THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN CỦA NAM CAO - Pdf 28


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN MINH HẢI THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN
CỦA NAM CAO
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành sư phạm Ngữ Văn

1.2.2.Thời gian trần thuật
2. Không gian nghệ thuật
2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
2.2. Các loại không gian nghệ thuật
2.2.1.Không gian bối cảnh
2.2.2.Không gian sự kiện
2.2.3.Không gian tâm lý
Chương II: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG
MÒN CỦA NAM CAO
2.1. Thời gian được trần thuật
2.1.1. Thời gian hiện thực hàng ngày
2.1.2. Thời gian hồi tưởng
2.1.3. Thời gian tương lai
2.1.4. Thời giann tâm trạng
2.2. Thời gian trần thuật
Chương III: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
SỐNG MÒN CỦA NAM CAO
3.1. Không gian bối cảnh
3.2. Không gian sự kiện
3.3. Không gian tâm lý
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN MỞ ĐẦU

trước Cách mạng với những suy nghĩ nhỏ nhen, vặt vãnh mà còn mở rộng ra những
mảnh đời nghèo khổ, tăm tối của bao người dân lương thiện. Trong quá trình sáng
tạo tác phẩm, ngòi bút của Nam Cao đã sử dụng linh hoạt yếu tố thời gian và không
gian nghệ thuật làm cho Sống mòn trở nên đặc sắc và hấp dẫn. Vì vậy, tôi đã chọn
đề tài “Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Sống mòn của Nam
Cao” để có dịp tìm hiểu kĩ hơn về nghệ thuật tác phẩm của một nhà văn mà tôi hằng

Trang 1 yêu thích, mến mộ và cũng là cơ hội để tôi trao dồi, củng cố kiến thức tiện cho việc học
tập, làm việc và nghiên cứu sau này.
2. Lịch sử vấn đề:
“Không gian và thời gian là hai bề của sự vật, là kích thước của sự sống. Nghệ
thuật biểu hiện sự sống, tái hiện sự sống làm sao không dựng cái khung không gian
và thời gian lên được để chứa đựng vật, để cho sự vật có chỗ sống, sinh sôi, nảy
nở”(Huy Cận). Vì vậy, vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm
văn chương đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới quan tâm, đề
cập đến. Mặc dù chưa có cách lí giải, trình bày thống nhất nhưng các nhà lí luận
cũng đã đưa ra được hướng nghiên cứu hết sức cần thiết giúp cho người đọc nâng
cao năng lực chiếm lĩnh các giá trị văn học. Ở đây, người viết xin điểm lại một số
vấn đề của các nhà nghiên cứu Việt Nam về không gian và thời gian nghệ thuật.
Lê Ngọc Trà trong Lí luận và Văn học nhận định thời gian và không gian trong văn
học gồm hai mặt cơ bản: “quan niệm thời gian - không gian của nhà văn và tổ chức thời
gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm”[27; tr.146]. Ông khảo sát thời gian ở hai
bình diện chính là nhịp độ thời gian và trình tự thời gian. Với quan niệm thời gian và
không gian trong tác phẩm văn học thống nhất chặt chẽ với nhau nên nhà nghiên cứu
không đi vào tách biệt làm rõ những cấu trúc và đặc điểm riêng giữa thời gian và không
gian nghệ thuật.
Trần Đình Sử là một nhà nghiên cứu có nhiều quan tâm đến thi pháp học và lí luận.

tr.183].
Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong Sống mòn cũng được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, đề cập đến:
Đỗ Đức Hiểu trong Hai không gian sống trong Sống mòn cho rằng cái không gian
sống của Thứ là một “không gian o bế, ngày càng thu hẹp”. Theo tác giả, Sống mòn có
hai không gian nghệ thuật cơ bản là không gian hiện thực và không gian tâm tưởng
nhưng “Sức năng động của Sống mòn chính là sự xung đột giữa không gian xã hội (“
xó nhà quê” và ngoại ô Hà Nội nhem nhuốc) và không gian tinh thần, mơ ước,
không gian hồi tưởng, không gian khát vọng”[3; tr.243] và “ Cái không gian khắc
nghiệt của xã hội giống như một định mệnh, bám dai dẳng cuộc đời anh[Thứ], chống
lại cái không gian mơ ước”[3; tr.294]
Nguyễn Ngọc Thiện với Bút pháp tự sự đặc sắc trong Sống mòn đã phân tích cốt
truyện, lối kể chuyện, giọng văn cũng có đề cập đến thời gian và không gian nghệ
thuật. Tác giả cho rằng “Có thể thấy trong Sống mòn luôn luôn bắt gặp sự hòa trộn, đồng
hiện giữa không gian thời gian quá khứ và hiện tại, sự tồn tại song song giữa các sự kiện
bên ngoài và dòng liên tưởng, hồi cố, so sánh bên trong thế giới nội tâm nhân vật”[3;
tr.302]. Tác giả còn phân tích chi tiết điểm nhìn của lối kể chuyện “lúc thì chuyện
được kể theo điểm nhìn của người kể chuyện, lúc thì chuyện được kể theo điểm nhìn nhân
vật [3; tr.303].
Phong Lê trong Đọc lại và lại đọc Sống mòn cũng có đề cập đến không gian và thời
gian nghệ thuật. Tác giả cho rằng “có ba không gian sống chủ yếu của nhân vật Sống
mòn. Đó là gian ở nhà trường, gian nhà ông Học và gian nhà của Thứ ở quê” [3; tr.
323]. Tác giả còn nhận định “ thế giới truyện Sống mòn, cả không gian và thời gian
như là sự dồn nén, thu nhỏ lại, rồi thu nhỏ nữa. Trong dồn nén mà chứa chất, mà diễn
biến cho hết mọi cử động, mọi hoạt động, mọi hành động, mọi suy tư và ý nghĩ…”[3;
tr.327].
Trong Lí luận văn học - Vấn đề và suy ngẫm, tác giả nghiên cứu hình tượng thời
gian cũng có đề cập đến Sống mòn: “Những mẫu chuyện vặt vãnh, quẩn quanh

