bộ giáo dục và đào tạo viện khoa học x hội Việt Nam
viện văn học
[\
đỗ phơng thảo
nghệ thuật tự sự trong sáng tác
của ma văn kháng
(qua một số tác phẩm tiêu biểu)
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 62.22.32.01
tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn H Nội - 2007
tr. 70- 75.
2. Đỗ Phơng Thảo (2005), Quan niệm về văn chơng nghệ
thuật của Ma Văn Kháng, Tạp chí Khoa học, Trờng Đại học S
phạm Hà nội (5), tr. 59 -68.
3. Đỗ Phơng Thảo (2006), Nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu, Tạp chí Khoa học, Trờng Đại
học S phạm Hà nội (2), tr. 61- 68.
4. Đỗ Phơng Thảo (2006), Nhân vật nữ trong tác phẩm văn
xuôi của Ma Văn Kháng, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (7),
tr. 40- 44.
5. Đỗ Phơng Thảo (2006), Cốt truyện trong tác phẩm thế
sự, đời t của Ma Văn Kháng, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (8),
tr.123- 134.
PHần Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề ti, tính cấp thiết của đề ti
Ma Văn Kháng là một trong những tên tuổi đáng chú ý của
làng văn xuôi đơng đại Việt Nam. Giải thởng Nhà nớc về văn
học nghệ thuật năm 2001 cùng con đờng sáng tác gần nửa thế kỷ
đã khẳng định vị thế của Ma Văn Kháng trong lòng độc giả cũng
nh trong đời sống văn học.
Bắt đầu dấn thân vào nghiệp bút nghiên từ những năm tháng
chiến tranh lửa đạn, khởi đầu từ những trang văn thấm đẫm hơng
vị núi rừng biên ải mịt mờ, xa ngái cho tới hôm nay lại da diết nỗi
niềm thế sự nhân sinh nơi thị thành đông đúc, ngột ngạt văn xuôi
Ma Văn Kháng là một cuộc hành trình đầy thú vị vừa mang khuôn
hình chung của các nhà văn trởng thành trong những thập niên
70, 80 của thế kỷ XX vừa có những dáng nét riêng, khó lẫn.
Tác phẩm của Ma Văn Kháng đợc giới thiệu khá nhiều thông
qua sự quan tâm chú ý của độc giả và của giới phê bình. Tuy vậy,
thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng qua thời gian cầm
bút gần 50 năm của ông.
Để đạt đợc mục đích nêu trên, luận án phải giải quyết những
nhiệm vụ sau đây:
Trên cơ sở cuộc đời nhà văn, đề tài sáng tác, lý thuyết về thể
tài tự sự, luận án xác định sự phát triển của các thể tài tự sự trong
quá trình sáng tạo của Ma Văn Kháng: từ những sáng tác theo thể
tài lịch sử dân tộc, mang tính sử thi giai đoạn đầu đến những sáng
tác theo thể tài thế sự đời t giai đoạn sau đồng thời xem xét sự vận
động trong quan niệm về con ngời và cuộc đời của nhà văn; khảo
sát, phân tích, đánh giá nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật
xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm thuộc
thể tài lịch sử dân tộc và trong các tác phẩm thuộc thể tài thế sự,
đời t.
4. Phơng pháp luận nghiên cứu
Luận án sử dụng chủ yếu các phơng pháp truyền thống bao
gồm phơng pháp xã hội học, phơng pháp thi pháp học và phơng
pháp so sánh đồng thời vận dụng lý thuyết về thể tài trong tác
phẩm tự sự và một khía cạnh thi pháp học xung quanh quan niệm
về con ngời và cuộc đời làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự tiến triển
của nghệ thuật tự sự trong sáng tác Ma Văn Kháng.
5. Lịch sử vấn đề
5.1. Các luận văn về Ma Văn Kháng
Hiện cha có chuyên luận nào về Ma Văn Kháng đợc in
thành sách song số lợng luận văn thạc sĩ về văn xuôi Ma Văn
Kháng rất phong phú, đa dạng. Những công trình của các tác giả
nh Phạm Mai Anh (1997), Đào Tiến Thi (1999), Đỗ Phơng Thảo
(2000), Dơng Thị Thanh Hơng (2003), Bùi Lan Hơng, Lê Văn
Chính, Lê Thanh Ngọc (2004) đã đề cập đến nhiều vấn đề có liên
quan đến nghệ thuật tự sự của Ma Văn Kháng. Dù cho có nhiều
của nhà văn Ma Văn Kháng qua thời gian gần nửa thế kỷ cầm bút
ở những phơng diện cơ bản: nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ
thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật.
