Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng (qua Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ THU HÀ
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG

(Qua Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng
nước lũ, Một mình một ngựa) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bích Thu Hà Nội-2012 MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
2.1. Giới thuyết về khái niệm tự sự 3
2.2. Về nghệ thuật tự sự trong ba tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 6
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 10
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 10
3.2. Phạm vi nghiên cứu 10
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Năm 1975 mở ra bước ngoặt lớn lao của lịch sử và dân tộc. Khi bước ra
khỏi cuộc chiến, cùng với niềm vui chiến thắng và đất nước thống nhất thì đồng
thời chúng ta cũng phải đối mặt với biết bao khó khăn của nền kinh tế khủng
hoảng trầm trọng. Yêu cầu đổi mới xã hội là bức thiết. Muôn đời, nhiệm vụ của
văn học là phản ánh bản chất lịch sử đời sống xã hội. Để đáp ứng được nhu cầu
mới về thưởng thức văn chương của độc giả cũng như nhu cầu thể hiện tình cảm
của nhà văn, văn học sau năm 1975 đã có những đổi mới.
Sau hai cuộc kháng chiến, với độ lùi thời gian để chiêm nghiệm về
những gì đã về xảy ra trong quá khứ và hiện tại, các nhà văn đã chú ý nhìn
thẳng vào sự thật để khai thác chuyện thế sự như những mâu thuẫn nội bộ
nhân dân, những mặt trái của xã hội hay những năm tháng hào hùng đấu tranh
chống giặc ngoại xâm và cho ra đời những tác phẩm có giá trị về nội dung và
nghệ thuật. Có thể kể đến những cây bút tiêu biểu như: Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Thân, Lê Minh Khuê, Nguyễn Khắc Trường
Có thể nói, văn học Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay đã tái hiện sinh
động và đa dạng hiện thực cuộc sống thời kì đổi mới đất nước và vẽ ra bức
tranh sinh văn học sống động và phong phú. Ngoài ra, nó còn góp phần phản
ánh rõ nét tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của con người thời kì đổi mới, đồng
thời lên án những thói xấu, những tiêu cực trong xã hội hiện tại để tạo nên
một dòng văn học đích thực mang ý nghĩa nhân văn.
Sự đổi mới về nội dung, nghệ thuật và quan niệm sáng tác của tiểu
thuyết cũng không phải là ngoại lệ. Tiểu thuyết giai đoạn này đã đổi mới cấu
trúc thể loại: Tiểu thuyết ngắn đã xuất hiện bên những bộ tiểu thuyết trường
thiên hoành tráng; nhân vật gắn với những biến cố xã hội và mang không ít bi
kịch đời thường; lối kết cấu tâm lí với hồi ức tạo ra sự đảo lộn về không gian,
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Giới thuyết về khái niệm tự sự:
Khi loài người xuất hiện, tự sự cũng ra đời. Thế nhưng, cho đến thập
niên 60, 70 của thế kỉ XX, các học giả Pháp với vai trò là người đi đầu, tự sự
mới thực sự trở thành một khoa nghiên cứu độc lập. Vào những năm 80 của
thế kỉ XX, tự sự học (Narratology, Narratologie) đã trở thành trào lưu và thịnh
hành ở Mỹ. Nó đã trở thành cầu nối cho việc đối thoại và hòa nhập giữa
truyền thống phê bình Mỹ và lí luận văn học Châu Âu.
Cũng như các trường phái lí luận khác, tự sự học cũng có lịch sử phát
triển của nó: từ tự sự học kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc chuyển sang giai
đoạn hậu kinh điển. Mối quan hệ của tự sự học kinh điển và tự sự học hậu
kinh điển là sự giao thoa và kế thừa. Tự sự học hậu kinh điển coi tự sự học
kinh điển như một “khoảnh khắc quan trọng” của mình. Nó lợi dụng khả năng
của chúng; chỉ ra những hạn chế của mô hình tự sự cũ; tiếp nhận nhiều
phương pháp luận cùng nhiều giả thiết nghiên cứu mới và đề cập những cách
nhìn mới về hình thức và chức năng tự sự, biểu hiện của quá trình vận động
về hệ hình lí thuyết, các tầng bậc và phương pháp nghiên cứu tự sự.
Tự sự học kinh điển ra đời vào giai đoạn những năm 60 kéo dài đến
khoảng những năm 80 của thế kỷ XX. Hệ hình tự sự hậu kinh điển tập trung
nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện.
