Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ QUẤT NHÂN VẬT NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60 22 32 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÝ HOÀI THU Hà Nội-2013
3

MỤC LỤC


1.2. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
15
1.2.1. Sự thay đổi đề tài sáng tác
15
1.2.2. Sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con ngƣời
27
CHƢƠNG 2: ĐỜI SỐNG VÀ CHÂN DUNG TINH THẦN CỦA
NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
31
2.1. Ngƣời trí thức và nỗi đau thân phận
37
2.1.1. Bi kịch lạc thời, vỡ mộng
39
2.1.2. Bi kịch hôn nhân gia đình
56
2.1.3. Bi kịch tha hóa nhân cách
61
2.2. Ngƣời trí thức và bản lĩnh vƣơn lên chống trả số phận,
khẳng định tài năng nhân cách
69 4
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NGƢỜI

96
3.3.1.1. Không gian phòng riêng
96
3.3.1.2. Không gian phòng họp
98
3.3.2. Thể hiện trong thời gian
100
3.4. Thể hiện qua góc nhìn của các nhân vật khác
101
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
108 5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn tiên phong trong thời kỳ
văn học đổi mới. Ngƣời ta quan tâm đến ông không chỉ vì ông là một cây bút
có bút lực dồi dào mà còn thấy ở ông những ý tƣởng mới mẻ, táo bạo và khá
sâu sắc trong việc khám phá, lí giải con ngƣời và cuộc sống. Đóng góp ấy của
ông cùng với một số nhà văn đƣơng thời đang làm nên một diện mạo mới cho
nền văn học Việt Nam đƣơng đại.
Đọc tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy, kiểu nhân vật
đƣợc nhà văn quan tâm và thể hiện nhiều nhất là nhân vật ngƣời trí thức. Kiểu
nhân vật này xuất hiện trong tất cả các sáng tác của ông và gây nên một xúc
cảm mạnh mẽ trong lòng độc giả. Hình ảnh ngƣời trí thức trong tiểu thuyết
của Ma Văn Kháng khiến chúng tôi hình dung đến cuộc sống và diện mạo

19/4/1983, tác giả Trần Đăng Xuyền đã đƣa ra nhận xét khái quát về tác phẩm
“Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ ở chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà
chủ yếu là đã xây dựng đƣợc cách nhìn, thái độ đúng đắn trƣớc những cái xấu,
những cái ngáng trở bƣớc đi lên chủ nghĩa xã hội”. Tác giả Trần Cƣơng trong
bài “Đọc Mưa mùa hạ” đăng trên Tạp chí Văn học số 5/1992 đã đƣa ra nhận
xét “Mưa mùa hạ đã ghi dấu ấn khó quên trong lòng độc giả về một giai đoạn
lịch sử nhất định. Đó là thời kỳ hiện tại chúng ta đang sống, thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội với những cuộc đấu tranh tuy không có súng gƣơm
nhƣng rõ ràng là căng thẳng và quyết liệt”. Nhà văn Tô Hoài trong bài viết
“Đọc Mưa mùa hạ” trên báo Văn nghệ số 154 ra tháng 9 năm 1983 đã khẳng
định: “Mưa mùa hạ là toàn cảnh xã hội hiện nay thu nhỏ lại mà vẫn đầy đủ
màu sắc thật chính xác và phong phú… Ở Mưa mùa hạ, Ma Văn Kháng
chứng tỏ tài năng thể hiện đƣợc những chi tiết độc đáo trong miêu tả ngƣời,
quang cảnh và nội tâm”… Tuy nhiên, cuốn sách cũng đề lại không ít băn
khoăn đối với giới phê bình vì kết thúc tác phẩm, tác giả lại để hai nhân vật trí 7
thức, hai nhân vật tích cực là Nam và Trọng, một chết vì bệnh, một ngƣời
chết trong công cuộc cứu đê.
Sau Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (1985) là tác phẩm nhận
đƣợc sự quan tâm đặc biệt của độc giả, nó “là cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất
của Nhà xuất bản phụ nữ từ xƣa đến nay”. Trong những ý kiến nhận xét đánh
giá về Mùa lá rụng trong vườn có một số ý kiến đáng lƣu tâm. Tác giả Trần
Đăng Xuyền trong bài “Phải chăm lo cho tất cả mọi ngƣời” trên báo Văn nghệ
số 40 ra ngày 5/10/1985 nhấn mạnh “Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn
Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá con ngƣời trong thời
kỳ khó khăn phức tạp hiện nay”. Trong bài viết “Bàn thêm về Mùa lá rụng
trong vườn”. Nguyễn Văn Lƣu trên báo Văn nghệ số 25 ra ngày 21/6/1986 đã
nhận xét: “Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tìm câu trả lời trong sự khám