Trang 3

gian và thời gian nghệ thuật. Vì vậy mục đích, yêu cầu trước tiên, người viết phải
đưa ra lí luận chung về thời gian và không gian nghệ thuật của văn chương
dựa trên tư liệu của các nhà nghiên cứu kết hợp cùng lí lẽ, dẫn chứng từ các tác
phẩm đã được học và đọc, để phần nào hiểu rõ hơn về vai trò của không gian và
thời gian nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm và dụng ý
sáng tác của nhà văn.
Có thể nói, tuy chưa mang tính thống nhất về lí luận chung nhưng vấn đề lí luận
thời gian và không gian nghệ thuật mà người viết đưa ra sẽ tạo cơ sở cho người viết
có được sự nhìn nhận ban đầu để đi vào làm rõ yêu cầu rất quan trọng là thời gian

Trang 4 và không gian nghệ thuật trong tác phẩm Sống mòn. Đó cũng là dịp để người viết hiểu
rõ hơn về tác phẩm Sống mòn cũng như tập làm quen với công việc nghiên cứu khoa học.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thi pháp học là lĩnh vực rất rộng nghiên cứu về nghệ thuật như nghiên cứu tác
phẩm, thể loại, phong cách ngôn ngữ. Vì vậy để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu,
người viết chỉ đi sâu vào một mảng nhỏ của thi pháp học (và lí luận), cụ thể là một mảng
đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ. Đó là không gian và thời gian nghệ thuật của văn
chương. Từ phần lí luận về thời gian và không gian nghệ thuật đó, người viết sẽ vận
dụng vào làm rõ thời gian và không gian nghệ thuật trong một tiểu thuyết cụ thể,
một tiểu thuyết duy nhất của Nam Cao có tên Sống mòn (hay còn có một tên gọi khác là
Chết mòn).
5. Phương pháp nghiên cứu:
Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật văn chương nói chung cũng như trong
tiểu thuyết Sống mòn nói riêng đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu nhưng vẫn
chưa đi đến kết luận chung và mang tính thống nhất. Vì vậy dựa trên tài liệu của các nhà
nghiên cứu và trên văn bản của tác phẩm Sống mòn, người viết chủ yếu vận dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ vấn đề nghiên cứu của mình. Và các thao tác bình

1. Thời gian nghệ thuật:
1.1. Khái niệm:
Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức
tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Nếu thế giới thực tại tồn tại trong thời
gian thì cũng thế, thế giới nghệ thuật cũng tồn tại trong thời gian nghệ thuật.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của
hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng như không gian nghệ
thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ
một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn
ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật. Sự phối hợp của hai yếu tố
thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế
giới nghệ thuật. Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời
gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa
xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái
chốc lát thành vô tận. Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác
nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống,
cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác…tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm.
Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ
thuật. Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh,
khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại.
Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới. Có
thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như cổ tích, có thời
gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm trạng và ý thức như tiểu thuyết, có tác
phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ khép kín trong tương lai, có thời gian nghệ
thuật “trôi” trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian gắn với vận động của thời
đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có tính “vĩnh viễn”, đứng ngoài thời gian
như thần thoại. Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người
trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ
độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thời gian. Trong
thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tính

hiện bằng các dấu hiệu chỉ thời gian như tuổi trẻ, tuổi già, xuân, hạ, thu, đông, bằng tiếng
đỗ quyên kêu, bằng tiếng chuông chùa, bằng phiên chợ, bằng lễ kỉ niệm hằng năm…
Nhìn chung, thời gian được trần thuật là một hiện tượng vô hạn, liên tục. Người
ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây trong đời hoặc
tái hiện những năm tháng không thể nào quên. Có thể đó là một buổi chiều nhá
nhem tối mở đầu tác phẩm Vợ nhặt, Tràng trở về nhà như mở ra bối cảnh lịch sử -
những ngày tháng đen tối đầu năm 1945 của xã hội Việt Nam với nạn đói khủng
khiếp đang diễn ra. Hay Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, người đọc sẽ cảm nhận
được 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, ác liệt, đầy hi sinh mất mát nhưng thật đẹp
và hào hùng của dân tộc Việt Nam. Cụ thể hơn, đó là những giờ phút chiến đấu đầy
cam go, thử thách khi bộ đội ta tấn công vào cứ điểm, ngọn đồi A1 trong tầm đại
bác của kẻ thù để giành từng tấc đất, từng ụ súng. Ở một số tác phẩm, thời gian
được trần thuật kéo dài tới hàng chục năm, trăm năm như truyện Sông đông êm đềm

