Luận văn thạc sĩ Văn học
1
Trần Thị Thu Hương
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như một lẽ tự nhiên, thời điểm sau năm 1975, kết thúc một thời kì lịch
sử, văn học cũng bước vào một chặng đường mới. Đặc biệt là sau đại hội
Đảng lần thứ VI, năm 1986, văn học thực sự đã được “cởi trói”. Văn học lúc
này đứng trước một tình thế vô cùng thuận lợi cho sự phát triển, đặc biệt là
trong thời kì đổi mới tư duy, tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển mạnh mẽ.
Công cuộc đổi mới, phương pháp tư duy đã ảnh hưởng lớn đối với sự phát
triển của văn học nói chung, của tiểu thuyết nói riêng. Nền văn học thời kì đổi
mới đã có điều kiện để phản ánh một cách toàn diện hơn cái hiện thực hào
hùng nhưng rất gian lao và khốc liệt của những năm chiến tranh. Ngoài ra văn
học thời kì này còn đi sâu hơn vào những mâu thuẫn nội bộ nhân dân, vào
những vấn đề xã hội của cuộc sống bình thường hàng ngày của con người,
vào số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân.
Trên thực tế, văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có những tiến bộ
đáng kể. Thống kê của giáo sư Phan Cự Đệ trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại đã đưa ra một con số kỷ lục: nếu tính tác giả viết ba cuốn trở lên thì
từ năm 1980 đến năm 1996, các nhà văn xuôi trong Hội nhà văn Việt Nam đã
cho ra mắt bạn đọc trên 360 cuốn tiểu thuyết. Khoan nói về chất lượng của
những cuốn tiểu thuyết này thì con số vừa nêu quả là một thành tựu đáng
khâm phục. Một đặc điểm dễ nhận thấy của văn học thời kỳ này là quá trình
đổi mới diễn ra có phần sôi động hơn trong văn xuôi, nhất là ở thể loại tiểu
thuyết. Sở dĩ có hiện tượng ấy là vì thể loại này có khả năng đáp ứng được
một cách rộng rãi nhu cầu thể hiện nội dung tư tưởng của thời đại. Mặt khác,
tiểu thuyết cũng là thể loại có ưu thế về khả năng tiếp xúc trực tiếp với hiện
tiếng nước ngoài như: Truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì (không có giải nhất)
trong cuộc thi truyện ngắn của tuần báo văn nghệ 1967 - 1968, tập truyện
ngắn Trăng soi sân nhỏ giải thưởng hội nhà văn Việt Nam năm 1995. Ngoài
Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng hội nhà văn năm 1984, Ma Văn
Kháng còn vinh dự nhận được giải thưởng văn học về nghệ thuật (2001). Với
những thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình
trong nền văn học Việt Nam đương đại.
Luận văn thạc sĩ Văn học
3
Trần Thị Thu Hương
Cùng với tư tưởng đổi mới nhất quán trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, những năm 1986 trở đi cũng là thời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn
hóa, văn chương và nền văn học thời kì này có bước chuyển biến đáng ghi nhận
ở hầu hết các thể loại trong đó có tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn đã và
đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời
sống văn học và của đông đảo bạn đọc đương đại.
Trong sự vận hành chung của thể loại, tiểu thuyết đã thực sự bộc lộ ưu thế
của mình trên con đường dân chủ hoá nội dung nghệ thuật. Có lẽ chưa bao giờ
những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, về hiện thực và con người, về
đổi mới tư duy nghệ thuật lại dân chủ như lúc này. Giá trị của tác phẩm vẫn tiếp
tục được khẳng định trên nhiều phương diện: thể loại, kết cấu, quan niệm nghệ
thuật về con người, ngôn ngữ nghệ thuật. Trong đó không gian và thời gian nghệ
thuật được xem như là yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật trong tác phẩm nên
việc nghiên cứu không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng thời kì đổi mới là rất cần thiết để từ đó có thể thấy được một trong những
trước vẻ phồn thực, cường tráng, bản tính hồn nhiên cùng sự phân cực sâu sắc
của con người và cuộc đời trần thế. Ở bài viết này người viết mới chỉ đi sâu
tìm hiểu vẻ đẹp con người được thể hiện trong những tác phẩm của Ma Văn
Kháng trong tập Trốn nợ mà chưa có điều kiện tìm hiểu trên nhiều khía cạnh
khác của tập truyện.
Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 696 ra ngày 3/2009, tác giả Nguyễn
Thanh Tú có bài viết: “Vốn sống, tài năng và tâm huyết” (từ trường hợp nhà
văn Ma Văn Kháng với tập Trốn nợ - NXB phụ nữ 2008). Bài viết là sự đánh
giá bản lĩnh nghệ sĩ của một nhà văn lão thành với tài quan sát, chiêm
nghiệm, cách kể, tả, dựng cảnh. Bên cạnh đó tác giả bài viết cũng tìm ra một
số điểm yếu của nhà văn trong quá trình thuyết lý lộ liễu gây cảm giác nặng
nề với người đọc.
Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện “Tiểu thuyết về đề tài dân tộc miền núi
của Ma Văn Kháng”. (Phong cách và đời văn, NXB Khoa học xã hội, HN
2005 tr 229 - 239). Bài viết cho ta thấy mảng đề tài này đã bổ sung cho nhận
Luận văn thạc sĩ Văn học
5
Trần Thị Thu Hương
thức hướng tới cái chân thật và đúng đắn về cái nhìn đối với đời sống và con
người miền núi ở nước ta ngay từ trước cách mạng tháng tám 1945. Cảnh sắc
thiên nhiên hùng vĩ còn nhiều hoang dã của Tây Bắc hoặc Tây Nam Bộ,
những con người của các dân tộc sống cực khổ, tăm tối, nhưng tính cách thật
thà hồn nhiên, bộc trực qua dáng điệu ngôn ngữ… Dưới ngòi bút ấm áp tình
cảm, ông đã vạch lên những đường cày đầu tiên xới lật một trong những
nguồn mạch phong phú của đời sống hiện thực, chứa đựng những nét đặc sắc
Hình tượng người kể chuyện trong Một mình một ngựa có nhiều điểm
đặc sắc. Tác phẩm được thực hiện bởi kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thể trần
thuật, một đặc tính mới của tiểu thuyết hiện đại. Một mình một ngựa có giọng
kể quán xuyến tác phẩm của người kể chuyện khách quan từ nhân vật Toàn.
Tác phẩm còn khắc họa cuộc sống, bức tranh cảnh vật, con người mảnh đất
miền núi xa xôi một thời kỳ đã qua. Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng
đã thực sự đem lại những đóng góp cho việc đa dạng hóa thể tài văn xuôi Việt
Nam đương đại.
Gần đây có những công trình nghiên cứu về nghệ thuật trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng như luận văn thạc sĩ của Lê Minh Hùng (2006)Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 1989); Lê Minh Chung (2007) - Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi
mới; Đỗ Thanh Quỳnh (2006) - Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng…
Mỗi người có một cách nói, cách phê bình đánh giá, song nhìn chung
các tác giả đều xuất phát từ cái nhìn biện chứng, từ bản chất văn học. Những
ý kiến, những nhận định của họ rất khoa học, thỏa đáng cả về mặt được lẫn
mặt còn chưa được của ngòi bút Ma Văn Kháng. Đây là tư liệu vô cùng quý
giá và hữu ích để người viết luận văn hiểu thêm về văn chương của Ma Văn
Kháng.
Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma
Văn Kháng ở từng khía cạnh cụ thể có liên quan đến những vấn đề mà luận
văn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy về lĩnh vực tiểu thuyết thì trọng tâm khai
thác chủ yếu là ở phương diện nội dung như khai thác về nhân vật trí thức, về
cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng… có chăng chỉ là
Luận văn thạc sĩ Văn học
7
Trần Thị Thu Hương
Luận văn thạc sĩ Văn học
8
Trần Thị Thu Hương
manh nha từ những năm đầu thập niên 80 với sự xuất hiện một loạt các tác phẩm
khác nhau như: Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải); Thời
Xa Vắng (Lê Lựu) Cù Lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn)…
Đối với Ma Văn Kháng, dấu hiệu của sự đổi mới có thể được tính từ Mưa
mùa hạ (1982), nhưng chúng tôi chọn Mùa Lá rụng trong vườn (1985) làm
điểm mốc vì ở tác phẩm này sự đổi mới trong tiểu thuyết của ông đã thực sự trở
nên rõ rệt
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề hoàn thành nhiệm cụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
6. Đóng góp của luận văn
Qua nghiên cứu, chúng tôi mong muốn được đóng góp một phần nào đó
vào việc đánh giá sáng tác của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu thuyết Ma Văn
Kháng nói riêng. Cụ thể là:
Góp thêm tiếng nói về phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng thời kì đổi mới.