- Liên hệ với cuộc đời nhà văn, với sự thay đổi đề tài, trên cơ sở
lý thuyết của G.N Pospelov, luận án xác định toàn bộ sáng tác của
Ma Văn Kháng, về cơ bản, gắn với hai thể tài: lịch sử dân tộc trong
giai đoạn đầu và thế sự, đời t trong giai đoạn sau. Trên cơ sở hai
thể tài đó, quan niệm về con ngời và cuộc đời của nhà văn cũng có
nhiều điểm khác biệt: từ cuộc sống chiến tranh và con ngời công
dân sang cuộc sống thời hậu chiến đa đoan, đa sự với con ngời cá
nhân phức tạp, khó đoán định.
- Làm rõ sự tơng đồng và khác biệt trong nghệ thuật xây
dựng cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật trong sáng tác của
Ma Văn Kháng ở từng thể tài. Đồng thời, qua đó, xác định những
đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam ở từng chặng
đờng sáng tác và những vấn đề thuộc về tạng văn riêng biệt của
ông.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 3 chơng:
Chơng 1: Quan niệm về con ngời và cuộc đời từ sử thi tới
truyện về thế sự, đời t
Chơng 2: Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm mang tính sử thi
Chơng 3: Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm về thế sự, đời t
Chơng I
q
uan niệm về con ngời v cuộc đời
Từ sử thi tới truyện về thế sự, đời t
Trong chơng này, trên cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn gắn
mang tính sử thi và thể tài thế sự, đời t. Trên cơ sở phân định hai
giai đoạn sáng tác gắn với hai thể tài, luận án tiến hành việc xem
xét sự vận động trong quan niệm của nhà văn về con ngời và cuộc
đời. Chính những đặc điểm về thể tài tác phẩm tự sự, những thay
đổi trong quan niệm về con ngời và cuộc đời kéo theo sự tiến triển
trong nghệ thuật tự sự của Ma Văn Kháng, nhất là ở những phơng
diện tự sự cơ bản: nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nhân vật và
nghệ thuật trần thuật với vai trò của ngời kể chuyện cùng những
biểu hiện đáng chú ý của ngôn ngữ trần thuật.
1.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngời v cuộc đời
trong tác phẩm mang tính sử thi
1.2.1. Quan niệm về cuộc đời
Giống nh tác phẩm của hầu hết các nhà văn cầm bút trong
những tháng năm lửa đạn, chiến tranh là hiện thực dữ dội trong
hầu hết sáng tác mang tính sử thi của Ma Văn Kháng. ở Đồng bạc
trắng hoa xòe và Vùng biên ải, đời sống xã hội là một bức tranh
loạn lạc triền miên với bao nhiêu mất mát, hy sinh của những con
ngời một lòng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của
nhân dân; với những nỗi đắng cay vì sự nhầm lẫn khi lựa chọn lý
tởng sống, vì chia ly, tang tóc của những con ngời bình thờng
nơi biên ải xa xôi. Cuộc đời, trong quan niệm của nhà văn thời kỳ
đầu, về cơ bản, nằm trong khuôn hình chung của văn học cách
mạng 1945-1975 nhng có sắc màu riêng bởi nó là vô vàn những
xung đột diễn ra trong không gian núi rừng Tây Bắc Tổ quốc.
1.2.2. Quan niệm về con ngời
Do sự chi phối của thể tài lịch sử dân tộc, con ngời trong sáng
tác tự sự mang tính sử thi của Ma Văn Kháng nằm trong nguồn
mạch chung của văn học cách mạng với sự phân định rõ ràng giữa
hai thế giới: ta/địch, bạn/thù, tốt/xấu. Sáng tác trong giai đoạn đầu
cơ bản là lời ngợi ca con ngời mới của một thời đại chiến tranh vệ
nh Pao, Chin, Seng, Tếch tìm đến cách mạng; của những con
ngời nh Seo Cả tìm thấy hạnh phúc; của những già làng nh Hố
pẩu Giàng Lầu tìm thấy niềm tin và lẽ sống. Cuộc hành trình đến
với cách mạng, đến với hạnh phúc của mỗi nhân vật trong tác
phẩm đều có những dáng nét riêng. Điểm chung tổng quát ở đây là,
tất cả h, trên con đờng đó, đều đi tới một mục đích chung, một lý
tởng chung: giải phóng dân tộc, giải phóng đất nớc.
Mục đích, lý tởng sống của những con ngời nh vậy hoàn
toàn vắng bóng trong các tác phẩm sau này về thế sự, đời t của
Ma Văn Kháng.
1.3. Quan niệm về con ngời v cuộc đời trong tác
phẩm về thế sự, đời t
Trong phần này, trên cơ sở khảo sát, phân tích, so sánh, luận
án làm rõ sự tiếp nối và thay đổi trong quan niệm của nhà văn về
con ngời và cuộc đời trong các tác phẩm về thế sự, đời t giai đoạn
sau so với những sáng tác về lịch sử dân tộc thời kỳ đầu.