Trang 7 của Sôlôkhôp, thời gian được trần thuật kéo dài tới mười năm (1912-1922) hay
Chiến tranh & hòa bình là cả một thời gian lịch sử dài gần một thế kỉ.
Bản thân thời gian là một đối tượng của sự cảm nhận, một chủ đề, đề tài của văn
học. Thời gian được trần thuật ở đây có thể là thời gian quá khứ, thời gian quay trở lại
với những hồi ức, kỉ niệm của nhân vật. Thanh Tịnh trong Tôi đi học luôn nhớ về buổi
học đầu tiên với kỉ niệm của ngày khai trường “Hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và
gió lạnh. Mẹ dắt tay tôi từng bước…”. Kỉ niệm ngày học đầu tiên được mẹ dắt đến
trường sao mà đẹp đẽ và nên thơ. Bởi nó được cảm nhận bằng hồi ức của một tâm hồn
trong sáng ngây thơ như trang giấy trắng tinh chưa thấm mực nhưng thấm cả vào đấy
tình yêu thương của mẹ và sự náo nức trước khung cảnh mới lạ của ngày khai trường.
Khi con người bị cách li khỏi cuộc sống xã hội như bị tống giam trong ngục tối
hay con người bị mất đi thị giác, con người hầu như không ý thức được thời gian.
Thời gian nghệ thuật này được gọi là thời gian không thời gian, thời gian hầu như

hiện ở hiện tại với những đau khổ, dằn vặt hay sung sướng hạnh phúc. Tất cả quá khứ
hay tương lai dường như đều quy tụ trong hiện tại với cái bây giờ. Bởi quá khứ là kết quả
hôm nay, cái hôm nay dự báo ngày mai. Thời gian tịch mịch vào một buổi chiều với tiếng
trống thu không trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam như lặp lại một cách bình thường
những ngày khác của phố huyện nghèo tăm tối, những ngày tháng dài lê thê, buồn tẻ
phải chăng cũng là tương lai ảm đạm, cũng không kém phần tăm tối của cuộc sống con
người trước Cách mạng. Vì vậy, Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận định: trong tác phẩm
“một cuộc đời có thể trôi nhanh như giấc mộng, một phúc chờ đợi có thể dài như trăm
năm, có kẻ say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi hàng
trăm năm giậm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi năm” [26; tr.243].
Có khi thời gian được trần thuật là thời gian tương lai hay mở ra những viễn cảnh
tương lai. Nó cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niềm tin tưởng vào một tương lai tươi
sáng, tốt đẹp của nhân vật, hay của chính tác giả. Với Tiếng hát sông Hương, niềm
cảm thông, tin tưởng của Tố Hữu vào cuộc sống của cô gái bán hoa sẽ trở nên tươi đẹp
được thể hiện qua những câu thơ:
Ngày mai gió mới ngàn phương,
Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân
Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Còn trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, chi tiết “Ngoài rừng sâu,
đôi chim gọi nhau suốt đêm đã im tiếng, có lẽ chúng đã tìm thấy nhau” [19; tr.246]
là một chi tiết nghệ thuật biểu hiện cho thời gian tương lai, là gợi mở cho một kết
thúc có hậu: Lãm và Nguyệt sẽ gặp nhau, không phải là một sự tình cờ chưa nhận ra
nhau mà là sự gặp gỡ của hai trái tim cùng chung lí tưởng đã từng chờ đợi, rung
động.
Thế nhưng không phải tương lai hay viễn cảnh tương lai trong tác phẩm nào
cũng tươi đẹp, sáng sủa. Có khi tương lai cũng mang màu sắc tuyệt vọng khi con
người đang cô đơn, bế tắc, đang sầu muộn. Chàng trai trẻ Tố Hữu đã từng vui
sướng khi bắt gặp ánh sáng lí tưởng Cách mạng “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”
khi cảm nhận được quang cảnh tươi đẹp bên ngoài và tiếng tu hú tha thiết vẫy gọi,

khứ kia vẫn còn để lại một ấn tượng tốt đẹp hay một kỉ niệm sâu sắc trong hiện tại.
Còn hiện tại, con người đang thất vọng, chua xót, đau khổ, bế tắc và dự báo một
tương lai ảm đạm mờ mịt. Trong Thềm hoang của Nhật Tiến, hai anh em Ích và
Ngoan nhớ lại những ngày tháng êm đềm chúng được ăn no, mặc ấm, được cả cha
và mẹ chúng yêu thương. Nghĩ về hiện tại, chúng vô cùng đau đớn, chua xót vì luôn
bị dượng ghẻ đánh đập, hành hạ, phải làm công việc của những kẻ sống lang thang
tạm bợ, không phù hợp với tuổi thơ của chúng như hát rong, mua bán đồng nát.
Những hồi ức ấy đến với Ích như những vết kim châm khiến nó đau đớn nghiến
răng muốn đâm chết dượng Tám ác độc dù biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ dám
thực hiện.
Tuy nhiên, không phải bao giờ thời gian hồi tưởng là hoài niệm về một quá khứ
tốt đẹp còn hiện tại thì bế tắc đau khổ. Có khi hiện tại tốt đẹp, quá khứ đau khổ
cũng là biểu hiện của thời gian hồi tưởng. Kỉ niệm về một thời đau khổ sẽ làm cho
con người sống đẹp, sống đúng hơn trong thực tại. Ở đây, thời gian hồi tưởng như
gợi lên một thành quả mà con người đã chọn lựa, đã giải quyết một cách sáng suốt,