Khẳng định những thành tựu và đóng góp to lớn về yếu tố không gian
và thời gian nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong nền Văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới.
Ở mức độ nào đó, luận văn sẽ làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
TRONG BỐI CẢNH CỦA TIỂU THUYẾT THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1.1. Diện mạo chung của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại thuộc phương thức tự sự. Mặc dù ra đời
muộn song tiểu thuyết lại được coi là “máy cái của văn học” bởi nó luôn giữ
vị trí then chốt trong đời sống văn học của toàn nhân loại. Tuy nhiên tiểu
thuyết là một cấu trúc ngôn từ “động”, không hoàn kết, không đứng yên, một
thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định hình. Vì vậy, việc
đưa ra những định nghĩa có tính chất quy phạm cho thể loại này là không hề
đơn giản. Mỗi người tuỳ cách nhìn nhận, đánh giá của bản thân cùng với
những quan niệm riêng của môi trường và xã hội mà đưa ra những quan niệm
không hoàn toàn giống nhau về tiểu thuyết.
Trong bàn về tiểu thuyết, nhà văn Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết
là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội
hay là những sự lạ tích kì đủ làm cho người đọc hứng thú”, hay nói cách khác
đó là một truyện bịa đặt thú vị” [65, tr.10]. Định nghĩa này một thời đã đặt
nền tảng quan niệm cho cả người sáng tác lẫn giới phê bình văn học. Nói tới
tiểu thuyết, người ta nghĩ ngay tới một tác phẩm văn xuôi kể lại một câu
chuyện lí thú bằng cách hư cấu để phản ánh hiện thực, miêu tả các sự kiện,
biến cố, phong tục tập quán, phân tích tâm lí, tình cảm…
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa: Tiểu thuyết là một “tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn của không
gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời,
Luận văn thạc sĩ Văn học
11
Luận văn thạc sĩ Văn học
12
Trần Thị Thu Hương
khả năng bao quát hiện thực rộng lớn theo xu thế “hướng ngoại”, tiểu thuyết
còn “hướng nội” - tập trung khám phá những bí ẩn, phức tạp, đa chiều trong
đời sống tâm hồn con người - đây thực sự là yếu tố cốt tuỷ tạo nên sức hấp
dẫn bền vững của thể loại này.
Tiểu thuyết nổi bật ở khả năng phản ánh một cách “toàn vẹn và sinh
động” bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống. Đây là một trong
những đặc trưng cơ bản, là ưu thế lớn tạo nên tầm vóc, quy mô hiện thực cho
thể loại tiểu thuyết. Là một thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu
thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều
dài của thời gian. Tuy nhiên, khuynh hướng chủ yếu của tiểu thuyết là tiếp
cận đời sống ở góc nhìn đời tư. Đây là điều khác biệt với thể loại sử thi (quan
tâm đến vấn đề dân tộc, cộng đồng, ít đề cập đến số phận cá nhân). Nói như
nhà phê bình Pôxpêlôp: “tiểu thuyết là tác phẩm tự sự mà nhân vật chính của
nó, một con người cá nhân riêng biệt trong một giai đoạn nào đó đã bộc lộ sự
phát triển tính cách do mâu thuẫn giữa lợi ích với địa vị hay lợi ích với chuẩn
mực đời sống xã hội ” [55]. Các nhà tiểu thuyết cảm nhận, miêu tả hình ảnh
con người trong mối quan hệ xã hội, gia đình và bản thân một cách đa chiều
với những trạng thái tâm lí, tình cảm phức tạp nhằm khắc hoạ một bức tranh
hiện thực chân thật và sống động.
Tiểu thuyết có xu hướng dần xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật
với đối tượng trần thuật. Trong tiểu thuyết khoảng cách giữa người trần thuật
và nhân vật được rút ngắn, thậm chí xoá bỏ. Chính đặc điểm này làm cho tiểu
thuyết trở thành một thể loại dân chủ. Nhà văn có thể thâm nhập vào đời sống
trong vườn (Ma Văn Kháng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)… đã thể hiện rất rõ
điều đó.
