ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HẠNH NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN
VŨ THỊ HẠNH
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ : 60. 22. 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VĂN
H
Ọ
C
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 4
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN 13
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN 15
B. NỘI DUNG 16
Chương 1:
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
NHÀ VĂN THUẬN 16
1.1. GIỚI THUYẾT VỀ NHÂN VẬT 16
1.2. CÁC KIỂU NHÂN VẬT TIÊU BIỂU TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
NHÀ VĂN THUẬN 18
1.2.1. Nhân vật tha hương, sầu xứ và bi kịch 18
1.2.2. Nhân vật “vắng mặt” 25
1.2.3. Nhân vật đám đông 30
1.3. NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA CHÂN DUNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN 32
1.3.1. Phá bỏ ngoại hình và tính cách 32
VĂN THUẬN 94
3.1. CẤP ĐỘ LIÊN KẾT VÀ CẤP ĐỘ TRẦN THUẬT 94
3.1.1. Giới thuyết về cấp độ liên kết và cấp độ trần thuật 94
3.1.2. Các cấp độ liên kết trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận 96
3.1.2.1. Cấp độ liên kết không hư cấu 96
3.1.2.2. Cấp độ sắp xếp hư cấu 100
3.1.2.3. Cấp độ hành động 104
3.1.2.4. Sự vượt cấp trong liên kết trần thuật 105
3.1.3. Các cấp độ trần thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận 108
3.1.3.1. Trần thuật bậc một 108
3.1.2.2. Trần thuật bậc hai và bậc ba 109
3.2. NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN 111
3.2.1. Giới thuyết về ngôi kể và điểm nhìn 111
3.2.2. Ngôi kể và điểm nhìn trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận 114
3.2.2.1. Trần thuật ngôi thứ nhất theo điểm nhìn phức hợp 115
3.2.2.2. Trần thuật ngôi thứ ba theo điểm nhìn phức hợp 122 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Tự sự học “vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo
nghĩa rộng, nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan,
nói cách khác, nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự
nhằm tìm một cách đọc. Tên gọi Tự sự học – Naratology, Narratologie, do
nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari T. Todorov đề xuất 1969, trong sách Ngữ
pháp “Câu chuyện mười ngày”, làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước nay
có được một cái tên chính thức và trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc
lập” [22, 11]. Kể từ đó, tự sự học trở thành một trong những lĩnh vực học
thuật được quan tâm phổ biến. Ở Việt Nam, tuy các công trình nghiên cứu
dưới ánh sáng của tự sự học đã xuất hiện nhưng những công trình chuyên sâu
và dày dặn vẫn còn hiếm. Trong công trình này, tác giả luận văn vận dụng lý
thuyết tự sự học tiếp cận sự nghiệp sáng tác của nhà văn Thuận nhằm chỉ ra
những đặc điểm nghệ thuật tự sự, từ đó “tìm ra một cách đọc”. Thiết nghĩ,
đây cũng là một trong những mục đích mà tự sự học hướng đến.
1.2. Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn, giữ vị trí trung tâm, góp
phần làm nên diện mạo của một nền văn học. Những thập kỷ cuối của thế kỷ
XX đã ghi lại sự bàn luận sôi nổi của giới nghiên cứu toàn thế giới về các vấn
đề như: tiểu thuyết có khủng hoảng hay không và nếu có thì tại sao khủng
hoảng? tiểu thuyết có chết không và nếu có thì tại sao chết? tiểu thuyết có
lĩnh, từng trải, chuyên nghiệp và những tìm tòi mới lạ trong lối viết.
Thuận tên đầy đủ là Đoàn Ánh Thuận, sinh 1967 tại Hà Nội. Thuận đã
tốt nghiệp Đại học Ngoại ngữ của Đại học Sư phạm Pyatigorsk (Nga), cao
học Đại học Paris 7 và Đại học Sorbonne. Thuận là vợ họa sĩ Trần Trọng Vũ,
con dâu nhà thơ Trần Dần, chị em song sinh với dịch giả Đoàn Cầm Thi.