1.3.1. Quan niệm về cuộc đời
Điều đáng chú ý là khác với tác phẩm mang tính sử thi mà
trọng tâm là tạo dựng bức tranh lịch sử hoành tráng về một thời đại
chiến tranh có mất mát hy sinh mà không kém phần hào hùng của
các dân tộc vùng biên ải thì sáng tác về thế sự, đời t của Ma Văn
Kháng là bức tranh về những cảnh đời gần gụi quanh ta. Tác phẩm
của ông thời kỳ này nhiều khi khiến ngời ta có cảm giác nhà văn
đang đối thoại, tranh biện với một ai đó về văn chơng nghệ thuật,
về cuộc đời và con ngời. Nhà văn thích triết lý về cuộc đời. Ông
thích đa ra các khái niệm, các định nghĩa.
Việc thống kê các định nghĩa trong văn xuôi của Ma Văn
Kháng đem lại nhiều suy nghĩ thú vị cho ngời đọc. Với gần 100 lần
qua ngôn ngữ ngời kể chuyện xng "tôi" hoặc ngời kể chuyện
hàm ẩn, qua ngôn ngữ nhân vật, Ma Văn Kháng đa ra mệnh đề
Cuộc đời của nhà văn Ma Văn Kháng có sự gắn bó mật thiết
với hai mảng đề tài đợc ông thể hiện trong tác phẩm của mình.
Tuy vậy, do sự phân định tác phẩm theo đề tài không phải là sự lựa
chọn duy nhất phù hợp để đa ra cái nhìn tổng quan về toàn bộ sự
nghiệp sáng tác của ông nên lý thuyết về thể tài tự sự của
G.N.Pospelov đợc sử dụng để xác định hai thể tài cơ bản trong hai
giai đoạn sáng tác của nhà văn là lịch sử dân tộc và thế sự, đời t.
Cuộc sống trong các sáng tác mang tính sử thi là cuộc sống
của thời chiến tranh vệ quốc và con ngời đợc nhìn ở góc độ công
dân nhiều hơn là góc độ cá nhân, đời t. Trong khi đó, ở tác phẩm
về thế sự, đời t, cuộc sống lại thuộc về thời hậu chiến đa đoan, đa
sự với con ngời cá nhân phức tạp, khó đoán định. Qua nghiên cứu,
có thể nhận thấy quan niệm về con ngời và cuộc đời trong tác
phẩm về thế sự, đời t của Ma Văn Kháng phong phú, sâu sắc hơn
so với các tác phẩm về lịch sử dân tộc. Đồng thời, từ ngày đầu cầm
bút tới hôm nay, ông vẫn không thay đổi cách nhìn của mình về
một thế giới có sự tơng phản triệt để: tốt/ xấu, thiện/ ác. Sự phân
định khá rạch ròi hai thể tài gắn với hai giai đoạn sáng tác cùng với
sự khác biệt trong quan niệm về con ngời và cuộc đời dẫn đến
nghệ thuật tự sự của Ma Văn Kháng cũng có những bớc thay đổi
tất yếu. Đây là vấn đề đợc chúng tôi trình bày ở hai chơng sau.
Chơng II
Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm
mang tính sử thi
ở chơng này, luận án nghiên cứu một số phơng diện đáng chú ý
để làm nổi bật nghệ thuật tự sự trong tác phẩm thuộc thể tài lịch sử dân
tộc của Ma Văn Kháng thời kỳ đầu: nghệ thuật xây dựng cốt truyện,
Chính gặp thổ ty Hoàng Văn Chao). Bên cạnh đó, việc đan xen
hàng loạt các biến cố với những bức tranh khung cảnh cũng làm
cho không gian sử thi trở nên ám ảnh ngời đọc.
2.1.3. Cốt truyện kết thúc có hậu
Do cốt truyện sự kiện mạch lạc, rõ ràng theo diễn tiến thời
gian và hầu nh trọn vẹn các thành phần trình bày, khai đoạn,
phát triển, kết thúc, nên kết thúc có hậu là điều hoàn toàn hợp lý
với tiểu thuyết sử thi của Ma Văn Kháng. Việc phân tích kết thúc
tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xoè và Vùng biên ải cho phép chứng
minh rõ vấn đề trên.