Trang 10 đúng đắn; kiểu thời gian này thường thấy trong văn xuôi lãng mạn. Mai trong Nửa
chừng xuân của Khái Hưng hồi tưởng lại cái quá khứ sáu năm đau khổ, bế tắc, tủi cực
khi phải chọn xa Lộc. Còn hiện tại, cô lại có cuộc sống an nhàn, thoải mái bên cạnh đứa
con kháu khỉnh và em cô là Huy. Tương lai đối với Mai và Huy là tương lai tươi sáng,
một chân trời đang rộng mở trước mắt họ, tương lai ấy cũng gợi lên một cảm giác nhẹ
nhàng thư thái trong lòng người đọc.
Kiểu thời gian hồi tưởng như thế, chúng ta cũng thường thấy trong văn học Cách
mạng. Cái quá khứ chiến tranh đầy gian khổ, ác liệt kia vẫn còn để lại trong lòng
người ở lại, cái hi sinh mất mát của ngày qua sẽ làm cho con người hôm nay và mai
sau sống tốt hơn, nó khơi dậy lòng yêu nước đang nghìn đời tuôn chảy trong huyết
mạch của dân tộc. Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành là một thí dụ, hiện tại giặc

học. Người ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây
trong đời hoặc tái hiện lại những năm tháng không thể nào quên. Tương quan giữa
chuỗi biến cố thời gian và sự cảm nhận thời gian tạo thành cấu trúc thời gian miêu
tả. Thời gian được miêu tả là một hiện tượng vô hạn, liên tục nhưng thời gian miêu
tả thì có mở đầu, có kết thúc. Thời gian trần thuật (hay thời gian miêu tả) có thể là
thời gian theo tiến trình khách quan chẳng hạn như thời gian trong một lớp kịch: các
nhân vật đối thoại, hành động hoàn toàn phù hợp với thời gian khách quan. Hay thời
gian trần thuật có thể miêu tả gián đoạn, cách quãng, bỏ qua khoảng cách lớp, các
màn kịch hoặc giữa các chương của tiểu thuyết. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Lịch
sử Tôm Giôn thì có những chương viết một ngày, có những chương cách nhau hàng
năm liền.
Thời gian trần thuật không có nhịp độ riêng; nhanh, chậm hay ngừng trôi là
những khái niệm mang tính chất quy ước, tương đối, đấy là cảm giác chủ quan của con
người. Theo Lê Thị Tuyết Hạnh, “Truyện xét về mặt sự kiện bao giờ cũng được xem là kết
thúc, là đã thuộc về quá khứ so với hành vi kể [hành vi trần thuật]. Do vậy, truyện bao
giờ cũng là những truyện được kể lại. Rõ ràng phải có một người kể, một thời gian kể
tồn tại để làm nên truyện. Thời gian người kể thực hiện hành vi kể chuyện, kể lại câu
chuyện cho các thính giả hoặc độc giả của mình (tức là thời gian nói hoặc viết)” [9; tr.
36 ]. Vì vậy, thời gian trần thuật không đảo ngược chỉ có một thời gian ở hiện tại, là thời
gian nhà văn bỏ ra kể một câu chuyện mà bản thân sự kể chuyện đã là một nghệ thuật.
Tuy việc trần thuật không có nhịp độ riêng nhưng trong từng tác phẩm cụ thể, ta
cũng dễ dàng nhận ra nhịp độ thời gian có lúc nhanh hay chậm, đều đặn êm đềm
hay biến động căng thẳng. Ở đây, chúng ta cần làm rõ khái niệm nhịp độ thời gian.
Nhịp độ thời gian theo Lê Ngọc Trà “là độ dài của sự kiện và khoảng cách của
những sự kiện cũng như độ dài thời gian của việc cảm thụ sự kiện ấy”[27; tr.147].
Có hai loại nhịp độ thời gian cần lưu ý: nhịp độ thời gian sự kiện và nhịp độ thời
gian nhân vật.
Nhịp độ thời gian sự kiện (còn gọi là “biến cố” theo nghĩa rộng của từ này) - bao
gồm sự kiện xã hội và sự kiện trong cuộc đời nhân vật - là tương quan giữa độ dài
thực tế và thời gian trần thuật của các sự kiện trong tác phẩm, là khoảng cách, là

Nhịp điệu thời gian nhân vật - bao gồm nhịp điệu thể hiện qua hành động, hoạt
động bên ngoài và nhịp điệu trong tâm tưởng, tư duy thường phù hợp với nhịp điệu
thời gian sự kiện. Nhịp điệu thời gian sự kiện gấp khúc, dồn dập thì nhịp điệu thời
gian hành động của nhân vật luôn hối hả khẩn trương. Chẳng hạn, trong Giông tố
của Vũ Trọng Phụng, “những số phận thay đổi, những tính cách chuyển biến đột
ngột quá, đảo ngược quá, khiến các nhân vật cũng phải thay đổi với nhau một cách
mau lẹ, như là quay 180 độ. Những cuộc sắp xếp lại các quan hệ một cách hấp tấp,
vội vã như thế đã làm cho nhiều nhân vật giẫm đạp vào nhau, sinh ra những cuộc
cãi nhau, chửi nhau, chơi xỏ nhau tạo thành những màn đại hài kịch để tô rất đậm
sự thối nát, sự chó đểu của những con người tráo trở, đổi trắng thay đen. Tóm lại
xã hội Giông tố bày ra đủ cảnh tượng đảo điên, láo nháo, quay cuồng như đèn cù,
như trong cơn lốc mãnh liệt, một trận giông tố”[29; tr.32]. Ngược lại, khi nhịp điệu
thời gian sự kiện trì chậm, nhịp điệu thời gian hành động của nhân vật cũng lại theo
đó mà thành thư thả, thong dong.
Riêng đối với thời gian trong tâm tưởng, nhịp điệu hối hả khẩn trương thường
được biểu hiện qua cảm giác phấp phỏng, thấp thỏm của nhân vật về sự bất trắc của
tương lai. Nhịp điệu hối hả khẩn trương của thời gian tâm tưởng còn được biểu hiện