Hiện Thuận đang định cư tại Pháp. Với truyền thống gia đình hoạt động trong
lĩnh vực nghệ thuật, với nền tảng tri thức nhiều năm tích lũy, lại có điều kiện
tiếp xúc với nhiều truyền thống văn học (đặc biệt là Pháp – “cái nôi” của
những tìm tòi và đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết), Thuận là một trong số ít
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
3
tác giả mà “từ tuyên ngôn đến sáng tác đều bộc lộ một cách rất quyết liệt
tham vọng cách tân hình thức tự sự” [44]. Tuy mới vào nghề nhưng Thuận đã
nhanh chóng tạo được “thương hiệu” thông qua 5 tiểu thuyết “trình làng” liên
tục trong năm năm: Made in Vietnam (2003), Chinatown (2004), Paris 11
tháng 8 (2005), T mất tích (2006) và Vân Vy (2008). Với năm tiểu thuyết,
Thuận đã từng bước chứng tỏ bản lĩnh và tài năng của một cây bút chuyên
nghiệp, đam mê với nghề. Mỗi tiểu thuyết đều là kết quả của một quá trình
lao động nghệ thuật nghiêm túc, nhọc nhằn, dày công tìm tòi và thể nghiệm
những lối viết mới, vượt thoát khỏi những lối mòn sẵn có của nghệ thuật tự
sự truyền thống. Nhờ đó, Thuận nhanh chóng trở thành một trong những cây
bút tiểu thuyết tiên phong đi tìm những hình thức thể hiện mới, nỗ lực làm
sóng”, vẫn trong quá trình “khai mở và định giá”. Sự “khai mở và định giá”
trở nên thực sự cần thiết bởi họ là những người đang viết tiếp những “trang
sử mới” cho tiểu thuyết. Mặc dù tiểu thuyết của Thuận mới xuất hiện trong
vài năm trở lại đây nhưng tiếp nối hành trình của những thế hệ đi trước, cùng
với những “người đương thời”, Thuận đã có những đóng góp không nhỏ
trong việc đưa đến “những chuyển biến sâu sắc về “nòng cốt” cũng như “đặc
trưng thể loại” [77, 36].
Trên đây là những lí do thôi thúc chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật
tự sự (hướng tiếp cận còn khá mới) trong tiểu thuyết của Thuận và đặt Thuận
trong làn sóng đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại để góp phần
khẳng định phong cách, những đóng góp cũng như điểm dừng của nhà văn
trong công cuộc đổi mới tiểu thuyết. Thông qua đó, luận văn phần nào phác
họa diện mạo tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI.
2. Lịch sử vấn đề 2.1. Ở phương Tây, việc xem xét tác phẩm văn học dưới góc độ tự sự
học đã và đang rất phổ biến. Nhưng đối với văn học Việt Nam, tự sự học vẫn
còn là một vấn đề khá mới mẻ, dường như mới chỉ là thói quen của các nhà
chuyên môn cũng như những người làm nghiên cứu lý luận. Tình hình đó gây
nên không ít khó khăn đối với độc giả trong việc tiếp nhận cũng như chiếm
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
5
nghiên cứu Bùi Việt Thắng đề cập đến trong bài viết nhan đề Tiểu thuyết Việt
Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại. Trong bài viết này, ngay phần Nhận
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
6
diện tiểu thuyết sau 1975, tác giả đã đặc biệt chú ý đến tính chất mới lạ của
Chinatown, khẳng định nó đã khước từ truyền thống nhưng chưa đến được
hậu hiện đại. Tác giả cũng đề cập đến cấu trúc của Chinatown, vai trò của kí
ức đối với những thay đổi của cấu trúc tiểu thuyết. Tác giả khẳng định: “đây
là một lối kiến trúc tiểu thuyết kiểu lồng ghép các “mảnh vỡ tâm trạng” khiến
người đọc rất khó tiếp nhận theo lối truyền thống”[18, 191].