2.2. Nhân vật
2.2.1. Kiểu nhân vật
Trong dòng chảy quan niệm chung của văn học sử thi cách
mạng, Ma Văn Kháng đã tạo dựng thành công 3 kiểu nhân vật
trong tác phẩm mang tính sử thi của mình:
2.2.1.1. Nhân vật anh hùng
Tiểu thuyết sử thi của Ma Văn Kháng không có những ngời
anh hùng kiểu nh anh Núp, chị T Hậu, chị Sứ, anh Trỗi, song
hầu hết những cán bộ chỉ huy quân đội dũng cảm tài ba, những
ngời lãnh đạo chính quyền các cấp gần gũi với nhân dân, hết lòng
với đời sống của nhân dân trong tác phẩm của ông đều có những
nguyên mẫu thực ngoài đời, xứng đáng với lịch sử vùng đất Lào Cai
anh dũng. Ngời anh hùng trong tiểu thuyết sử thi của Ma Văn
Kháng là những con ngời mang phẩm chất cao cả, phẩm chất kết
tinh cao độ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. ở phần
này, luận án đi sâu vào hai hình tợng nhân vật anh hùng điển hình
đợc tập trung khắc hoạ ở Đồng bạc trắng hoa xoè và Vùng biên ải
biểu đạt thái độ ngỡng mộ, tự hào của nhà văn trớc những tấm
gơng anh hùng cách mạng: Lê Chính và Pao.
2.2.1.2. Nhân vật quần chúng
thiện/ ác. Hắn là kẻ địch duy nhất biết thế nào là những cảm nhận
về tình yêu thực sự trong cái thế giới quân thù chỉ sống bằng sự tàn
nhẫn. Đặt trong thế giới tĩnh lặng của hai tuyến nhân vật địch/ ta
tơng phản đối lập đến triệt để, Châu Quán Lồ trở nên có sức hấp
dẫn đặc biệt. Đó là nhân vật phức tạp vào bậc nhất của văn xuôi
Ma Văn Kháng trớc năm 1985 mà sau này, tới nhân vật Lý trong
Mùa lá rụng trong vờn, Ma Văn Kháng mới tiếp nối đợc.
2.2.2. Nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật
2.2.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Đọc Đồng bạc trắng hoa xoè và Vùng biên ải có thể thấy rất rõ
sự phân định ta/địch, xấu/tốt trong thế giới nhân vật của Ma Văn
Kháng bởi thậm chí chỉ cần lớt qua những nét phác thảo ngoại
hình cũng có thể thấu hiểu cơ bản tâm tính, phẩm hạnh con ngời.
Qua hàng loạt thống kê, luận án cũng khẳng định lối miêu tả ngoại
hình của nhà văn mang đậm tính truyền thống khi hầu nh chỉ
chú ý đến khuôn mặt và đôi mắt để nói với ngời đọc về tính cách
nhân vật. Đồng thời trong văn xuôi Ma Văn Kháng, miêu tả vẻ
ngoài của nhân vật cũng là một cách thể hiện thái độ rõ ràng của
ngời trần thuật với mục đích chính là ca ngợi, tôn vinh những
ngời anh hùng.
2.2.2.2. Nghệ thuật miêu tả hành động
Tính cách, phẩm chất của các nhân vật trong tác phẩm mang
tính sử thi của Ma Văn Kháng đợc khắc hoạ cơ bản qua hàng loạt
hành động gắn với vô vàn biến cố xảy ra trong cuộc đời họ. Qua
hình tợng nhân vật Tâm, Pao, Châu Quán Lồ; qua so sánh cách
miêu tả đời sống nội tâm những nhân vật nh Quang Ngọc, Seo Cả,
Hố pẩu Giàng Lầu trong Đồng bạc trắng hoa xoè và Vùng biên ải,
luận án cho rằng tiểu thuyết sử thi của Ma Văn Kháng thiên về xây
dựng tính cách nhân vật qua hành động hơn là qua thế giới nội tâm.
Con ngời trong tiểu thuyết sử thi Ma Văn Kháng thiên về con
điểm những trang viết ấy ra đời mới thấy hết sự táo bạo của văn
xuôi Ma Văn Kháng.
2.3. Trần thuật
2.3.1. Ngời kể chuyện
Truyện của Ma Văn Kháng (cả ở tiểu thuyết và truyện ngắn)
cơ bản là truyện kể ở ngôi thứ ba với ngời kể chuyện hàm ẩn.
Điểm nhìn của ngời kể chuyện phần lớn là điểm nhìn bên ngoài
chứ không phải từ nội tại nên tác phẩm thiên về miêu tả hành động,
lời nói bên ngoài của nhân vật hơn là chú ý đến đời sống nội tâm
của họ. Ngời kể chuyện trong tiểu thuyết sử thi Ma Văn Kháng
thờng thể hiện cái nhìn ngỡng mộ, tự hào với các nhân vật anh
hùng của mình (luận án đánh giá qua cái nhìn của ngời kể chuyện
trong Đồng bạc trắng hoa xoè, Vùng biên ải với Lê Chính, Pao, Tâm
và ngợc lại đối với các nhân vật kẻ thù). Ngoài ra, qua khảo sát, có
thể nhận thấy ngời kể chuyện trong tiểu thuyết sử thi của Ma Văn
Kháng là nhân vật tham dự vào tất cả mọi tình tiết của cốt truyện
và không ngừng sắp xếp cho mọi thứ nằm trong vòng cơng toả của
mình, thậm chí nhiều khi trở thành ngời phát ngôn cho tác giả.