Trang 13 qua độ nhạy trong việc cảm nhận sức ám ảnh ghê ghớm của thời gian. Nhà thơ tình yêu
Xuân Diệu luôn cảm thấy thời gian như vô cùng ngắn ngủi, vì vậy nhà thơ luôn khao khát
được yêu, được thụ hưởng tình yêu và sự sống một cách vội vã, thấp thỏm như rượt
đuổi cùng thời gian
Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm sự sống còn đang mơn mởn Ta
muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu”
(Vội vàng)
Hay có khi tác giả trực tiếp bộc lộ những tư tưởng tình cảm, quan niệm của mình
đối với cuộc sống và nhân vật được trình bày qua cốt truyện mà các nhà lí luận gọi
là những đoạn trữ tình ngoại đề. Những đoạn trữ tình ngoại đề như thế thường xuất
hiện nhiều trong tiểu thuyết như tác phẩm của Victo Huygo, Lỗ Tấn, Hồ Biểu
Chánh, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhất Linh, Khái Hưng…Không chỉ với tiểu thuyết,
ngay cả trong truyện ngắn, ta cũng thường bắt gặp những dòng trữ tình ngoại đề.
Kết thúc truyện ngắn Số phận con người, Sôlôkhôp viết: “ Hai con người côi cút,
hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những
miền xa lạ…Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga
đó - con người có ý chí kiên cường , sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú
bé kia một khi đã lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi
chướng ngại trên đường nếu như Tổ quốc kêu gọi…”[7; tr.90]. Đó là hình ảnh cuối
cùng của cha con Xôcôlôp - một già một trẻ, một dày dặn, một thơ ngây, đã khiến
trái tim nhạy cảm trước nỗi đau đồng loại của tác giả bị bóp nghẹt vì đau đớn vì
thương cảm cho cả hai số phận “hai hạt cát bị chiến tranh xô đẩy”. Bất chấp khắc
nghiệt, họ dựa vào nhau để sống. Đó không chỉ là sự lắng đọng suy tư mà còn chứa
chan niềm tin và hi vọng của tác giả vào sức mạnh tinh thần của con người, của
nhân dân Nga, bất chấp đau thương vì chiến tranh, quyết vươn lên để tồn tại và phát
triển.
Thời gian trần thuật còn thể hiện điểm nhìn thời gian, cách hiểu thời gian của tác
giả và tự nó là một tín hiệu thẩm mĩ, có hiệu lực thẩm mĩ riêng.
Trong truyện cổ tích, thời gian trần thuật gần như trùng với thời gian của sự kiện
được trần thuật. Ở đây thời gian nghệ thuật gắn liền với chuỗi sự kiện, được tính
bằng bản thân sự kiện và tính liên tục của sự kiện. Mỗi lần bắt đầu bằng “Một hôm”,
“Ít lâu sau”, “ Hôm sau”, “Đến bữa cơm”, “ Được ít lâu”, “ Mãi sau”, “ Đến ngày
giỗ bố”, “ Đến lúc”, “Từ đó”, “Cứ mỗi lần”, “Từ bấy giờ”…Truyện không có quá
khứ, thời tương lai. Tất cả chỉ ở thời hiện tại kéo dài, khi sự kiện kết thúc thì thời
gian cũng hết. Nói chung thời gian này không ra ngoài phạm vi “một hôm”. Tác giả

dụng cho dụng ý nghệ thuật của mình. Thời gian tuần tự xảy ra các sự kiện trong tác
phẩm như một tất yếu của xã hội vốn dĩ sẽ xảy ra. Những gì xảy ra trong tác phẩm
như một sự thật hiển nhiên không có gì phải bàn cãi. Tất cả những cái xấu cái ác
đang tồn tại xung quanh con người đang dần trói buộc con người, đồng hóa dần
những tính cách tốt đẹp của họ. Quá trình biến đổi của họ diễn ra dần được tác giả
miêu tả theo trình tự. Ban đầu họ là những con người như thế nào, có tâm hồn tốt
đẹp trong sáng ra sao và đến cuối tác phẩm, họ đã trở thành con người như thế nào?.
Tám Bính trong Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng là một nhân vật tiêu biểu cho kiểu thời
gian trần thuật như thế. Từ một cô gái thôn quê hiền lành chân chất đến khi bị một
gã sở khanh lừa gạt có con, bị gia đình hắt hủi, cô lần tìm lên thành phố để tìm cha
của đứa bé thì liên tiếp gặp những tai họa: suýt bị cưỡng hiếp rồi bị cưỡng hiếp thật,
bị đánh ghen vô tội họa, bị đưa về bót, vào nhà chứa rồi trở thành kẻ lưu manh
chuyên móc túi lừa gạt. Chính cái xấu cái ác đã dồn nén, thúc ép Tám Bính vào con
đường tha hóa. Thời gian trần thuật này thể hiện một cách tất yếu sự đối phó của
nhân vật, những con người nhỏ bé tội nghiệp trước những tai họa luôn rình rập họ.
Họ không thể sống lương thiện mà lao vào con đường phạm tội. Suy cho cùng, họ
cũng chính là nạn nhân, là sản phẩm của xã hội thực dân phong kiến xấu xa.
Trong văn học lãng mạn và hiện thực, nhiều tác phẩm được xây dựng chủ yếu
không phải theo trình tự kế tục của thời gian mà theo qui luật phát triển cuả tâm lí.
Quan tâm đến các trạng thái tâm hồn của nhân vật, tác giả dẫn dắt câu chuyện theo