Ngoài khả năng tạo dựng bức tranh rộng lớn, tiểu thuyết còn có khả
năng phản ánh những vấn đề về số phận cá nhân và con người. Có thể cho
rằng: tài năng lớn nhất của nhà văn cũng như sức ám ảnh lớn nhất của tiểu
thuyết là thuộc về nhân vật. Nhân vật trong tiểu thuyết thường là “những con
người nếm trải”. Đó là những con người luôn day dứt, suy nghĩ, đấu tranh nội
tâm trước những thử thách của cuộc đời. Có thể tìm thấy những con người
biết suy tư, trăn trở, tự ý thức về bản thân mình để vươn lên sống hoàn thiện
Luận văn thạc sĩ Văn học
14
Trần Thị Thu Hương
hơn, thiên lương hơn trong những sáng tác của Nam Cao, Nguyên Hồng,
Thạch Lam…
Ngoài ra tiểu thuyết còn là một thể loại mang bản chất tổng hợp. Có sự
pha trộn đa dạng trong tiểu thuyết những phong cách nghệ thuật của các thể
loại văn học khác như thơ, kịch, kí… và các thủ pháp nghệ thuật của các loại
hình gần gũi như: điện ảnh, hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc. “Tiểu thuyết là thể
loại sinh sau, đẻ muộn, vì vậy nó tiếp thu những cái tốt đẹp mà các thể loại đã
có (anh hùng ca, thơ, kịch…), sáng tạo nên những yếu tố mới (…”) “ Như
một đứa con lai” nó khỏe, nó đẹp, nó đầy sức sống” [41, tr.18]. Trong nhiều
trường đoạn khác nhau, người viết tiểu thuyết có thể vận dụng một cách linh
hoạt, sáng tạo nhiều phương thức: trữ tình, tự sự, kịch. Là một “thể loại đa thể
loại”(Lưu Liên), tiểu thuyết có thể khai thác ưu thế của điện ảnh, điêu khắc,
âm nhạc, hội hoạ trong việc lắp ghép các mảng không gian, đặc tả chi tiết, tạo
thần dân chủ với khẩu hiệu: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật và nói
đúng sự thật” đã đáp ứng nhu cầu sáng tác và “cởi trói” cho người cầm bút.
Mặt khác, cuộc sống thời hậu chiến với bao biến động, thay đổi, con người có
một độ lùi thời gian đáng kể để kiểm nghiệm giá trị của một số tác phẩm văn
học mà ở giai đoạn trước còn bị nhìn nhận đánh giá khắt khe.
Ngoài ra cũng phải kể đến vai trò của sự giao lưu văn hoá với các nước
khác trong khu vực và trên thế giới cũng tác động đến quá trình sáng tác của
các nhà văn. Đó là nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa đến sự chuyển
đổi trong tư duy của nhà văn thời hậu chiến nói riêng và của văn xuôi tiểu
thuyết nói chung .
Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt nam đã trải qua ba chặng đường
nối tiếp, liên tục: Từ 1975 – 1985 là thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi thời
kì chiến tranh sang văn học thời hậu chiến; từ năm 1985 đến đầu thập kỉ 90 là
thời kì văn học có sự đổi mới mạnh mẽ, gắn liền với chặng đầu của công cuộc
đổi mới đất nước. Từ những năm 90 tới nay, văn xuôi hướng sự quan tâm
nhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật.
Luận văn thạc sĩ Văn học
16
Trần Thị Thu Hương
Quá trình đổi mới tiểu thuyết sau năm 1975 bắt đầu khá sớm nhưng
thầm lặng với những tín hiệu có tính dự báo qua các sáng tác của Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh.
Tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới tiếp nối dòng cảm hứng sử thi
của văn học giai đoạn 1945 – 1975 song ở thời kì này, tiểu thuyết đã khắc
phục cái nhìn lý tưởng hoá; từ cảm hứng tự hào ngợi ca, khâm phục trở thành
nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, cách kiến tạo không gian
và thời gian nghệ thuật đặc biệt từ năm 1986 trở đi, tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại đã có nhiều sự đột phá trong hành trình cách tân nghệ thuật.
