Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng (Qua Đám cưới không có giấy giá thú Ngược dòng nước lũ Một mình một ngựa - Pdf 26

Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG
(Qua Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược
dòng nước lũ, Một mình một ngựa) LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội-2013

Hà Nội-2013

Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4. Phương pháp nghiên cứu 13
5. Đóng góp của luận văn: 14
6. Bố cục khoá luận 14
PHẦN NỘI DUNG 15
Chƣơng 1. TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG NỀN
TIỂU THUYẾT ĐƢƠNG ĐẠI VIỆT NAM 15
1.1 Tổng quan về tiểu thuyết đương đại Việt Nam 15
1.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam
đương đại 18
1.3 Nhận diện tiểu thuyết có khuynh hướng tự thuật của Ma Văn Kháng
và tiểu thuyết tự thuật 22
1.3.1 Tự thuật là gì? 22

Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Ma Văn Kháng là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt
Nam đương đại. Gần tám mươi tuổi đời và trên năm mươi năm cầm bút, với
tinh thần miệt mài, cần mẫn, với niềm say mê, đau đáu với nghề, Ma Văn
Kháng thực sự “giàu có” trong khu vườn văn chương của mình: với gần hai
chục tiểu thuyết, trên hai trăm truyện ngắn, và một hồi kí văn chương đầy đặn
đã phần nào đáp ứng lòng mong mỏi của không chỉ đồng nghiệp mà cả với
đông đảo công chúng yêu văn chương ông. Có thể nói văn chương của Ma Văn
kháng luôn thấm đẫm chất đời và mang hơi thở cuộc sống, nó không chỉ in
đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của nhà văn, mà ngay từ khi ra đời nó đã dự
báo tính thời đại của đời sống văn học và tinh thần nhân văn mới mẻ.
Có được điều này là do văn chương của nhà văn được khơi từ mạch
nguồn ấm áp của chính cuộc sống. Mỗi trang viết của ông không chỉ thấm
đẫm những quan niệm nhân sinh, thế sự mà dường như soi thấu tâm can, gan

Khuynh hướng này có mối liên hệ sâu sắc với những đặc điểm chủ yếu của
quá trình đổi mới văn học sau 1986, nó thể hiện rõ nét cảm hứng tự vấn, tự
nhận thức lại đời sống, hướng đến số phận cá nhân và cái tôi của nhà văn
trong hàng loạt tác phẩm. Và không nằm ngoài sự vận động đó, một số tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng cũng mang đậm dấu ấn tự thuật.
Là thể loại năng động nhất, mà nòng cốt chưa rắn lại và chưa thể dự
đoán hết được những khả năng uyển chuyển của nó, tiểu thuyết Việt Nam
đương đại luôn có những biến đổi không ngừng, đa dạng về phong cách và
khuynh hướng sáng tác. Tại đây ta bắt gặp một vấn đề có tính chất lý luận
rằng: Vì sao thể tự truyện ở nước ta ít có cơ hội phát triển trong khi tiểu
thuyết mang yếu tố tự thuật lại xuất hiện khá nhiều, nhất là từ giai đoạn sau
đổi mới? Vì sao so với tiểu thuyết tự thuật nước ngoài, các tiểu thuyết Việt
Nam khi nói về chuyện đời tư lại ít lựa chọn cách trần thuật ở ngôi thứ nhất
và thường giấu đi mối liên hệ giữa cái tôi tiểu sử và tác phẩm trước sự “tò
mò” của độc giả. Hiện trạng này khiến không ít người đọc nghi ngờ: liệu cứ
khai thác mãi cái tôi của mình, thế giới xung quanh mình, phải chăng nhà văn
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
7
đang dần đi vào ngõ cụt? Với các cây bút mới vào nghề, phải chăng vì họ
thiếu vốn sống và chưa đủ tầm để quan tâm đến với những vấn đề lớn của thời
đại? Những tranh luận của giới nghiên cứu phê bình xung quanh hiện tượng
tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật gợi ra nhiều suy nghĩ về đặc trưng của văn
học đương đại nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Liệu lối viết tiểu thuyết có
bị ảnh hưởng hay không khi nhà văn sử dụng chất liệu đời tư và trải nghiệm
cá nhân vào trong tác phẩm? Chắc chắn khi nhà văn đưa yếu tố tự thuật vào
tác phẩm với dụng ý và mục đích riêng, anh ta sẽ bị chính sự lựa chọn của
mình chi phối. Nhưng vấn đề là sự chi phối ấy diễn ra như thế nào, nó sẽ làm
tăng sức hấp dẫn hay làm suy giảm chất lượng nghệ thuật của tác phẩm? Hơn
nữa, việc tìm hiểu yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng qua