Trang 16 mạch thời gian tâm lí. Những sự kiện, biến cố tình tiết, khung cảnh được sắp xếp,
phục hiện phù hợp với những ấn tượng và hồi ức của nhân vật. Trong tiểu thuyết Đi
tìm thời gian đã mất của Marel Proust thời gian bước đi theo hành trình tìm lại kỉ
niệm, theo tiếng gọi của hồi ức và tìm thức cá nhân, liên tưởng riêng tây. Ở đây thời
gian quá khứ như tự thỏa mãn với chính nó và kỉ niệm của nhân vật cũng trở thành
một thực thể tự đầy đủ với chính nó. Vì vậy, “Anatoli Bootxarep có lần đã khẳng

quang cá nhân. Cả hai đang tìm kiếm sự thật, đang theo đuổi lí tưởng của mình.

Trang 17 2. Không gian nghệ thuật:
Cùng với thời gian, không gian cũng là một phạm trù của triết học, là hình thức
tồn tại của thế giới hiện thực. Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian.
Chỉ trong không gian và thời gian thì sự vật mới có tính xác định. Nhưng không
gian trong văn chương lại có những đặc điểm khác không gian thực tế. Bởi văn
chương không chỉ là nghệ thuật thời gian mà nó còn là nghệ thuật không gian, một
nghệ thuật không gian đặc thù. Tính đặc thù này cũng do chất liệu xây dựng hình
tượng là ngôn từ quy định. Không gian nghệ thuật gắn với sự cảm thụ về không
gian, có giá trị tình cảm nên nó mang tính chủ quan của người sáng tác. Do vậy mà
không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không quy được vào không gian
địa lí.
2.1. Khái niệm:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì không gian nghệ thuật là: “Hình thức bên trong
của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần thuật
trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường
nhìn nhất định qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính
của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần,
rộng, dài , tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về
không gian, nên mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể có không gian tâm
tưởng:
Gần đây mà xa biết bao nhiêu
Giữa hai đứa mênh mông là biển rộng
(Tố Hữu)
Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy vào được
không gian địa lí. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô

mang tính nghệ thuật, bối cảnh thiên nhiên vừa gắn bó với nhân vật và hoạt động
của nhân vật vừa tạo ra nguồn cảm hứng cho người kể và người đọc. Thiên nhiên ở
đây có thể rộng lớn như bầu trời cao vời vợi với những đám mây lơ lửng hay nhỏ bé
như ao thu “lạnh lẽo nước trong veo”. Bên cạnh đó có nhiều bối cảnh nhỏ như ao
làng, giếng nước, hồ vườn, cây thị bên đường, cau, bờ rào, quán nước… Không
gian ở đây không phải chỉ làm “phông” cho tác phẩm. Chính không gian là một yếu
tố vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội dung, biểu đạt chủ đề của tác phẩm.
Nhìn chung, bối cảnh thiên nhiên trong thơ trữ tình thường rất nên thơ rất đẹp đúng
như câu “thi trung hữu họa”, chỉ bằng vài dòng thơ, thi nhân đã vẽ nên những bức tranh
thiên nhiên tuyệt đẹp:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Hay Trong làn nắng ửng khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
(Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử)
Còn trong văn xuôi lãng mạn, bối cảnh thiên nhiên được vẽ nên bằng những nét bút
tuyệt đẹp. Chẳng hạn, trong tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, thiên nhiên được miêu tả
“phía tây sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng lấp loáng qua các khe đám lá xanh
đen. Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc,
mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cái cảnh
nhuộm đồng một màu tím thẫm”[14; tr.11]. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp
nhiều màu sắc, có nét cổ kính của rêu phong, có nét hiện đại của tường vôi trắng.

Trang 19 Một điều đặc biệt ở đây là khoảnh khắc thiên nhiên đang chuyển giao giữa ngày và đêm,
giữa sáng và tối. Dường như Khái Hưng muốn giới thiệu cho người đọc biết chính nơi
yên tĩnh đượm mùi thiền của Phật giáo này sẽ nảy sinh một mối tình đẹp đẽ thanh cao

bối cảnh mang tính mơ hồ, ước lệ “ tất cả cái gì là vật chất, là thực thể, bao nhiêu
màu sắc, thanh âm dường như đã bị tác giả xóa nhòa đi trong những nét bút mơ hồ
mênh mông. Một con sông, một đoạn đường, một nhịp cầu, một dòng nước, một
cánh đồng và xa kia, nơi lớp mây đưa…là một rặng núi…Cả một khung cảnh bao