Trước hết, về dung lượng, tiểu thuyết thời kì đổi mới xuất hiện kiểu
tiểu thuyết tiểu ngắn, nói cách khác tiểu thuyết ngắn đang có xu thế “bành
trướng”, áp đảo tiểu thuyết trường thiên trong văn học truyền thống. Cùng với
dung lượng ngắn thì số lượng nhân vật cũng ít đi, thậm chí đôi khi chỉ xoay
quanh một sự kiện, một số nhân vật nào đó. Nó chống lại lối kể chuyện truyền
thống “bám mãi vào cốt truyện”. Tiểu thuyết thời kì này đi sâu vào phản ánh
thân phận con người trên cuộc hành trình đầy nhọc nhằn của kiếp người, thậm
chí đi sâu vào bóc tách từng lớp thế giới nội tâm của con người để phân tích
và lí giải những diễn biến tâm hồn phức tạp của nhân vật, những “nếp gấp”,
“góc khuất” tâm lí được các nhà tiểu thuyết quan tâm. Các biến cố, sự kiện
tham gia vào diễn biến cốt truyện được giản lược. Nhiều khi cốt truyện chẳng
có gì để tóm tắt. Có nhiều tiểu thuyết mang dung lượng ngắn như Thiên sứ
(1989) của Phạm Thị Hoài- 180 trang, Bến không chồng (2004) của Dương
Hướng – 281 trang, Thiên thần sám hối (2004) của Tạ Duy Anh – 125 trang,
Thân phận tình yêu của Bảo Ninh – 338 trang, Bóng đêm (2011) của Ma
Văn Kháng – 318 trang… Thực ra độ dài của số trang mới chỉ là tiêu chí có
tính chất hình thức thể loại, quan trọng hơn phải xét đến yếu tố chiều sâu tư
tưởng của tác phẩm. Với dung lượng ngắn, song các nhà tiểu thuyết đã truyền
đến được cho bạn đọc những vấn đề mang ý nghĩa xã hội và nhân sinh sâu
sắc, điều này đồng nghĩa với một nỗ lực tìm kiếm, các phương tiện, phương
thức kĩ thuật tối ưu nhằm truyền đạt được những vấn đề nội dung tư tưởng
của tác phẩm, tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” cuả Tạ Duy Anh là một ví dụ.
Luận văn thạc sĩ Văn học
18
Luận văn thạc sĩ Văn học
19
Trần Thị Thu Hương
lạc, có mở đầu, có kết thúc, cũng có những tiểu thuyết cấu trúc lỏng lẻo, lắp
ghép, kết thúc mở. Song những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là
những cốt truyện dựa trên thi pháp hiện đại. Cốt truyện đã vận động thay đổi
trong sự phát triển của thể loại. Về đoạn kết của tiểu thuyết, có mô hình kết
thúc có hậu, các vấn đề được giải quyết một cách hoàn tất, trọn vẹn. Có đoạn
kết với kiểu kết thúc bỏ ngỏ, không hoàn kết. Tất cả các dạng thức trên đều
nhằm phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người, cuộc
sống đương đại. Cốt truyện tiểu thuyết từ những năm đổi mới đến nay, một
mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng của cốt truyện truyền thống,
mặt khác đã tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý.
Nghệ thuật đồng hiện, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép, sử
dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những vấn đề còn
mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam đã được tiểu thuyết vận dụng, biến hoá một
cách linh hoạt và uyển chuyển trên tinh thần dân tộc hiện đại.
Trong đội ngũ những người viết tiểu thuyết có không ít tác giả đã cố
gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết, tìm một hướng đi mới trong sáng tạo thể loại:
Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Xuân Khánh, Bảo
Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Võ
Thị Hảo... Những cây bút kể trên đã cố gắng cách tân trong sáng tạo với
những tiểu thuyết có cốt truyện lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể
lại. Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện
thực. Tiểu thuyết không tạo ra những tình huống kịch hoặc lối kể chuyện có
trang viết nhìn ngoài tưởng như xô bồ, lỏng lẻo”(2). Một trong những mạch
chính của tiểu thuyết là mối tình ghềnh thác, trắc trở của Khiêm và Hoan.
Xoay quanh cuộc đời của hai nhân vật là những vấn đề của đạo đức nhân sinh
được viết một cách đầy ngẫu hứng sáng tạo, đan xen tài tình giữa hư và thực,
giấc mơ và hiện tại, ý thức và tiềm thức, hiện thực và lãng mạn, ngợi ca và
phê phán tạo nên hiệu quả nghệ thuật của tiểu thuyết. Sự thâm nhập các thể
loại khác vào tiểu thuyết cũng là một nhân tố làm co giãn cốt truyện. Tiểu
thuyết có thể chứa trong chính nó: nhật ký, chuyện kể, thơ, thư từ, “tham luận
khoa học”... huyền thoại, điển tích, cổ tích. Những hình thức văn bản trong
văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết, nới
Luận văn thạc sĩ Văn học
21
Trần Thị Thu Hương
rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn (Lời nguyền hai trăm năm – Khôi
Vũ, Người đi vắng – Nguyễn Bình Phương, Ngược dòng nước lũ – Ma Văn
Kháng, Cơ hội của Chúa – Nguyễn Việt Hà, Cơn giông – Lê Văn Thảo,
Người sông Mê – Châu Diên...