Như vậy, ở bài viết trên, tác giả Bùi Việt Thắng đã đề cập đến một
phương diện của nghệ thuật tự sự (kết cấu) như một minh chứng cho cái mới
lạ, phần nào giải thích cho sự “khó tiếp nhận” của độc giả. Do bài viết hướng
tới phạm vi bao quát rộng (tiểu thuyết Việt Nam sau 1975), hơn nữa, lại chỉ
gói gọn trong dung lượng chục trang giấy, nên nghệ thuật kết cấu trong
Chinatown mới chỉ được tác giả đề cập đến một cách sơ lược. Bài viết cũng
chưa có điều kiện đi sâu vào những yếu tố khác nhau trong nghệ thuật tự sự
của Chinatown nói riêng và những tiểu thuyết khác của Thuận nói chung.
Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn
đề nghiên cứu và giảng dạy còn có một số bài viết khác cũng đề cập đến tiểu
thuyết của Thuận nhưng mới dừng lại ở mức độ “điểm mặt, gọi tên” như:
có điều kiện đi sâu vào toàn bộ tiểu thuyết của Thuận và chỉ ra những đặc
điểm về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn.
Ở Luận văn Thạc sĩ Khoa họcVăn học của tác giả Phạm Thu Hiền với
đề tài Tiểu thuyết Việt Nam năm năm đầu thế kỷ, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn năm 2007 tình hình cũng diễn ra tương tự. Luận văn này đã sơ bộ
ghi nhận những đóng góp mới cả về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết
Việt Nam năm năm đầu thế kỷ (trong đó có Thuận) nhưng chưa đề cập một
cách tập trung về phương diện nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thuận.
Khác với các công trình nghiên cứu trên, ở bài viết Tư duy thơ trong
tiểu thuyết Việt Nam đương đại (được in trong công trình Tự sự học – một số
vấn đề lý luận và lịch sử, phần 2 do Trần Đình Sử chủ biên, Nhà Xuất bản
Đại học Sư phạm, 2008), Nguyễn Thị Bình lại chú ý đến tiểu thuyết của
Thuận ở khía cạnh nhịp điệu, chất thơ: “trong các nhà văn Việt Nam, ý thức
biến nhịp điệu thành nội dung tiểu thuyết ở Thuận là mạnh nhất, dù Thuận
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
8
xuất hiện muộn hơn Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Châu Diên”[23, 490]. Tác giả
đã mô hình hóa cấu trúc tiểu thuyết của Thuận: Chinatown có cấu trúc như
một bức tranh lập thể, như một bản nhạc; T mất tích có cấu trúc như một câu
đố…Như vậy, dù tác giả đã đưa đến những phát hiện thú vị (chất thơ ẩn sau
bức tranh đời sống chẳng có gì thi vị; chất thơ ẩn sau cái nhìn đầy sắc thái
Thị Loan nghiên cứu về “những cách tân nghệ thuật”; Nguyễn Xuân Lệ Hằng
nghiên cứu về thi pháp tiểu thuyết), chưa đề cập tới nghệ thuật tự sự trong
tiểu thuyết của Thuận một cách tập trung và có hệ thống. Như vậy, cho đến
thời điểm luận văn này được tiến hành, “cánh cửa” đi sâu tìm hiểu về nghệ
thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận vẫn còn đang để ngỏ.
Điểm qua những công trình nghiên cứu, các khóa luận, luận văn như
trên chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết của Thuận đã thu hút được sự quan tâm,
chú ý của các nhà nghiên cứu ngay từ khi tác phẩm mới được xuất bản. Các
công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận tiểu thuyết của Thuận ở những mức độ
rộng, hẹp khác nhau (có khi tiểu thuyết của Thuận được đặt trong diện mạo
tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 đến nay; có khi lại chỉ được đặt trong diện
mạo tiểu thuyết Việt Nam năm năm đầu thế kỷ XXI) và ở những khía cạnh
khác nhau (cấu trúc thể loại, tính trò chơi, thi pháp, những cách tân nghệ
thuật…). Đó cũng là những “bước tiến” và “điểm dừng” trong việc nghiên
cứu về tiểu thuyết của Thuận. Những “bước tiến” và “điểm dừng” của các
công trình nghiên cứu trên là cơ sở, là xuất phát điểm để chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thuận.