Mặt khác, sự xuất hiện với tần số nhiều của những lời bình luận,
trữ tình ngoại đề khiến giàu tính triết lý dần trở thành một đặc
điểm của văn xuôi Ma Văn Kháng.
2.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ
2.3.2.1. Ngôn ngữ chính trị - xã hội
Cùng thời với Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, cùng viết về
miền núi cao Tây bắc với Nông Minh Châu, Mạc Phi, Vi Hồng,
Phợng Vũ song điều đáng chú ý ở tác phẩm tự sự của Ma Văn
Kháng trong những sáng tác thời kỳ đầu là hệ thống ngôn từ mang
tính chính trị - xã hội của ông. Trong Đồng bạc trắng hoa xoè ,Vùng
biên ải, Ngời con trai họ Hạng, Mùa mận hậu ngôn ngữ mang
đậm màu sắc chính trị - xã hội từ cách miêu tả, dẫn truyện đến
tả mợt mà, đầy chất thơ đã khiến cho hệ thống ngôn ngữ mang
tính chính trị - xã hội đậm đặc trong tác phẩm trở nên mềm mại
hơn. Đây là một trong những lý do quan trọng làm nên sức hấp dẫn
của văn phong Ma Văn Kháng và là một trong những phơng diện
làm nên phong cách nghệ thuật của ông.
Tiểu kết
Chất sử thi hùng tráng là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật tự
sự trong một loạt tác phẩm thời kỳ đầu viết về thể tài lịch sử dân
tộc của Ma Văn Kháng. Văn xuôi của ông là sự nối tiếp mạch
nguồn cảm hứng cũng nh t duy nghệ thuật của văn học cách
mạng Việt Nam 1945- 1975 với bức tranh hiện thực dữ dội ở vùng
đất Lào Cai trong chiến tranh; cốt truyện phân tầng, đa tuyến, coi
trọng việc miêu tả các sự kiện và kết thúc có hậu; thế giới nhân vật
đợc phân định rạch ròi giữa ta/ địch, bạn/ thù, xấu/ tốt và tính
cách đ
ợc xây dựng thông qua hành động hơn là nội tâm nhờ bút
pháp thiên về lý tởng hóa; ngời kể chuyện toàn năng tham dự
vào mọi biến cố cùng một hệ thống từ ngữ vừa đậm đà sắc thái
chính trị xã hội vừa chan chứa trữ tình. Nét riêng đáng kể của ông
về nghệ thuật tự sự trong thể tài này là ở cách thức xây dựng nhân
vật kẻ thù, nhân vật ngời phụ nữ và hệ thống ngôn ngữ
Chơng III
Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm
về thế sự, đời t
Trong chơng này, luận án nghiên cứu những thay đổi đáng
chú ý của văn xuôi Ma Văn Kháng trên cơ sở so sánh, đối chiếu
nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nhân vật và nghệ thuật trần thuật
trong các tác phẩm về thế sự, đời t với các tác phẩm mang tính sử
thi đợc ông sáng tác trong giai đoạn đầu. Ma mùa hạ (1982), Mùa
tợng cao đợc thể hiện thành công trong tác phẩm của Ma Văn
Kháng: hình ảnh con đê, tổ mối và việc chống lụt trong Ma mùa
hạ; hình ảnh cái trống trờng và sắc màu hoa phợng trong Đám
cới không có giấy giá thú; hình ảnh khu vờn trong Mùa lá rụng
trong vờn Đây là một trong những yếu tố khiến truyện của Ma
Văn Kháng vừa có ý nghĩa thời sự lại vừa có cái ý vị sâu xa, làm nên
tính triết luận riêng biệt cho văn xuôi của ông.
3.1.2. Cốt truyện lắp ghép
Với Ma Văn Kháng, cốt truyện có kết cấu lắp ghép của ông
thực ra mới đang ở thời kỳ khởi đầu. Có thể dùng từ khởi đầu bởi vì
kỹ thuật lắp ghép ở Ma mùa hạ, Đám cới không có giấy giá thú,
Chó Bi đời lu lạc và rõ nhất ở Ng
ợc dòng nớc lũ vẫn chỉ là
những mảnh lắp ghép bổ sung vào một cốt truyện tuân theo diễn
tiến số phận nhân vật chính. Cái thú vị của kiểu lắp ghép trong
nghệ thuật xây dựng cốt truyện thế sự đời t của Ma Văn Kháng
chính là ở chỗ ông thờng lồng các giai thoại, điển tích, điển cố và
hình thức bức th vào cốt truyện khiến cho tiểu thuyết mang một
màu sắc h ảo dù cho vấn đề cuộc đời và số phận đặt ra hết sức
thực tế, gắn với hiện tại. Đồng thời, việc lắp ghép này đem lại cho
tác phẩm chiều sâu và tầm cao t tởng nhất định.