Hệ hình tự sự học kinh điển được phân làm ba nhóm:
Nhóm 1: chịu sự ảnh hưởng lớn của V.Propp - đại diện của tự sự học cấu
trúc chủ nghĩa, chú ý nghiên cứu những yếu tố như cấu trúc của truyện, đối
tượng trần thuật như ngữ pháp của tự sự, kết cấu, chức năng của sự kiện và
logich phát triển kết cấu của chúng. Vô hình chung, phương pháp nghiên cứu
này đã lạm dụng thuật ngữ học và bỏ qua việc tìm hiểu cách kể, nhân vật, ý
nghĩa của truyện. Lối tư duy của chủ nghĩa cấu trúc đã nhanh chóng bị lỗi thời.
5
Nghiên cứu về tự sự học hậu kinh điển, Genette là người tiên phong
trong việc đề xuất phương pháp tam phân: 1. Câu chuyện (histoire) - nội dung
được kể; 2. Thoại ngữ tự sự/trần thuật (récit) - diễn ngôn kể (văn bản tác
phẩm tự sự mà độc giả đọc), trong đó thoại ngữ chỉ tất cả mọi đặc trưng mà
tác giả đem đưa vào câu chuyện; 3. Hành vi trần thuật (narration) - quá trình
hoặc hành động này làm nảy sinh thoại ngữ. Trong đó, hành vi tự sự là quan
trọng nhất, không có hành vi tự sự thì không có thoại ngữ tự sự, không có câu
chuyện được kể ra.
Ở giai đoạn tiếp theo, tự sự học hậu kinh điển đi sâu vào nghiên cứu
diễn ngôn tự sự, tức là ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo ra nó như: người
kể, hành động kể, ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu, thời gian mà đại diện tiêu
biểu là Todorov, G.Genette, S.Chatman, G.Prince. Trước đây, tự sự học cấu
trúc chỉ chú ý vào chức năng, ngữ pháp truyện và ngữ nghĩa ở cấu trúc bề sâu,
còn hiện nay, các học giả đã quan tâm đến tu từ học tự sự học như là một
phương tiện biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tự sự. Bên cạnh vấn đề điểm
nhìn thì kí hiệu tượng trưng, khoảng cách trần thuật cũng được đặc biệt chú ý.
Có lẽ, đây chính là lí do tự sự học được hưởng ứng rộng rãi của giới nghiên
cứu trên phạm vi toàn thế giới.
Ra đời từ cuối thế kỉ trước, tự sự học hiện đại đã có những chặng
đường phát triển của riêng mình: tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc (tự sự học
nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự), tự sự học cấu trúc chủ
nghĩa (lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú
pháp học, mục đích là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của
tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách
quan) và tự sự học cấu trúc chủ nghĩa (gắn liền với kí hiệu học, hình thức tự
sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm).



7
những hoàn cảnh đau buồn nhất. Tôi gửi gắm niềm tin yêu của tôi vào tất cả
những cay đắng xót xa của các thân phận. Bằng cách đó tôi biểu lộ tình yêu
với cái đẹp của cuộc sống” [56].
Dưới cái nhìn của nhân vật trung tâm đều là những nhà văn - nhà giáo
thế giới hiện thực xuất hiện trong ba tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá
thú (1988), Ngược dòng nước lũ (1999), Một mình một ngựa (2009) không
chỉ dừng lại ở những xô bồ của đời sống thành thị mà còn là những phức tạp ở
nơi rừng núi xa xôi.
Vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX, sự ra đời của tiểu thuyết luận đề
Đám cưới không có giấy giá thú (1988) đã tạo ra một làn sóng dư luận. Các
bài viết như: “Phải chăng đời là một vại dưa muối hỏng” của Vũ Dương Quỹ;
“Nếu đám cưới không có giấy giá thú” của Nguyễn Văn Lưu; “Đám cưới
không có giấy giá thú có tính chất luận đề về mối quan hệ giữa những giá trị
văn hóa với đời sống con người” của Mai Thục và “Cuộc thảo luận về tiểu
thuyết Đám cưới không có giấy giá thú” do báo Văn nghệ tổ chức ngày
11.11.1990, với sự tham gia của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn
học có tiếng đều đã đưa ra những nhận xét khá lí thú, bổ ích và công bằng
về giá trị đích thực của đời sống cũng như những mặt còn hạn chế về phương
diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã từng nhận xét “tác phẩm có nhiều trang
sinh động, hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người dựng cảnh,
nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào những suy tư,
những lời biện giải mang màu sắc duy lí của tiểu thuyết luận đề” [57, tr. 5].