Việt về các vấn đề tự thuật liên quan trực tiếp đến đề tài.
Đầu tiên, trong cuốn sách mang tên Con đường đi vào thế giới nghệ
thuật của nhà văn tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã nhắc tới khái niệm “cái
tạng” (temperament - sở trường riêng, phong cách riêng mỗi nhà văn). Ông
khẳng định “nếu coi mỗi tác phẩm văn chương là một lần nhà văn tìm đường
bày tỏ mình, thì quá trình hình thành, vận động và phát triển của tư tưởng
nghệ thuật mỗi nhà văn cũng đồng thời là quá trình nhà văn tự giải đáp câu
hỏi: Tôi là ai?” [47; 56]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng chỉ ra các
căn cứ để khảo sát và tìm hiểu thế giới nghệ thuật và con người nhà văn thể
hiện trong tác phẩm, với những luận chứng và kiến giải rất rõ ràng. Mặc dù
không trực tiếp nêu tên thuật ngữ “tự thuật” nhưng cách lí giải của tác giả đã
gián tiếp đề cập đến vấn đề nghiên cứu của chúng tôi.
Ngoài ra các bài viết của hai tác giả: Lê Hồng Sâm với bài viết “Tuổi
thơ” của Nathalie Sarraute và đổi mới thể tài tự thuật (Tạp chí Văn học, số
11/1997) và Đặng Thị Hạnh với bài Tự thuật và tiểu thuyết Pháp ở thế kỉ XX
(Tạp chí Văn học, số 5/1998) cũng rất đáng được quan tâm. Các tác giả này
đều dành phần đầu bài nghiên cứu để đi sâu hơn vào tìm hiểu vấn đề tự thuật
trong tiểu thuyết Pháp thế kỉ XX. Năm 2001, với Chuyên luận Đổi mới nghệ
thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào trong
“Lời mở” đã có đề cập đến vấn đề tự truyện, giải thích lí do về “một thế giới
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
9
đầy đổ vỡ và hoài nghi, một thế giới những con số, của những thông tin, về
nguyên tử, của nhịp sống công nghiệp, xã hội tiêu dùng, thời đại kĩ trị” [11;
11] chính là nguyên nhân trực tiếp để các nhà tiểu thuyết hiện đại chối bỏ
“thực tại bên ngoài” để đi sâu hơn và tìm về với “thế giới bên trong” của bản
thân mình.
Cũng quan tâm tới vấn đề tự thuật - xuất hiện ngày càng dày đặc đến
mức trở thành một “yếu tố hiện thân” của nền tiểu thuyết hiện đại, tác giả