3.1.3. Cốt truyện hồi tởng và ký ức
Cũng có thể gọi đây là kiểu cốt truyện tâm lý do nhà văn dựa
phần lớn vào ký ức của nhân vật hoặc nhấn mạnh vai trò của giấc
mơ, của hồi ức để tổ chức kết cấu tác phẩm. Lối kết cấu này sử
dụng hết sức linh hoạt thời gian tự sự trong đó quá khứ, hiện tại,
tơng lai đều có khả năng đồng hiện và những giấc mơ có sức ám
ảnh dữ dội đến đờng đời của nhân vật chính. Côi cút giữa cảnh đời
(1988) và Gặp gỡ ở Lapantẩn (1999) là hai cuốn tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng sử dụng hiệu quả lối kết cấu cốt truyện này.
dụng, tàn nhẫn, vô liêm sỉ. Điều đáng nói là trong văn xuôi về thế
sự, đời t của Ma Văn Kháng, hầu hết trí thức lu manh đều là
những kẻ có chức vụ, quyền hạn, có sức mạnh đủ để quyết định vận
mệnh của những ngời trí thức thực sự, đều nh rập chung trong
một khuôn mẫu: xuất thân mạt hạng, dốt nát, vô học, tình cảm tăm
tối, tính cách tàn nhẫn, dục vọng bỉ ổi và nhờ tất cả "phẩm chất"
đó mà có con đờng hoạn lộ, có danh vọng trong xã hội (Dơng,
Cẩm, Bí th thị uỷ Lại trong Đám cới không có giấy giá thú, Tổng
cục trởng Phô trong Ng
ợc dòng nớc lũ, Quốc Thanh trong Gặp
gỡ ở Lapantẩn, Viển, Luông trong Côi cút giữa cảnh đời).
3.2.1.3. Nhi nữ "tình trờng"
Nhân vật phụ nữ ngày càng có vị thế thực sự trong văn Ma
Văn Kháng: từ nhân vật phụ ở sáng tác mang tính sử thi tới vai trò
của nhân vật trung tâm trong sáng tác về thế sự, đời t. Đồng thời
họ ngày càng có cá tính, mạnh mẽ và chủ động trong cuộc sống.
Chân dung ngời phụ nữ trong văn xuôi về thế sự, đời t của Ma
Văn Kháng đợc tạo nên bởi rất nhiều màu sắc, đờng nét nh bản
thân sự tồn tại của họ trong cuộc sống bộn bề của thời hậu chiến.
Dù vậy, đáng chú ý nhất chính là những thiếu phụ xinh đẹp, có cá
tính mạnh mẽ và giàu bản năng, số phận nhiều éo le, trắc trở gắn
với tình yêu, hôn nhân- giới nhi nữ tình trờng. Khảo sát hình
tợng nhân vật phụ nữ ở văn xuôi của ông theo thời gian sáng tác
(từ Seo Cả, Seo Ly, Seo Say tới Xuyến, Thoa, Lý, Hoan) có thể cho
rằng: bất hạnh của ngời phụ nữ trong sáng tác mang tính sử thi đa
phần là do những tác động khách quan từ cuộc sống hiện thực
nhng bất hạnh của ngời phụ nữ hiện đại ở đô thị phần lớn là do
sự lựa chọn của chính bản thân họ trong cuộc sống, do tính cách
phức tạp quá hoặc đơn giản quá của họ và nhất là do họ ngày càng
có nhiều ớc ao, khao khát đòi hỏi. Dục vọng là nguyên cớ huỷ hoại
dòng nớc lũ , với khả năng phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật
(Tự, Luận, Khiêm, Thiêm ) một cách tinh tế, nhạy bén, Ma Văn
Kháng đã tạo dựng đợc một hệ thống hình tợng ngời trí thức
hiện đại với một đời sống tinh thần sâu sắc, thâm trầm nhằm biểu
đạt những quan niệm của mình về con ngời và thời cuộc.