Như vậy kết cấu cốt truyện tiểu thuyết Việt Nam hiện đại không biến
mất mà co giãn theo cấu trúc của từng tác phẩm cụ thể, mỗi chủ thể nhà văn
có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng
là thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả.
Trong những cách tân về hình thức của tiểu thuyết thì nghệ thuật xây
dựng nhân vật cũng có những đổi mới đáng kể. Trong tiểu thuyết nói riêng và
trong văn học nói chung, nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là nơi tập chung
nhất quan niệm, tư tưởng, cách nhìn của nhà văn về con người và cuộc đời. Do
sáng tạo, không chỉ ca ngợi những chiến công chói lọi, những vòng nguyệt
quế lung linh, mà còn cảm nhận được mặt trái của tấm huân chương, góc tối
của vinh quang, chiến thắng. Những bi kịch của số phận cá nhân con người
được hiện lên đầy ám ảnh qua những trang văn của nhà văn Chu Lai (Ăn mày
dĩ vãng), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh)… Những cảm hứng về con người
và thân phận của cá nhân là đầu mối quan tâm của các nhà tiểu thuyết.
Đi sâu vào phản ánh thân phận con người, tiểu thuyết sau năm 1975 đã
bộc lộ cảm hứng phê phán. Hiện thực cuộc sống ngổn ngang, phức tạp với sự
trộn lẫn giữa bóng tối và ánh sáng, “màu đỏ và mầu đen” (Chữ Nguyễn Khải)
khiến cho con người cần phải có chính kiến để đánh giá, nhìn nhận, phân tích
một cách khách quan để có cách giải quyết thoả đáng. Trong sáng tác của Ma
Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường,… cảm hứng phê phán được biểu
hiện qua việc phản ánh kẻ thực dụng, mưu đồ, tha hoá nhân cách đạo đức, về
sự lộng hành của cái ác, sự tồn tại mặc nhiên của những mối thù truyền kiếp
giữa các gia đình, các dòng họ nơi làng xã.
Phê phán phủ nhận các xấu, cái ác trên tinh thần nhân bản nhân văn, các
tác giả như muốn gửi tới người đọc một thông điệp: “hãy thức tỉnh nhân tính
con người!”. Không hề né tránh hiện thực, trái lại các nhà tiểu thuyết luôn luôn
đối diện và săn đuổi hiện thực, sáng tạo những hình tượng nghệ thuật bằng cả
tài năng, trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút chân chính.
Luận văn thạc sĩ Văn học
23
Trần Thị Thu Hương
Chiêm nghiệm suy tư về quá khứ cũng là những cảm hứng nổi bật
trong tiểu thuyết thời kì đổi mới. Tuy vậy, hồi cố không phải để nuối tiếc hay
Trần Thị Thu Hương
(Đào Thắng). Tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới không chỉ đi sâu vào thân
phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về
tình yêu đôi lứa. Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu
của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư. Khi con người trở về với
cuộc sống đời thường, trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng,
Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Bắc Sơn, Dương Hướng...
đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa
con người cá nhân và con người xã hội.
Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới
nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người
đích thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người của văn học. Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với
thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm
thức, giấc mơ. Các nhà văn đã cố gắng thoát ra khỏi kiểu “phản ánh hiện
thực” được hiểu một cách thông tục của tiểu thuyết trước đây. Với quan niệm
nghệ thuật mới, họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểu đạt. Ngòi bút nhà văn
khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác “con người ở bên
trong con người” (Chim én bay – Nguyễn Trí Huân, Góc tăm tối cuối cùng –
Khuất Quang Thụy, Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Người đi vắng – Nguyễn Bình
Phương, Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng, Cõi người rung chuông tận
thế – Hồ Anh Thái...
Ở giai đoạn lịch sử mới, người viết có những chuyển hướng trong nhận
thức, tư duy về bản thể con người. Các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã phá vỡ
cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đa diện hơn
và vì thế sâu sắc hơn về con người.
Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là con người trần
thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp
sự, vì thế ngôn ngữ có vẻ thô ráp, mộc mạc, mang hơi thở nồng của cuộc
sống. Hiện thực phồn tạp, đa đoan, đa sự, con người phức tạp, đổi thay, méo
mó về nhân cách ồn ào đi vào trong văn học. Ở giai đoạn bề sâu, khi viết về
những đề tài cũ, văn xuôi sau năm 1975 có xu hướng “phá vỡ khuôn khổ đề
tài”. Viết về người lính và cuộc chiến tranh đã qua, văn học bớt đi phần lý