Ma Văn Kháng được đánh giá là “tiền đổi mới”, theo nhà nghiên cứu Phong
Lê, đó chính là Mưa mùa hạ, 1982. Với tác phẩm này, Ma Văn Kháng đã thực
sự bước sang một giai đoạn mới trong sáng tác.
2.2.2 Giai đoạn sau Đổi mới 1986
Các sáng tác của Ma Văn Kháng ở giai đoạn này đã có sự vận động từ
đề tài đến cảm hứng sáng tác, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, ngôn ngữ. Từ
đề tài dân tộc miền núi đậm chất sử thi, Ma Văn Kháng hướng tới đề tài thế
sự đời tư gắn với không gian nghệ thuật thành thị và con người cá nhân.
Cảm hứng sáng tác vận động theo hướng nghiên cứu phân tích. Nhân vật
trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng được xây dựng chủ yếu ở phương diện tâm
lí, phản ánh đời sống tâm hồn với những mâu thuẫn, những suy nghĩ về cuộc
đời con người.
Và qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu của giai đoạn sáng tác này,
có thể kể đến tác giả Trần Cương trong bài viết Mùa lá rụng trong vườn - Một
đóng góp mới của Ma Văn Kháng, Báo Nhân dân chủ nhật, số 6/1985; Trần
Bảo Hưng Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của đời sống gia đình
hôm nay, Báo Phụ nữ Việt Nam số 17/1986; Hồng Diệu Về tiểu thuyết Đám
cưới không có giấy giá thú, Báo Người giáo viên nhân dân, số 1/1990; Trần
Bảo Hưng Đám cưới không có giấy giá thú hay là những nghịch lí đau xót
của thực tại, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 6/1990; Nguyễn Thị Huệ Đổi mới
tư duy nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 1980, Tạp
chí Văn học, số 2/1999; Lê Văn Chính Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài
thành thị của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm,
Hà Nội, 2004; Đỗ Phương Thảo Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
11
Kháng, NXB Văn học, 2008; Nguyễn Thị Huệ Văn xuôi khơi nguồn đổi mới,
NXB Công an nhân dân, 2009;
Về cơ bản, qua khảo sát các ý kiến đều thống nhất đánh giá Ma Văn

sáng tạo của nhà văn.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của một luận văn và do hạn chế về tư liệu, chúng tôi sẽ
tiến hành nghiên cứu dựa trên những văn bản là:
- Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú (1989)
- Tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ (1999)
- Tiểu thuyết Một mình một ngựa, Ma Văn Kháng, NXB Phụ Nữ, 2009
- Hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương, Ma Văn Kháng,
NXB Hội nhà văn, 2009
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số các tác phẩm khác, một số
đoạn trích dịch, các công trình nghiên cứu, tư liệu có liên quan đến vấn đề tự
thuật và ba tiểu thuyết trên của Ma Văn Kháng.
Sở dĩ lựa chọn các tiểu thuyết có yếu tố tự thuật theo những tiêu chí
trên đây là do chúng tôi kế thừa được sự phân loại của các nhà khoa học đi
trước, mặt khác, chúng tôi muốn thông qua phương pháp nghiên cứu tiểu sử
và phương pháp lịch sử - xã hội để phân tích và khẳng định sự phát triển của
tiểu thuyết có yếu tố tự thuật như là sản phẩm tinh thần của thời đại đề cao
bản ngã và khát vọng thành thực của cái tôi cá nhân trong ánh xạ của mỹ học
hiện đại và hậu hiện đại. Dĩ nhiên, việc xác định yếu tố tự thuật trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng mà chúng tôi tiến hành không đồng nghĩa với sự
gò ép theo lối “bắt vít”, rằng đó là những tác phẩm ghi chép lại đời tư tác giả
một cách đơn giản. Mục đích của chúng tôi là nhận thấy rõ hơn mối quan hệ
khăng khít giữa sự thực và hư cấu thông qua những trải nghiệm sâu sắc và
thấm thía của nhà văn. Bởi thế, chúng tôi coi những tự bạch của nhà văn cũng
như những đánh giá bình luận của độc giả cùng thời với họ là những nguồn tư
liệu quan trọng để xác minh mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố tự thuật với
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.

Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học

Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
14
hướng tới khám phá cách thức chuyển hóa chất liệu tự thuật trong tác phẩm nên
trong quá trình triển khai đề tài, luận văn còn sử dụng cách tiếp cận của Thi
pháp học hiện đại, Phương pháp lịch sử - xã hội, Phương pháp so sánh để
tiến hành nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn:
- Tìm hiểu sự xuất hiện của yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng như là một bước chuyển của tư duy văn học trong bối cảnh mới, đề tài
đặt cái nhìn xuyên suốt về vấn đề cái tôi cá nhân từ truyền thống đến hiện đại,
chỉ ra ý nghĩa của nó đối với thế giới nghệ thuật và tư tưởng tác phẩm.
- Luận văn hệ thống những quan niệm về vấn đề tự truyện và sự phát triển của
tiểu thuyết có yếu tố tự thuật, đề xuất những tiêu chí nhận diện và ghi nhận
những đóng góp của nó đối với đời sống thể loại văn học.
- Từ những phân tích về tiểu thuyết có yếu tố tự thuật của Ma Văn Kháng qua
Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa,
luận văn góp phần phác học diện mạo tiểu thuyết đương đại Việt Nam, lý giải
và khẳng định những đổi mới trên phương diện nghệ thuật trần thuật.
6. Bố cục khoá luận
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, nội dung của khoá luận được triển
khai thành ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong nền tiểu thuyết đương đại
Việt Nam.
Chương 2: Yếu tố tự thuật qua các nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của
Ma Văn Kháng.
Chương 3: Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết có yếu tố tự thuật của Ma
Văn Kháng
Cuối cùng là phần Danh mục tài liệu tham khảo.