* Sự ám ảnh của số mệnh, thế giới tâm linh
Từ ông giáo Cần (Ma mùa hạ), Luận, Phợng (Mùa lá rụng
trong vờn), Tự (Đám cới không có giấy giá thú ), Khiêm (Ngợc
dòng nớc lũ) đến Thiêm (Gặp gỡ ở Lapantẩn) những giấc chiêm
bao mộng mị, sự sống dậy của ký ức, những rắc rối u uẩn trong tâm
lý, những khoảnh khắc thần giao cách cảm giữa ngời sống và
ngời chết, giữa ngời này và ngời kia đợc nhà văn tái hiện rất
sinh động vừa nhằm lý giải cho số phận nhân vật vừa là cách thức
để nhân vật của ông vợt qua nỗi buồn, vợt qua những mất mát,
đắng cay. Đồng thời đó cũng là một hình thức đặc biệt để tác giả
thể hiện kín đáo cảm giác cô đơn, lạnh vắng của con ngời trong
một thế giới thiếu tình ngời.
3.3. Trần thuật
3.3.1. Ngời trần thuật
Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu hình tợng ngời kể chuyện
trong tác phẩm mang tính sử thi với tác phẩm về thế sự, đời t của
Ma Văn Kháng, có thể rút ra 3 vấn đề đáng chú ý: Ngời trần thuật
trong tác phẩm về thế sự, đời t của Ma Văn Kháng đã kéo đối
tợng trần thuật xích lại gần hơn, đặt đối tợng vào cùng một bình
diện giá trị bởi vậy có thể trần thuật về đối tợng của mình bằng
thái độ thân mật, thân tình thậm chí bỗ bã, suồng sã; anh ta nhìn
hiện thực bằng cái nhìn tỉnh táo của ngời đơng thời và về cơ bản,
vẫn trần thuật theo quan điểm của mình hơn là quan điểm của
nhân vật (phân tích cụ thể, chúng tôi nhận thấy sự đan xen hai điểm
nhìn này ở ngời trần thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng là tự
mạn ý, gây cảm giác nặng nề cho ngời đọc.
3.3.2.2. Mạch trần thuật nhiều giọng điệu
Giọng ngời kể chuyện mạnh hơn giọng nhân vật nhng điều
đáng nói là lời văn trong tác phẩm thế sự, đời t của Ma Văn Kháng
không đơn điệu về phơng diện phong cách. Nếu nh ở tác phẩm tự
sự mang tính sử thi ngôn ngữ mang đậm tính chất chính trị - xã hội
nhng vẫn mợt mà chất thi ca thì ở những tác phẩm sau này, Ma
Văn Kháng sử dụng rộng rãi khẩu ngữ dân gian, đem văn nói hoà
trộn văn viết tạo nên thứ ngôn ngữ đặc biệt dụng dị, đời thờng mà
vẫn sâu sắc, gợi cảm (ngôn ngữ của Lý trong Mùa lá rụng trong
vờn; Xuyến, Trình, Quỳnh, Bí th thị uỷ Lại trong Đám cới không
có giấy giá thú; bà nội, Hứng trong Côi cút giữa cảnh đời; Thuý,
Quốc Thanh trong Gặp gỡ ở La Pan Tẩn; Hoan trong Ngợc dòng
nớc lũ; ông Viển trong Chó Bi, đời lu lạc). Đan xen những lối so
sánh, ví von, tục ngữ, thành ngữ truyền thống ở ngôn ngữ đối thoại
bên cạnh sự mạch lạc, khúc chiết, sâu sắc của ngôn ngữ chính luận
trong độc thoại đã làm nên sự đa tạp, phong phú, nhiều màu vẻ cho
mạch trần thuật trong văn xuôi thế sự, đời t của Ma Văn Kháng.
Nhờ vào nội lực bên trong, nhờ vào kho chữ đầy ắp có cội nguồn từ
truyền thống dân gian, nghệ thuật ngôn từ cũng tạo nên sức hấp dẫn
lớn của văn xuôi Ma Văn Kháng.
Tiểu kết
Chất đời thờng dung dị là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật tự
sự trong các tác phẩm về thế sự, đời t của Ma Văn Kháng. Trên
cùng một tiêu chí đánh giá, có thể xác định đợc những đổi thay cơ
bản trong bút pháp và t duy nghệ thuật của ông so với các sáng
tác thời kỳ đầu về lịch sử dân tộc: Cốt truyện đã đợc nới lỏng, trở
nên phong phú, hiện đại hơn; nguyên tắc lý tởng hoá đã đợc thay
thế bởi cái nhìn gần gụi, thấu hiểu trong việc đi sâu vào diễn biến
nội tâm nhân vật; thế giới nhân vật dù vẫn còn sự phân định xấu/
là ở sự đổi mới t duy nghệ thuật của nhà văn. Bên cạnh đó, có thể nhận
thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ sáng tác của nhà văn chính là
sự phân định rạch ròi khoảng cách giữa hai thế giới với hai kiểu ngời
khác biệt, đối lập triệt để: tốt/ xấu, thiện/ ác. Cuộc sống ở đô thị thời
bình dù có đa đoan, đa sự đến đâu, con ngời dù có phức tạp đến đâu thì
mọi sự vẫn cứ nằm trong một vòng quay cổ điển, thế giới vẫn có sự rành
mạch, rõ ràng nh vậy. Đó là quan niệm không hề đổi thay của nhà văn
Ma Văn Kháng, qua thời gian. Nó phù hợp với cách nghĩ, với lối sống
mực thớc của nhà giáo Đinh Trọng Đoàn, phù hợp với lối nghĩ của một
thế hệ lớn lên từ chiến tranh nhng hình nh cha thỏa mãn niềm mong
đợi của một thế hệ độc giả mới, những độc giả càng ngày càng đa dạng,
khó tính và nhạy cảm.