Năm 1999, Ma Văn Kháng đã cho trình làng tiểu thuyết Ngược dòng
nước lũ. Đó là cuộc lội “ngược dòng” vô cùng gian lao, đầy đau đớn của con
người để chống lại tất cả những cái xấu xa, bần tiện, bỉ ổi xuất hiện trong cơ
chế thị trường và giữ được cho mình cái trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng nhất.



9
Trong bài viết của mình, Tiểu Quyên đã đánh giá về nghệ thuật viết
truyện cũng như chủ đề của tác phẩm như sau: “Sự cô đơn là sản phẩm của
tạo hóa, mang sự hòa trộn hữu cơ giữa vẻ đẹp anh hùng cao cả phi thường với
thói đời nhỏ nhặt, tầm thường. Chủ đề ấy của tiểu thuyết được thực hiện bằng
một nghệ thuật trần thuật có dụng ý phác thảo loạt chân dung một lớp người -
một thế hệ cán bộ ở một thời điểm nhất định của đất nước. Những tính cách
giàu tính chân thực sinh động, như một đính chính những ngộ nhận về họ ở cả
hai phía cực đoan. Bí thư tỉnh ủy Quyết Định là một người có quá khứ oanh
liệt, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Ông tâm huyết, tận tụy, sống gương mẫu
và trung hậu. Nhưng cảm giác cô đơn, một mình một ngựa vừa hào hùng vừa
cô độc đã chế ngự ông. Một mình một ngựa đã khắc họa nhân vật bằng một
cảm hứng kiêu hùng để khắc họa nên hình tượng một con người bình thường
như đủ sức làm nên một sức mạnh anh hùng” [58].
Còn Huy Thông thì tâm đắc: “Tiểu thuyết có dáng dấp một tự truyện
của tác giả. Một mình một ngựa, hình tượng đầy cảm hứng kiêu hùng đó đồng
thời đã hàm chứa ở trong nó mặc cảm cô đơn của mỗi đời người trong cuộc
sống vốn là sản phẩm của tạo hóa mang sự hòa trộn hữu cơ giữa vẻ đẹp anh
hùng cao cả lãng mạn phi thường với thói đời nhỏ nhặt, tầm thường, thậm chí
đê tiện xấu xa Chủ đề ấy của tiểu thuyết được thực hiện bằng một nghệ
thuật trần thuật có dụng ý phác thảo một loạt chân dung một lớp người - một
thế hệ cán bộ ở một thời điểm nhất định của đất nước - những tính cách giàu
tính chân thực sinh động, như một đính chính những ngộ nhận về họ ở cả hai
phía cực đoan” [60].
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về
các tác phẩm của Ma Văn Kháng như: Phan Thị Kim (2002), “Nhân vật trí
thức với sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết
sao 1980”; Đỗ Thị Ngọc Lan (2009), “Cảm hứng phê phán trong văn xuôi



11
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Nhằm khám phá cấu trúc tự sự trọng ba tiểu thuyết trên của Ma Văn
Kháng, luận văn chủ yếu sử dụng lí thuyết tự sự học.

5. Mục đích, ý nghĩa của luận văn
5.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn là công trình khảo sát về nghệ thuật tự sự trong các tiểu
thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một
ngựa của Ma Văn Kháng. Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn
sẽ đem lại một cái nhìn khái quát ở sự một số đổi mới về nghệ thuật tự sự độc
đáo.
5.2. Ý nghĩa của đề tài
Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra những kiến giải mới khác
với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà vận dụng những thành tựu
đã có để đưa ra những đánh giá cụ thể về phong cách nghệ thuật Ma Văn
Kháng dưới góc nhìn tự sự học.

6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi gồm có ba chương:
Chƣơng 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Chƣơng 2: Ngƣời kể chuyện và điểm nhìn.
Chƣơng 3: Giọng điệu



13
dần tên của nhân vật đến khi chỉ còn kí hiệu nhân vật bằng một chữ cái…
Thực chất nó không làm nhân vật biến mất trong tác phẩm mà chỉ thủ tiêu
tính cách nhân vật mà thôi. Ở đây tác giả đã làm “dẹt” nhân vật của mình.
