về cơ bản là lời đơn thanh (một bè), trong tác phẩm
thơ chỉ có một tiếng nói trực tiếp và thuần khiết của nhà thơ nói cái tôi của
mình bằng ngôn ngữ của mình. Về phƣơng diện phong cách học, có thể ví
một bài thơ trữ tình với một bài hát diễn đơn không đệm hoặc một bản nhạc
độc tấu viết cho đàn dây. Văn xuôi nghệ thuật, nhất là văn tiểu thuyết thì
khác hẳn. Bakhtin ví một văn bản tiểu thuyết với bản tổng phổ một tác
phẩm giao hƣởng: ở đấy có rất nhiều bè, nhiều bộ với những cách đi bè,
phối khí phức tạp; ai không nắm vững đƣợc nghệ thuật đi bè, phối khí thì
có tài mấy cũng không viết đƣợc nhạc giao hƣởng và các thể loại âm nhạc

một cách rõ rệt. Các tác phẩm Thời xa vắng (Lê Lựu), Ngược dòng nước lũ
(Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Bến không chồng (Dƣơng
Hƣớng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Nỗi buồn
chiến tranh (Bảo Ninh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Chinatown
(Thuận), Ba người khác (Tô Hoài), Ngồi (Nguyễn Bình Phƣơng), Mười lẻ
một đêm (Hồ Anh Thái) cho thấy tiểu thuyết Việt Nam đã vƣợt qua một
chặng dài trên con đƣờng hiện đại hóa ngôn ngữ cũng nhƣ đa dạng hóa các
dạng thức diễn ngôn. Ở đó, có thể nhận ra những cuộc chất vấn, đối thoại,
tranh biện giữa tác giả và nhân vật, ngƣời kể chuyện và nhân vật, nhân vật
và bạn đọc trên một dòng tự sự bắt đầu bị lật xới, xáo trộn mạnh mẽ. Hay
nói cách khác, tiểu thuyết đã đi sâu khám phá tiếng nói nội tâm nhân vật.
Đó là một dấu hiệu nhận diện của chất thơ trong tiểu thuyết. Bởi tiếng nói

Trích đoạn Vẻ đẹp trong trắng tinh khôi Tình yêu trinh nguyên, nồng cháy Tình đồng đội Ngôn ngữ giàu hình ảnh Ngôn ngữ giàu nhạc tắnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status