2.2.2. Các bài nghiên cứu phê bình, phỏng vấn trên báo viết, mạng Internet Nói đến lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết của Thuận mà chỉ đề cập đến
những công trình nghiên cứu, những khóa luận, luận văn thì đó sẽ là một
khiếm khuyết lớn. Bởi tiểu thuyết của Thuận mới được xuất bản vài năm trở
lại đây nên những công trình nghiên cứu dày dặn và tập trung còn khá thưa
thớt. Trái lại, tiểu thuyết của Thuận lại được giới thiệu một cách rộng rãi và
dành được sự quan tâm sôi nổi trên báo viết và mạng Internet, đặc biệt là các
diễn đàn văn học, các trang báo điện tử, blog cá nhân.
thuẫn lớn đăng trên http://evan.vnexpress.net; Janine Gillon với bài viết Về ba
tác phẩm Việt Nam mới xuất bản tại
Pháp đăng trên
http://www.bbc.co.uk; Nguyễn Vĩnh Nguyên với hai bài viết Phố Tàu: không
chỉ là tha hương đăng trên http:/www.tuoitre.com.vn và Văn học hải ngoại:
“dòng riêng” có gặp “dòng chung”? đăng trên http://vietbao.vn; Hoàng
Nguyễn với Đôi nét về thi pháp và kết cấu tiểu thuyết Chinatown đăng trên
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
11
http:/www.evan.com.vn; Đoàn Minh Tâm với Một vài đặc trưng nghệ thuật
tiểu thuyết Thuận đăng trên http://vannghequandoi.com.vn; Đỗ Minh Tuấn với
Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước đăng trên http://www.tienve.org; Phùng
Gia Thế với Lý giải về sự khó đọc của tiểu thuyết hiện nay đăng trên
http://phongdiep.net; Đoàn Cầm Thi với ba bài viết: Đọc Paris 11 tháng 8 của
Thuận đăng trên http:/www.talawas.org; I’m yellow – Khoái cảm văn bản
đăng trên http:/www.tienve.org; Có một dòng văn học “khác” đăng trên
http:/www.talawas.org….Những bài viết kể trên ít nhiều đề cập đến những
phương diện khác nhau về nghệ thuật tiểu thuyết của Thuận. Tuy nhiên, hầu
hết các bài viết hoặc chỉ dừng lại ở một tiểu thuyết của Thuận, hoặc đề cập đến
các tiểu thuyết của Thuận nhưng chỉ trên một khía cạnh nhỏ…Do đó, chưa bài
viết nào có khả năng đưa đến cho chúng ta một bức tranh khái quát, toàn diện
và sâu sắc về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thuận.
tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới (1986-2000) của tác
giả Bùi Việt Thắng, Tạp chí Nhà văn 10/2006…
Điểm qua lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết của Thuận chúng tôi nhận
thấy: Thuận là một “hiện tượng” khá nổi bật, được đông đảo giới nghiên cứu
quan tâm nhưng hiện chưa có một công trình nào tập trung về nghệ thuật tự
sự trong tiểu thuyết của Thuận. Phần nhiều các nhà nghiên cứu mới chỉ đi
vào một khía cạnh hoặc một tác phẩm cụ thể của Thuận. Thực tiễn đó cho
thấy, việc tập trung tìm hiểu về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Thuận
là một đề tài mới mẻ, và có những ý nghĩa thiết thực đối với việc nghiên cứu
lý luận phê bình cũng như tiếp nhận và sáng tạo văn học. Vì vậy luận văn này
hi vọng sẽ hệ thống lại những nét tiêu biểu về nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết của Thuận, nhằm hướng tới một cái nhìn toàn diện và khách quan.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: luận văn nghiên cứu về nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết của Thuận.Tuy nhiên, nghệ thuật tự sự là có phạm vi rộng,
bao gồm nhiều yếu tố nên chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu về các
phương diện: nhân vật, kết cấu và các phương thức trần thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung vào năm tiểu thuyết của
Thuận là: Made in Vietnam, Chinatown, T mất tích, Paris 11 tháng 8 và Vân
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
13
giới tác phẩm. Thiết nghĩ, đó là một trong những cơ sở để đánh giá một cách
công bằng những đóng góp cũng như những hạn chế của Thuận trong diện
mạo nền văn học Việt Nam thế kỷ XXI.