Xóa nhòa cuộc sống thực với các yếu tố như nghề nghiệp, lai lịch, nhân thân
chỉ quan tâm tới nhân vật tại thời điểm xảy ra biến cố. Dường như tác giả
không quan tâm tới quá trình diễn tiến của tính cách nhân vật, mà chỉ cố
chuyển tải tâm trạng của nhân vật tại thời điểm kể chuyện. Cách kể đó đã
khiến cho kiểu nhân vật điển hình biến mất thay vào đó ta có nhân vật như
một mảng hiện thực bị xé nhỏ, ngổn ngang bề bộn. Thậm chí nhiều nhà văn
còn cực đoạn phản đối loại nhân vật tâm lý (kiểu nhân vật đã rất thành công
của tiểu thuyết thế kỷ XIX) và họ nghĩ nhân vật của họ không còn tâm lý nữa.
Theo nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào thì thực chất điểm khác biệt là các nhà
văn đã dùng cách khác để miêu tả tâm lý nhân vật chứ không phải là hủy diệt
tâm lý nhân vật.
Khi tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật, ta thấy, ở giai đoạn sáng
tác sau này, nhân vật của Ma Văn Kháng không còn mang tính sử thi như
những sáng tác ở giai đoạn trước, mà mang tính đời tư, thế sự nhiều hơn. Thế
giới nhân vật không phức tạp và tha hóa như trong sáng tác của Tạ Duy Anh,
không ám ảnh như trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, không mơ hồ kì
ảo như Châu Diên. Nhưng nó phản ánh một hiện thực xã hội, mang một suy
nghĩ triết lý sâu sắc về con người.
Ma Văn Kháng chủ yếu xây dựng nhân vật bằng các thủ pháp truyền
thống quen thuộc. Điều đáng ghi nhận là ông thổi được cái hồn của con người
thời đại mới vào mỗi nhân vật của mình. Tìm hiểu các tác phẩm của Ma Văn
Kháng mà ở đây cụ thể là ba tiểu thuyết: Một mình một ngựa, Ngược dòng
nước lũ và Đám cưới không có giấy giá thú, chúng tôi nhận thấy nhân vật của
Ma Văn Kháng phong phú, có những nét tính cách, hành động, tâm lý, ngôn



15
1.1 Các kiểu nhân vật:
Có nhiều tiêu chí để phân chia các kiểu nhân vật như nhân vật chính và
nhân vật phụ, nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật phản diện,
nhân vật chính diện
Ở đây chúng tôi phân chia nhân vật dựa trên tính chất đặc điểm, theo
các kiểu nhân vật thường được Ma Văn Kháng quan tâm và đưa vào tác phẩm
của mình. Thông qua việc khảo sát ba tiểu thuyết đã nói ở trên chúng tôi thấy
có ba loại nhân vật chung cho cả ba tiểu thuyết này. Đó là những người trí
thức mang bi kịch mà cụ thể ở đây là hình ảnh các nhà văn - nhà giáo, là các
nhân vật nữ đẹp mặn mà đầy sức sống đang bị "phố phường hóa" và những
ông quan ít học nhiều quyền. Chúng tôi sẽ lần lượt đi sâu tìm hiểu từng mẫu
hình nhân vật này.

1.1.1. Nhân vật trí thức nhà văn - nhà giáo
Xuất thân là một giáo viên, Ma Văn Kháng có sự hiểu biết sâu sắc về
nghề giáo đồng thời ông cũng dành nhiều tình cảm của mình cho những người
thầy, đặc biệt là các thầy giáo dạy văn. Ở Ma Văn Kháng ta vẫn còn thấy rõ
dư âm của quan niệm truyền thống Phương Đông "trọng văn". Không chỉ
nhân vật trung tâm mà các nhân vật trí thức được tác giả ưu ái xung quanh
nhân vật trung tâm ít nhiều đều là những người mê văn chương, mang tâm
hồn đồng điệu với nhà văn. Đây là một đặc điểm khá độc đáo ở Ma Văn
Kháng. Bởi trong xã hội hiện đại ngày nay tư tưởng "trọng văn" đã bị xói mòn
và thay đổi khá nhiều. Ít nhất đọc mỗi trang văn của Ma Văn Kháng người ta
vẫn thấy được vẻ đẹp tâm hồn của những nhà giáo mê văn chương, nhiệt tâm
với đời, được học trò tin yêu và tôn kính. Nó gợi cho ta về tinh thần "tôn sự
trọng đạo" vốn rất đẹp trong văn hóa dân tộc.