mày dĩ vãng (Chu Lai), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) Như vậy, những
bi kịch đời tư bỗng được đặt ra trong hành trình con người kiếm tìm hạnh
phúc; con người đã kịp thời nhận ra “khối cô đơn khổng lồ” đang chụp xuống
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
16
thân phận họ, đang “đè bẹp” cuộc đời họ. Mở ra trước mắt họ sự “tù túng”
“chật chội” của không gian; len lỏi vào từng số phận đáng thương của họ, là
những “thước phim lộn trái cuộc đời”. Cái cô đơn, sự tuyệt vọng và cả sự rách
nát của tâm hồn cũng là hiện trạng có thật trong đời sống tinh thần con người.
Tiểu thuyết đương đại không thờ ơ, né tránh sự thật đó. Giá trị nhân bản của
văn học vì con người, vì tất cả những nỗi niềm của nó dù nhỏ nhoi nhất. Tất
nhiên ở đây một vấn đề được đặt ra: Tính mức độ của sự miêu tả. Cái lối miêu
tả quá đà là chỗ yếu của Ly thân ( Trần Mạnh Hảo), Kẻ lang thang (Trần Văn
Tuấn). Lần đầu tiên trong văn học có một số tiểu thuyết hướng sự miêu tả đến
cộng đồng người Việt ở nước ngoài - chủ yếu ở Liên xô. Hai cuốn tiểu thuyết
của Bùi Việt Sĩ (Người đưa đường thọt chân) và Hữu Đạt (Hai đầu của bức
thư tình) đều đem đến nỗi buồn, sự day dứt cho chúng ta về số phận của
người Việt Nam ở nước ngoài.
Thời kì này tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ giống như “măng mùa
xuân” với nhiều tác phẩm được công nhận cả về nội dung lẫn nghệ thuật như
Cửa gió (Xuân Đức), Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuấn), Hạt mùa sau
(Nguyễn Thị Ngọc Tú), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Mùa lá rụng trong
vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn Trí
Huân), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không
chồng (Dương Hướng), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Thuỷ hoả đạo
tặc (Hoàng Minh Tường), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng
(Trung Trung Đỉnh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thời gian của người
(Nguyễn Khải) Các nhà văn trong sáng tác của mình đã từ bỏ được lối nhìn
dễ dãi về đời sống và con người. Đọc sáng tác của họ bạn đọc dễ có cảm giác