Ngoài ra, để có thể đánh giá tiểu thuyết của Thuận một cách khách
quan và toàn diện hơn, tác giả luận văn bước đầu đặt Thuận trong tương quan
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
14
so sánh với một vài tác giả tiểu thuyết khác trên thế giới để để thấy được
những ảnh hưởng tác động của văn học hiện đại thế giới đối với tiểu thuyết
của nhà văn Thuận cũng như những yếu tố kế thừa và sáng tạo trong tiểu
thuyết của nhà văn Thuận. Trong từng nội dung của luận văn, chúng tôi cũng
đặt tiểu thuyết của Thuận trong bối cảnh văn học Việt Nam truyền thống và
đương đại để thấy được những cách tân, những đóng góp, “điểm dừng” cũng
như những thử nghiệm thành công và chưa thực sự thành công trong tiểu
thuyết của nhà văn Thuận trên phương diện nghệ thuật tự sự.
Với hướng nghiên cứu và triển khai như trên, luận văn với đề tài Nghệ
thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận có ý nghĩa thiết thực trong
nghiên cứu lý luận phê bình cũng như trong tiếp nhận và sáng tạo nghệ thuật.
Luận văn cũng là cơ sở để cung cấp nguồn tư liệu nghiên cứu về một tác giả
đương đại vốn vẫn chưa có bề dày trong nghiên cứu.
nghĩa quan trọng, từ đó đi tới khái quát về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
của nhà văn Thuận. Phương pháp so sánh được vận dụng để làm sáng rõ
những yếu tố kế thừa cũng như cách tân về nghệ thuật tự sự, từ đó thấy được
sự độc đáo, nét riêng biệt trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận.
6. Kết cấu luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn
Thuận. Chương 2: Kết cấu tiểu thuyết của nhà văn Thuận. Chương 3: Phương thức trần thuật trong tiểu thuyết của nhà văn
Thuận.
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
16
là một hiện tượng ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra. Thông thường, đó
là một cái tên (…). Thứ đến là các dấu hiệu tiểu sử, nghề nghiệp hoặc đặc
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
17
điểm riêng (…). Sâu hơn là các đặc điểm tính cách (…). Các đặc điểm ấy
được đúc kết thành các “công thức” giới thiệu nhân vật (…). Trong các công
thức nhận ra ấy được chứng thực trong các quan hệ, được bộc lộ, phát triển
hoặc điều chỉnh trong các xung đột, và cuối cùng ta có một hình tượng hoàn
chỉnh về một nhân vật văn học (…). Nhân vật là phương tiện khái quát các
tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” [19, 277 – 279].
Điểm qua những ý kiến trên chúng ta có thể thấy, các nhà nghiên cứu
khá đồng nhất trong việc coi nhân vật văn học được miêu tả trong tác phẩm
nhằm thể hiện quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn và là phương tiện
để khái quát tính cách, số phận con người.