17
Đó là đoạn văn diễn tả suy tư của Toàn khi được lệnh chuyển công tác
từ một thầy giáo dạy văn sang làm thư ký cho bí thư tỉnh ủy. Với nhiều người
sự thuyên chuyển này khác nào một cơ hội để thay đổi cuộc sống. Song, Toàn
không hề vui vẻ gì, vì điều mà anh mong muốn là được làm nghề giáo - cái
nghề anh say mê và được đào tạo bài bản. Không thể chống đối, nhân vật tìm
cách trì hoãn thi hành quyết định, tranh thủ thời gian trước khi chuyển công
tác để làm những gì có thể cho học sinh, cho ngôi trường của mình. Trong
suốt những tháng ngày làm thư ký cho ông Quyết Định, kí ức của Toàn vẫn
không thôi nhắc nhở về nghề giáo, vẫn dự tính cho một ngày quay về day học
viết văn. Toàn là người sống có nhân cách, có vốn kiến thức sâu sắc, chịu khó
suy ngẫm và chiêm nghiệm. Những gì anh trao đổi với ông Quyết Định trong
những chuyến đi công tác thể hiện tư duy sắc bén của một con người có tư
chất, với vốn học vấn sâu rộng và tấm lòng nhân ái, bao dung của một con
người có tâm hồn nhạy cảm. Tâm hồn Toàn còn luôn hướng về Hà Nội nơi có
Phong và hai đứa con. Là một người chồng chung thủy, nhân hậu, Toàn luôn
có cách ứng xử đàng hoàng như một người đàn ông đích thực.
Nhưng cuộc đời anh lại không gặp nhiều may mắn. Phải từ bỏ nghề
mình yêu thích, chịu nhiều điều tiếng thi phi, đến cuối tác phẩm anh còn bị
đồng nghiệp tìm cách hãm hại. Người ta nghi ngờ anh tư tình với Yên (vợ Bí
thư Tỉnh ủy), người ta đổ cho anh hãm hại ông Quyết Định, những câu nói
của Toàn được người ta xâu chuỗi rồi chụp mũ về quan điểm chính trị. Hóa ra
ở đời, thói đố kị nhỏ nhen len lỏi ở khắp nơi. Giống như nhiều nhân vật trí
thức khác của Ma Văn Kháng, Toàn là vẻ đẹp còn sót lại ở đời nhưng lại chịu
kiếp “bạc phận", truân truyên.
Giống như phần lớn các nhân vật nhà văn, nhà giáo khác của Ma Văn
Kháng Toàn chọn cách rút lui. Anh xin nghỉ phép và rồi chắc cũng sẽ thay đổi
công tác. Anh nhìn nhận thấu đáo phân biệt rõ đúng sai nhưng anh cũng như
19
đưa đến cho người thân, gia đình một cuộc sống đủ đầy hơn, dù là thủ đoạn
và lừa bịp người như Quỳnh hoặc chí ít cũng biết dạy thêm kiếm tiền như
Thuật. Còn Tự, anh có cái gì? Ngoài căn gác xép với cái thư viện gia đình,
anh không có cách gì giúp đỡ được Xuyến. Người ta có thể phê phán Xuyến
chanh chua, nhẫn tâm, phản bội. Nhưng một người phụ nữ phải quán xuyến
mọi vấn đề của gia đình, đặc biệt phải vất vả bon chen với đời để làm trụ cột
kinh tế, cũng có nhiều cái đáng để chúng ta thương cảm. Tự không phải
không có trách nhiệm với vợ con. Anh cũng dằn lòng, cũng tự mình giảm
thiểu mọi nhu cầu để không tăng thêm gánh nặng trên vai Xuyến, thậm chí
phải hi sinh những quyển sách quý của mình để thêm tiền đỡ Xuyến trong chi
tiêu gia đình. Nhưng bảo anh làm những việc ảnh hưởng tới danh dự nghề
nghiệp của mình như dạy thêm lấy tiền, hay nhận quà cáp từ phụ huynh học
sinh thì anh không thể. Để giữ vững nhân cách của mình, Tự trở thành người
đàn ông vô dụng trong con mắt của vợ. Hình ảnh Tự gợi cho ta nhớ tới Hộ
trong Đời thừa của Nam Cao. Bi kịch của họ cùng là lựa chọn giữa lí tưởng
nghề nghiệp hay lẽ sống tình thương. Là một con người hoàn thành trách
nhiệm với gia đình trước hay là một nhà văn chân chính trước. Họ lựa chọn
khác nhau nhưng cả hai đều rơi vào một bi kịch tinh thần khổ đau và dày vò.