Quang, những tác giả trẻ có nhiều hứa hẹn.
Mặt khác, trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu
thuyết luôn có sự biến đổi. Đặc biệt là trong khoảng thời gian gần đây, các
nhà nghiên cứu văn học đã bàn luận khá nhiều về vấn đề cách tân tự sự trong
tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Với những nghiên cứu nhiều chiều, theo
nhiều hướng khác nhau, và hầu hết đều mang tính phát hiện, chúng ta có thể
nhận thấy tính phức tạp của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết đương đại (với
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
18
sự luân chuyển của các ngôi kể cùng sự đan chéo của các điểm nhìn; với sự
đa dạng hoá các giọng điệu trần thuật cùng sự pha trộn táo bạo các loại lời
người trần thuật - lời nhân vật và lời gián tiếp tự do ). Bên cạnh đó, còn xuất
hiện ngày càng nhiều tiểu thuyết có yếu tố tự thuật. Trước đây, trong văn học
Việt Nam truyền thống có rất ít tác giả tự kể chuyện về mình, nhìn chung “cái
tôi của nhà văn Việt khá kín đáo” và không thích lộ diện nhưng trong khoảng
vài thập kỉ trở lại đây, khuynh hướng tự thuật trong tiểu thuyết đang dần trở
nên gây sự chú ý. Sự hiện diện của yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết biểu hiện
sự thay đổi về cái tôi cá nhân cũng như nhận thức về vấn đề sự thật - hư cấu
trong sáng tạo nghệ thuật.
Và gắn liền với sự cách tân đổi mới đó là tên tuổi của biết bao thế hệ
nhà văn. Trong đó phải kể đến Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn
Khải, Lê Lựu, Nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã khẳng định: “Trước khi làn
sóng đổi mới dâng lên mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của dân tộc, trong
những điều kiện cực kì khó khăn của đất nước, sáng tác của Nguyễn Minh
Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, đã đốt lên nhiệt tình
kiếm tìm chân lí, hứa hẹn khả năng tự đổi mới của nền văn học, khi nó dám
sòng phẳng với quá khứ, bất chấp mọi thế lực ngăn cản” [56; 27].
1.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam
đƣơng đại

trồng người. Trong tác phẩm, nhà văn viết về cả hai mặt đời sống (trắng và
đen), về cả hai kiểu người xấu và tốt, thể hiện cả hai cảm hứng hi vọng và thất
vọng. Nhân vật chính của Đám cưới không có giấy giá thú là Tự, một con
người luôn khắc khoải, dằn vặt bởi sự sa sút của nhân cách người thầy giáo;
Đầy lo lắng, buồn tủi về thế cuộc; Nhưng luôn gắng giữ cho trọn tấm lòng
một người thầy, dành hết tâm lực cho học sinh. Một người trí thức thật đẹp,
và cô đơn. Qua tiểu thuyết này, dường như Ma Văn Kháng viết về bản thân,
trong cái nhìn tổng quan mấy chục năm ở một trường cấp ba bé nhỏ tại một
tỉnh lẻ, với biết bao hạnh phúc và tủi buồn của một thân kiếp cô lẻ. Tiểu
thuyết chứa đựng những ý tưởng rất không phù hợp với quan niệm chính
thống đương thời. Người đọc thấy trong cuốn sách sự vận dụng các lý thuyết,
nhằm lý giải cho kỳ được thân phận người trí thức tiểu tư sản ở nước ta. Mặc
dù là tiểu thuyết luận đề, tác phẩm này vẫn chứa đầy sự sống. Ma Văn Kháng
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
20
là nhà văn tài ba trong tạo dựng chi tiết sống, nên những trang viết của ông
thật sinh động, hấp dẫn và nội dung của tác phẩm đi vào lòng người đọc cũng
thật tự nhiên, thấm thía. Đám cưới không có giấy giá thú tái bản nhiều lần,
bởi nó là luận đề, đã đặt ra cho người đọc những vấn đề lớn về con người,
cuộc sống và bởi nó là văn chương sinh động, nơi lưu giữ những hình ảnh đời
sống, nó là chuyện của cuộc đời này với biết bao nước mắt, mồ hôi và phập
phồng hy vọng.Và những gì xảy ra trong Đám cưới không có giấy giá thú là
chuyện đã xảy ra trong cuộc đời giáo viên của ông (tất nhiên là đã được lọc
qua cái lăng kính thẩm mỹ…). Nhà trường nơi ông dạy học chính là bối cảnh
của tiểu thuyết. Cuốn sách này là sản phẩm của cả một quá trình tư duy.
Nghiền ngẫm khá lâu ông mới nắm bắt, và sau đó mới triển khai được tinh
thần, cái linh hồn, tức là chủ đề thẩm mỹ của câu chuyện… Ông muốn đề cập
đến vai trò và số phận của người trí thức trong sự phát triển của xã hội ta. Đây
cũng chính là lí do để người viết lựa chọn tác phẩm trong khi triển khai vấn