Trang 20 la, đại thể…Nhưng chốn ấy là chốn nào? Con sông đó, đoạn đường đó, nhịp cầu, dòng
nước, và cánh đồng và rặng núi kia, tên nó là gì? Nó có gì là đặc biệt? Tác giả không
hề nói. Hơn thế nữa, cái cầu đã biến thành cầu Vị, và con đường là con đường Hán
dương, bến nước là bến Tiêu tương…thì chúng ở đâu thế này ? Thi sĩ đã bố trí cảnh li
biệt vào một khung cảnh Tàu, hồi mà thủ đô Tàu còn ở bến Hàm dương! Bao nhiêu
thực thể cụ thể, chính xác đều bị sa thải, hoặc gói ghém lại trong ước lệ, điển cố văn
Tàu”[24; tr.48].
Không gian bối cảnh ở đây có thể là không gian mở hay không gian khép nếu
xét về tính chất. Khoảng trời, cánh đồng…thể hiện hình tượng không gian mở; ngôi
nhà, căn phòng…thể hiện hình tượng không gian khép; còn khung cửa là ranh giới
giữa hai hình tượng đó. Nhiều bài thơ trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
thể hiện hình tượng không gian vận động từ cận cảnh đến viễn cảnh, mở ra một
hướng chân trời, một vầng sáng hay một tầm nhìn khoáng đạt (Buổi sớm, Giải đi
sớm, Trời hứng…). Trong một số bài thơ khác, không gian nghệ thuật lại có tính
chất khép lại (Cảnh chiều tối, Đến Quế Lâm, Nhà lao Nam Ninh…).
Không gian bối cảnh có thể là không gian linh hoạt, vận động đa dạng hay đa hướng
như trong thơ Hồ Xuân Hương:
Cỏ xiên mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
(Tự tình I)
Một không gian như có sức sống mãnh liệt, như phá phách, ngông nghênh vượt ra ngoài
giới hạn cuả khuôn khổ. Trái lại là không gian tĩnh, bất động với những đồ vật và hình

gây tình huống cho nhân vật bộc lộ tính cách, tâm trạng. Trong Cao điểm cuối cùng
của Hữu Mai, tình huống đầy gây cấn khi giặc hết lượt này đến lượt khác phản công
chiếm lại ngọn đồi A1, trong khi đó các chiến sĩ phòng ngự các ụ súng đã hi sinh
hoặc bị thương nặng chỉ còn lại dăm người có khả năng chiến đấu thì trong số đó lại
có kẻ nao núng và rút lui “Trung đoàn trưởng rời khỏi ụ súng tiếp ra mấy bước,
đứng chắn trên đường anh ta đang chạy. Nhưng Quỳ bỏ đường hào, chống tay nhảy
lên mặt đồn, lao nhanh về phía cửa đột phá. Đằng sau hắn, một số chiến sĩ hùa
chạy theo. Tình hình đã rõ ràng, trung đoàn trưởng rút súng ngắn. Anh chưa kịp kết
liễu đời tên hèn nhát, bọn địch đuổi theo đã gần ập tới, anh phải quay mũi súng về
phía địch [20; tr.106] (…) “Địch đang xô tới rất đông…Anh [trung đoàn trưởng
Trang] bắn một băng tiểu liên. Vẫn không cản được chúng. Anh cúi xuống hào nhặt
một ống phóng lôi, tháo nhanh kíp, nhảy lên khỏi giao thông hào, dùng hết sức lăn
mạnh về phía địch. Một ánh lửa đỏ lóe, một tiếng nổ dậy như bom. Những chiếc mũ
sắt địch bay lên. Ống phóng lôi của trung đoàn trưởng đã cứu vãn tình hình. Các
chiến sĩ đang chạy quay lại, rút lựu đạn ném tới tấp về phía địch. Tiểu đoàn phó
Quân nắm thời cơ nhảy lên miệng hào hô to:
- Xung phong!
Thương binh nằm dưới chiến hào cũng hô theo vang dậy khắp nơi. Bọn địch
hoảng sợ, quay trở lại. Quân đuổi theo địch chừng dăm chục mét, nhìn phía sau chỉ
thấy một chiến sĩ chạy theo mình, phải dừng lại” [20; tr.107]. Giữa sự sống và cái
chết chỉ còn trong gang tấc, không gian sự kiện ở đây như làm nổi bật tinh thần
chiến đấu, không ngại hi sinh của các chiến sĩ bộ đội đặc biệt là phẩm chất tốt đẹp
của người cán bộ lãnh đạo như Cương - trung đội trưởng, của Quân - tiểu đoàn phó
và của trung đoàn trưởng Trang. Qua đó ta cũng thấy được sự hèn nhát của tiểu
đoàn trưởng Quỳ; rút lui khỏi vị trí chiến đấu nhằm bảo toàn tính mạng, Quỳ đã làm
tinh thần của anh em binh sĩ nao núng. Không gian sự kiện đó đã làm nổi bật những

Trang 22
bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu.
Chị Dậu nghiến hai hàm răng:
- Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy
không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt
đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”[30; tr.116]. Sự hung
hăng, hống hách của tên cai lệ đã làm cho chị Dậu phải vùng lên phản kháng, xuất