Tự rơi vào tình huống trớ trêu khi nằm trên căn gác xép suy nghĩ xem có nên
xuống giúp vợ và mọi người kê cái tủ mới do vợ sắm được:
“Tự rơi vào một tình cảnh thật khó xử. Nằm im giấu mình trên gác xép
thì không đành. Việc của gia đình mình lẽ nào mình lại như một kẻ ngoài
cuộc. Nhưng xuống cùng tham gia kê dọn thì lại lạc lõng giữa những kẻ xa lạ
từ quan hệ tới lời ăn tiếng nói. Không khéo chỉ tổ làm cho Xuyến bực mình”
[34, tr. 283].
Lờ mờ nhận ra mối quan hệ của vợ với người đàn ông khác nhưng Tự
vẫn tìm cách cứu vãn gia đình. Chỉ tiếc rằng nỗ lực của anh bị Xuyến nhìn
21
và danh dự. Nếu trước kia ta thấy anh mạnh mẽ bảo vệ lẽ phải, dám chống lại
ông Lại để bảo vệ cho những điều tốt đẹp, sẵn sàng đối mặt với phong ba, bão
tố. Thì giờ đây Tự của sau này chỉ còn lại một Tự yêu sự yên bình, tránh va
chạm để giữ sự thanh thản cho tâm hồn.
Dù hình ảnh Tự là chuẩn mực cho mẫu hình một nhà giáo, nhà văn
chân chính, nhưng sao người đọc cứ thấy xót xa. Làm người chân chính khó
đến thế sao? Đau khổ đến thế sao? Ma Văn Khang dù rất yêu nhân vật của
mình nhưng ông không lí tưởng hóa nhân vật để nhân vật của mình hoàn mỹ
tuyệt đối. Ở Tự, ta nhận thấy rất rõ những ưu khuyến điểm của giới trí thức.
Dù yêu thương, chia sẻ trân trọng họ tới mức nào, tác giả vẫm chỉ ra rằng một
phần bi kịch cuộc đời nhân vật xuất phát từ chính tính cách thiếu quyết đoán
của họ. Số phận hẩm hiu của Tự khiến ta nhớ đến hình ảnh thầy giáo Cần
trong Mưa mùa hạ. Cũng là trí thức với lối sống nhân hậu, mực thước và có
phần hơi yếu đuối, cũng bị ghen ghét vùi dập bởi những kẻ quyền cao chức
trọng, ông Cần đã chán ghét tất cả và xin về hưu sớm.
Đến Khiêm trong Ngược dòng nước lũ, ta lại bắt gặp đâu đó nét phảng
phất của Tự, dù cho không bi kịch đến như thế! Cũng xuất phát từ một tâm
hồn mê văn chương viết lách: “Khiêm viết mê man, trong cái hạnh phúc của
nghề nghiệp là được tỏ bày, như có lần Thịnh đã nói. Anh viết như ném đá ra
khỏi tay, và đúng như ông Tuệ nói anh cảm nhận được ngay hiệu quả của mỗi
câu chữ như mỗi viên đạn ra khỏi nòng trúng đích. Anh viết trong vò xé tâm
hồn, trong cuộc đối mặt với thời gian” [34, tr. 339-340].
Ở Khiêm cũng như nhiều nhân vật trí thức khác của Ma Văn Kháng, ta
bắt gặp một tâm hồn phức điệu nhạy cảm, nhân hậu. Cái cách anh bao biện
cho Tý Hợi thể hiện rõ tình yêu thương con người trong anh. Không phải
không nhận rõ bản chất con người Liệu nhưng anh vẫn giúp đỡ. Và nhất là
cách anh cư xử với Thoa - người vợ phản bội của anh mới thực sự là cao

Trích đoạn Điểm nhìn bên trong Điểm nhìn bên ngoài Sự di chuyển điểm nhìn Giọng điệu triết lí Giọng điệu mỉa mai, suồng sã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status