biến động, với đầy đủ sự tốt – xấu của con người. Họ có đủ bản lĩnh để vững
vàng trước những cám dỗ hay sẽ bị hoàn cảnh xô đẩy, lôi kéo về phía bóng tối
lại là một quá trình phức tạp và nghiệt ngã. Ông muốn khai thác, khám phá, lí
giải nguyên nhân sâu xa của quá trình đó, chứ không phải chỉ nói về những
tiêu cực.
Gần đây, sự ra đời của Một mình một ngựa cũng đã gây được sự chú ý
lớn của độc giả và giới nghiên cứu phê bình. Không có nhiều đột phá, cách
tân trong nghệ thuật tự sự nhưng Một mình một ngựa hấp dẫn ở cách kể
chuyện hóm hỉnh, tạo được những điểm nhấn ấn tượng. Tác phẩm tiếp nối
nguồn mạch tự thuật được khơi dòng từ các tiểu thuyết trước nó nhưng dường
như có cái nhìn thể tất nhân tình hơn. Toàn bộ tiểu thuyết Một mình một ngựa
được chia làm mười tám chương với bối cảnh là ở O tròn (nơi sơ tán của cơ
quan tỉnh uỷ Hoàng Liên trong những năm chống Mỹ) với các nhân vật trung
tâm là những người cộng sản trong tỉnh uỷ: năm thường vụ, năm ông trợ lý và
gần chục cán bộ văn phòng tỉnh uỷ. Ma Văn Kháng đã dẫn người đọc cùng
Toàn (một thầy giáo dạy văn - nhân vật chính của tiểu thuyết) thâm nhập, hoà
đồng vào cơ quan đầu não của tỉnh uỷ Hoàng Liên tìm hiểu, gặp gỡ từng
người để hiểu cặn kẽ về họ: từ lí lịch xuất thân, quá trình công tác, cái tốt đẹp
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
22
lẫn sự xấu xa, những việc làm thăng hoa bay bổng và cả những phút yếu lòng
xa ngã xuống vực thẳm. Họ là một tập thể cán bộ cũ đáng ca ngợi nhưng đôi
lúc lại là kẻ xấu đáng bị trừng phạt, lên án.
Như vậy cho đến hôm nay, sau ngót năm mươi năm cầm bút, bên cạnh
hơn hai trăm truyện ngắn, Ma Văn Kháng đã cho ra đời mười sáu tiểu thuyết
được dư luận đón nhận và đánh giá cao- đây là một con số không nhỏ, bộc lộ
thái độ cần cù, nghiêm túc và tài năng sáng tạo trong lao động nghệ thuật.
Hàng vạn trang văn ấy chỉ để giữ lại một điều cuối cùng, là con người hãy đến
với nhau bằng sự tử tế, bằng tình yêu vô tư và vô điều kiện. Đó cũng là muối

loại này, trong cuốn Tự thuật ở Pháp (1971), đã định nghĩa như sau: “Truyện
kể mang tính chất nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc sống
của mình, khi người đó chú trọng đến đời sống riêng, nhất là sự hình thành
nhân cách”. Cũng theo Philippe Lejeune, có một “giao ước tự thuật”, xác lập
tính đồng nhất giữa nhân vật - người kể chuyện và tác giả “giao ước tự thuật”,
“đó là sự khẳng định tính đồng nhất này trong văn bản, cuối cùng dẫn tới họ
tên tác giả trên bìa sách” [41;34]
Trong Từ điển lịch sử đề tài và kĩ thuật của các nền văn học, mục từ
Autobiographie (tự thuật) được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở cả hai khía
cạnh rộng, hẹp của khái niệm này: “Theo nghĩa hẹp, tự thuật được xác định
trong thế đối lập với hồi kí và tiểu thuyết. Đó là cuộc đời của một cá nhân do
chính anh ta kể lại, tác giả của nó có thể là một nhà văn hay một người làm
nghề khác Theo nghĩa rộng, tự thuật bao gồm tất cả các văn bản trong đó
người viết thể hiện những trải nghiệm của mình, bất kể anh ta có ý thức về
điều đó hay không. Văn bản đó có thể là các sáng tác văn học, tiểu thuyết,
thơ, khảo luận” [55, 56]
Không dừng lại ở định nghĩa, cuốn Từ điển văn học ( bộ mới) đã có cái
nhìn sâu sắc hơn về khái niệm tự thuật khi đặt trong mối quan hệ với môi
trường nảy sinh và phát triển . Tự thuật được định nghĩa: “Là một thể loại văn
học trong đó tác giả kể chuyện về cuộc đời mình. Nhân vật chính của truyện
chính là tác giả. Tự thuật ở Phương Tây đặc biệt phát triển với sự phát triển
của nội quan (introspection), con người quan sát lương tâm mình Nó có
Yếu tố tự thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Nguyễn Thị Phượng Lớp K56 Cao học Văn học
24
nguồn gốc từ Thiên Chúa Giáo, với thú tội, tự vấn lương tâm. Tự thuật
thường là các câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả,
có thể gần trọn cuộc đời, có thể thời thơ ấu hoặc một thời phiêu lưu. Người kể
chuyện trùng với tác giả và với nhân vật chính” [50; 1905]. Như vậy, tuy
không phải một thể loại mới mẻ, nhưng tự thuật đến thế kỉ XX đã có cả một