2. Chất sử thi hùng tráng là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật
tự sự trong một loạt tác phẩm thời kỳ đầu viết về thể tài lịch sử dân
tộc của nhà văn Ma Văn Kháng. Những đặc điểm nổi bật trong
nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật và nghệ thuật
trần thuật đã cho thấy văn xuôi của ông là sự nối tiếp nguồn mạch
cảm hứng cũng nh t duy nghệ thuật của văn học cách mạng Việt
Nam 1945- 1975 với: bức tranh hiện thực đựợc tái hiện là cuộc đấu
tranh đầy gian khổ hy sinh của đồng bào dân tộc Hmông ở vùng
đất Lào Cai nhằm giành lại và giữ vững chính quyền cách mạng;
cốt truyện phân tầng, đa tuyến thiên về miêu tả sự kiện và luôn kết
thúc có hậu; thế giới hình tợng vẫn có sự bổ đôi, phân cực với mâu
thuẫn giữa ta/ địch, thiện/ ác, xấu/ tốt đợc thể hiện thông qua nhân
vật chính diện (ng
ời anh hùng, quần chúng nhân dân) và phản
diện (kẻ thù xâm lợc, bọn thống trị tay sai); cách thức xây dựng
hình tợng, về cơ bản, vẫn theo kiểu truyền thống khi nhà văn hầu
nh xác định sự thống nhất giữa ngoại hình và tính cách nhân vật,
chú trọng đến hành động hơn là đi sâu vào thế giới nội tâm cũng
rụng trong vờn, Côi cút giữa cảnh đời, Chó Bi, đời lu lạc, Ngợc
dòng nớc lũ, Trăng soi sân nhỏ, Đầm Sen, Một mối tình si
Chất đời thờng dung dị là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật tự
sự trong các tác phẩm về thế sự, đời t
của Ma Văn Kháng. Trên
cùng một tiêu chí đánh giá là nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xây
dựng hình tợng nhân vật và nghệ thuật trần thuật, có thể xác định
đợc những đổi thay cơ bản trong bút pháp và t duy nghệ thuật
của ông theo chiều dài thời gian sáng tác: cốt truyện với một hệ
thống sự kiện, biến cố đợc thuật lại theo trật tự thời gian làm nền
tảng cho cấu trúc tự sự của tác phẩm mang tính sử thi đã đợc nới
lỏng và trở nên phong phú, hiện đại hơn rất nhiều trong sáng tác thế
sự, đời t; nguyên tắc lý tởng hoá trong việc miêu tả con ngời-
những con ngời thiên về hành động trớc kia đã đợc thay thế bởi
cái nhìn gần gũi, thấu hiểu trong việc đi sâu vào diễn biến nội tâm
nhân vật- những con ngời nếm trải, không ngừng vận động, trởng
thành, những con ngời gần gũi thân quen nh ta vẫn gặp đâu đó
trong đời; thế giới nhân vật dù vẫn còn sự phân định xấu/ tốt, thật/
giả nhng là đã cái thế giới hiện tại phong phú, ồn ã, quen thuộc của
thời hiện tại tiếp diễn nơi thị thành mà không còn sự phân cực địch/
ta quen thuộc của một thời lửa đạn; ngời trần thuật dầu vẫn là
ngời trần thuật thông tuệ, thấu hiểu mọi chuyện nhng đã có một
tâm thế và giọng điệu trần thuật mới với vị trí ngang bằng, thân mật
cùng đối tợng trần thuật
Sáng tác tự sự về thế sự, đời t của Ma Văn Kháng, do vậy, có
những đóng góp đáng kể vào sự trởng thành của văn xuôi Việt
Nam những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Kiểu nhân vật bao
gồm giới trí thức có tài năng, tâm huyết, có đời sống nội tâm sâu sắc
nhng thiếu ý chí và bản lĩnh để hoàn thành sứ mệnh của mình;
tầng lớp những kẻ có quyền hành, địa vị không tơng xứng với