Trong tiểu thuyết truyền thống, các nhân vật thường được xây dựng
theo những “công thức” như Trần Đình Sử khái quát: gồm tên gọi, tiểu sử,
nghề nghiệp, đặc điểm tính cách được bộc lộ thông qua lời nói, cử chỉ, hành
động. Các nhà văn thường “chăm chút” xây dựng nhân vật từ ngoại hình,
hành động, tâm trạng, tính cách…để trở thành những hình tượng đầy đặn,
sống động. Nhân vật trở thành một yếu tố quan trọng về nội dung, một
phương tiện nhằm nêu bật chủ đề tác phẩm.
1.2.1. Nhân vật tha hương, sầu xứ Nhân vật tha hương dường như là điểm đến của các nhà văn xa xứ nói
chung. Giống như tiểu thuyết của các nhà văn di dân khác (Phạm Thị Hoài,
Đoàn Minh Phượng, Lê Ngọc Mai…), tiểu thuyết của Thuận là “bến đậu” của
những con người tha hương.
Năm tiểu thuyết của Thuận, ngoại trừ Made in Vietnam lấy bối cảnh
trong nước, bốn tiểu thuyết còn lại đều lấy Paris làm phông nền - “môi trường
sống” cho các nhân vật. Họ được sinh ra ở rất nhiều nơi khác nhau nhưng đều
quy tụ ở kinh đô ánh sáng: Paris. Paris với họ là tương lai, là hạnh phúc, là
ước mơ khát vọng đổi đời. Nhưng bằng những hình thức khác nhau, họ đều
bị Paris hoa lệ từ chối, xô đẩy đến bên bờ sinh tử. Vì thế, tiểu thuyết của
Thuận trở thành “mảnh đất” của “ngồn ngộn” những thân phận tha hương
mang trong mình nỗi cô đơn sầu xứ và bi kịch. Họ cho người đọc thấy rõ một
Paris khác – một “bóng đen” đổ dài xuống từ kinh đô ánh sáng - Paris của
những người nhập cư. Tìm về “quê gốc” cũng như nơi quy tụ hiện tại của các
nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận, chúng tôi có bảng thống kê sau:
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
19 Tác phẩm
Paris
Hắn, Paul, Arthur
Rennes
Thụy, Feng Xiao, Hao Peng
Trung Hoa
Paris 11
tháng 8
Liên, Mai Lan, Sư tử, Mèo ốm…
Việt Nam
Pát, Pedro
Cu Ba
Chị người làm Mã Lai
Mã Lai
Nát
Jane
Gaza
Rõ ràng, các nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận “gặp nhau” đều gặp
nhau ở Paris. Họ đều tha hương, đều sống trên quê hương của “kẻ khác”.
Muôn nẻo đường đời cùng chung số phận: họ đều bị Paris “hút” bởi nhiều
“lực từ” khác nhau nhưng khi đã bị “hút” vào, họ chỉ có thể “bám” trên bề
mặt – bên lề của Paris chứ chẳng bao giờ hòa nhập được vào trong đó. Họ
cũng chẳng đủ sức mạnh tự đẩy mình ra để trở về miền đất cũ. Cho dù họ có
đủ dũng cảm để bứt ra thì cố hương cũng chẳng thể là bến đỗ bình an đối với
họ. Họ bị rơi vào trạng thái bất an, hẫng hụt, không trôi dạt đến bên bờ sinh
tử thì cũng bị kết án “biến mất”.
Luận văn Thạc sĩ
Vũ Thị Hạnh
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận
20
Chinatown trước hết là “tiểu tự sự” về những thân phận tha hương bé
nhỏ và lạc lõng, nằm ở vùng ngoại biên của mọi không gian mà mình có mặt,
nhiều quốc tịch nhưng không có nổi một quê hương. Sự cô đơn trong
Chinatown dường như đã là một định mệnh cho tất cả những con người trong
đó. Nếu chúng ta đã từng gặp trong Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương
một thân phận bị biến thành “khách” trên chính quê hương mình thì có lẽ khi
đọc Chinatown, chúng ta sẽ thấy vị “khách” trong Hồi hương ngẫu thư vẫn