“căn bệnh của văn học thế kỉ XX” [11; 68].
Không chỉ dừng lại là thể loại được lựa chọn hàng đầu của các nhà tiểu
thuyết, khái niệm tự thuật và lịch sử tự thuật cũng là vấn đề rất được chú ý
trong nhiều công trình nghiên cứu. Qua thực tiễn phân tích cuốn tiểu thuyết tự
thuật của N. Sarraute, nhà nghiên cứu Lê Hồng Sâm đã định nghĩa về tự thuật
như sau: “Tự thuật là câu chuyện hồi cố bằng văn xuôi mà một người có thật
kể về chính cuộc đời mình Trong thể loại tự thuật, ta thường thấy một tác giả
già dặn nhìn lại đứa bé hoặc người trẻ tuổi từng là mình xưa kia, với thái độ
bâng khuâng, trìu mến, song cũng có khi hài hước như Jean Paul Sartre trong
Chữ nghĩa, hay trang nghiêm như Simon de Beauvoir trong Hồi kí một thiếu
nữ nề nếp” (Theo Lê Hồng Sâm) Thống nhất về cách hiểu tự thuật như trên
trong công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa về Tự thuật và tiểu thuyết ở Pháp
thế kỉ XX, tác giả Đặng Thị Hạnh đã khái lược lại một cách ngắn gọn nhưng
khá tỉ mỉ về những chặng đường phát triển của tự thuật qua các thế kỉ: từ thế
kỉ XVI mở đầu là tập Tiểu luận của Montaigne, đến thế kỉ XVIII, cuốn Tự
bạch của Rousseau được coi như “một đổi mới lớn không chỉ trên bình diện
thẩm mỹ mà còn là cả một cuộc cách mạng sâu sắc trong tôn ti trật tự cái gì
đáng được kể lại, cái gì không, ở thế kỉ XIX, qua cái trữ tình của các nhà thơ
lãng mạn đã bộc lộ nhiều điều riêng tư nhưng vẫn với sự kín đáo thừa hưởng
từ thế kỉ trước như Banlzac, Hugo George Sand viết Câu chuyện đời
tôi nhưng bà đã đánh lừa độc giả đương thời khi bà tự giấu mình sau những
trang viết về người bố, người mẹ, người bà và sau đó là về cuộc đời sáng tác
của bà. Duy chỉ có một mình Chateaubriand, vị tử tước mắc chứng bệnh vĩ
cuồng, là dám viết một tác phẩm được coi như một tự thuật có tên Hồi kí từ
bên kia thế giới nhưng nó chỉ được phép xuất bản sau khi ông mất” [9; 35].
Như vậy, dù cách diễn đạt có đôi chỗ khác nhau nhưng về cơ bản các nhà biên

Trích đoạn Ngôn ngữ đậm chất sinh hoạt đời thường Ngôn ngữ giàu chất thơ Giọng điệu trần thuật Giọng điệu trữ tình, hoài niệm Giọng điệu triết lí, suy tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status