Trang 23 phát từ tình cảm thương chồng con của chị. Chị không thể để bọn chúng hành hạ anh
Dậu trong lúc anh đang đau ốm. Ban đầu là tâm trạng sợ hãi, van xin rồi đến liều lĩnh
dùng lí lẽ cự lại; cuối cùng là nóng giận vùng lên đánh lại bọn chúng. Tất cả hành động
và tâm trạng của chị đều xuất phát từ nguyên nhân muốn bảo vệ người chồng bị ốm nặng,
đang lên cơn sốt.
Khi đứng trước những tình huống buộc nhân vật phải chọn lựa, đắn đo, không
gian sự kiện ở đây góp phần bộc lộ sự mâu thuẫn tính cách hay nội tâm của nhân
vật. Chẳng hạn sự mâu thuẫn nội tâm của Hộ trong Đời thừa “Hắn lảo đảo bước
vào nhà, mắt gườm gườm, đôi môi mím chặt. Hắn đi thẳng lại trước mặt Từ. Hắn
cúi xuống, quắt mắt nhìn Từ, gõ gõ một ngón tay trỏ vào trán Từ và dọa như người
ta dọa trẻ con:
- Ngày mai…mình có biết không?...Chỉ ngày mai thôi! Là tôi đuổi tất cả mấy mẹ
con mình ra khỏi cái nhà này…Tôi đuổi tất, không chừa một đứa nào, kể cả con bé
Thảo là con ngoan nhất…Mấy đứa kia đều đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng
nó chỉ biết ăn với hét! Cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy…cũng đáng vật một nhát
cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn rồi ngồi ôm con như con nhện ôm khư khư bọc
trứng, không chịu làm thêm việc gì cho có tiền. Chỉ khổ thằng này thôi!”[19;
tr.207]. Có thể nói, khi say con người mới bộc lộ một cách đầy đủ những suy nghĩ,
bứt xúc, bực dọc trong lòng mình. Hộ cũng vậy, hành động chửi vợ, mắng con

chuỗi và ít nhiều có liên quan, bổ sung cho nhau theo mối quan hệ nhân quả, hô
ứng. Tuy nhiên, các không gian sự kiện này có thể khác nhau về mức độ tính
chất.Trong một tác phẩm có một vài sự kiện quan trọng mang tính quyết định cho
cuộc đời nhân vật hay chi phối các sự kiện khác. Chẳng hạn trong Đoạn tuyệt của
Nhất Linh, sự kiện dẫn đến cái chết của Thân là một sự kiện quan trọng, có khả
năng bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm “Loan vẫn lùi. Thân hục hặc nhìn quanh,
rồi luôn tiện tay cầm ngay lấy cái lọ đồng sấn lại phía nàng. Loan thấy Thân đã đến
gần mình, trong lúc hốt hoảng liền vớ ngay con dao díp rọc sách để ở bàn định giơ
đỡ. Thân như con hổ dữ đạp đổ một cái lọ đồng đập vào Loan. Loan né mình tránh
được và trượt chân ngã xuống giường con dao cầm chắc trong tay. Thân quá đà
cũng ngã mạnh vào người Loan, Loan thấy cái cán dao ấn mạnh lên tay nàng và
Thân kêu lên một tiếng” [17; tr.174]. Sự kiện này đã giải quyết mâu thuẫn đang gay
gắt giữa mẹ chồng và nàng dâu, giữa cá nhân và đại gia đình phong kiến, giữa cái
cũ đã lỗi thời và cái mới tiến bộ. Đó là cách giải thoát cho Loan khỏi sự ràng buộc
và đọa đày bên nhà chồng trong suốt bốn năm mà nàng phải gánh chịu.
Bên cạnh đó, trong một số tác phẩm, không gian sự kiện còn gắn với hoàn cảnh
xuất thân của nhân vật. Nó như báo hiệu một cuộc đời phi thường của nhân vật mà
ta thường thấy như trong truyền thuyết. Nhân vật chính ra đời trong hoàn cảnh khá
đặc biệt : bà mẹ thấy rồng vàng bay lượn mà sinh ra Sơn Tinh hay ướm thử vào dấu
chân lạ mà sinh ra Gióng. Và những nhân vật như Sơn Tinh, Gióng về sau này có
những chiến công hiển hách thế nào thì ta đã rõ. Tuy nhiên, hoàn cảnh xuất thân
cũng có thể báo hiệu cho một cuộc đời bất hạnh nhiều đau khổ của nhân vật. Hình
ảnh cái lò gạch cũ bỏ không, thưa người qua lại, nơi Chí Phèo chào đời và được
nhặt đem về nuôi rồi bị bán cho hết nhà này sang nhà khác phải chăng là tiền định
báo hiệu cho một cuộc đời cô độc, không người thân, luôn bị mọi người xa lánh
của Chí Phèo sau này.
Ở một số tác phẩm, có những sự kiện giống nhau được tạo nên bởi những nhân
vật khác nhau. Điều này cũng có thể lí giải được xuất phát từ thực tế khách quan.
Năm Thọ, Binh Chức và Chí Phèo vốn là người hiền lành đều trở thành những kẻ


Trái lại, khi vui, không gian trở nên khoáng đạt tươi sáng. Đó là tâm trạng vui
sướng, hạnh phúc của Tràng trong Vợ nhặt sau cái đêm có vợ “Ánh sáng mùa hè
sáng lóa xói vào hai con mắt còn cay xè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái,
và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có gì thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà
cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng…”[19;
tr.114].
Không gian tâm lí và không gian bối cảnh thường có mối quan hệ gắn bó với
nhau. Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa lòng người với thiên nhiên, xã hội nên có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status