dân số ra ngày 4/8/1990, tác giả Lê Thành Nghị trong bài “Về ngƣời trí thức
trong Đám cưới không có giấy giá thú” đã nói đến sự lung lay niềm tin của
một số trí thức khi phải đối diện với bất công, cảnh báo về sự tha hóa nhân
cách của một bộ phận trong đội ngũ những ngƣời trí thức. Tác giả Phong Thu
trong bài “Tâm sự với tác giả Đám cưới không có giấy giá thú” đăng trên báo
Hà nội chủ nhật số ra ngày 6/5/1990 cũng có những đánh giá cao về nhân vật
trí thức trong tác phẩm và chỉ ra những lực cản ngăn trở ngƣời trí thức cống
hiến tài năng cho xã hội. Tác giả Đào Thanh Tùng trong bài “Đám cưới không
có giấy giá thú - một cách nhìn nhận về ngƣời thầy” đăng trên báo Giáo viên
nhân dân, số 16 ra ngày 18/4/1990 lại bày tỏ cách nhìn lo ngại trƣớc cái nhìn
méo mó về ngƣời trí thức trong tác phẩm…
Đến năm 1999, Ma Văn Kháng tiếp tục gây chú ý đối với dƣ luận bởi
cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ. Hồ Anh Thái nhận xét “cảm hứng phê
phán mỗi ngày mạnh hơn cảm hứng trữ tình… Dƣờng nhƣ tập hợp đầy đủ
mọi thói tật nhỏ nhen đố kỵ, mọi mƣu chƣớc công chức hành chính ở đây”.
Nguyễn Ngọc Thiện khi bàn về tác phẩm này trong cuốn sách “Tài năng và
bản lĩnh nghệ sĩ” (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2000) có ý kiến: “Tƣ tƣởng của
Ma Văn Kháng ánh lên các sắc thái thẩm mĩ khác nhau: cái lý tƣởng, cái cao
cả đi bên cạnh những cái đê tiện, thấp hèn, cái bi tráng, trữ tình, thăng hoa 9
ngẫu hứng đan xen với cái hài hƣớc thô kệch, dung tục, sắp đặt lộ liễu. Giọng
điệu và mạch văn cũng đƣợc biến hóa linh hoạt… Tác phẩm đạt đến trình độ
điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại”. Cuốn sách sau khi
ra đời đã đƣợc dịch sang tiếng Anh, tiếng Thụy Điển và đã nhận đƣợc những
ý kiến đánh giá ban đầu, đáng chú ý là ý kiến của Wayne Karlin – nhà văn
Mỹ. Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản tiếng Anh, in tại nhà xuất bản
Curbstone Pess, 2000), Wayne Karlin đã đánh giá thành công lớn nhất của
tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ là đặt ra một trong những vấn đề cơ bản mà

trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng” của Bùi Lan Hƣơng, “Tiểu thuyết thế
sự đời tƣ của Ma Văn Kháng” của Nguyễn Thị Hoa, “Tiểu thuyết Ma Văn
Kháng thời kỳ đổi mới” của Lê Minh Chung ….
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng, chúng tôi nhận thấy nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng chƣa đƣợc nghiên cứu sâu nhƣng đã đƣợc đề cập đến ít nhiều.
Trên cơ sở những gợi ý bƣớc đầu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi đi vào
nghiên cứu một cách toàn diện về nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết
của Ma Văn Kháng. Hi vọng việc làm của mình sẽ góp phần nhỏ bé vào việc
nghiên cứu một kiểu loại nhân vật trong văn học hiện đại, góp phần vào việc
khẳng định tài năng và những đóng góp của Ma Văn Kháng cho nền văn học
hiện đại và đƣơng đại Việt Nam.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu :
- Làm nổi bật chân dung tinh thần của ngƣời trí thức trong tiểu thuyết
của Ma Văn Kháng trong mối tƣơng quan với các nhân vật trí thức trong giai
đoạn văn học trƣớc và cùng thời.
- Khái quát đƣợc nhƣng nét cơ bản về nghệ thuật thể hiện nhân vật
ngƣời trí thức của Ma Văn Kháng.
- Ý nghĩa của nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng: thể hiện cái nhìn phản tƣ về đời sống và những đổi mới tƣ duy nghệ
thuật của nhà văn. 11
3.2. Đối tượng nghiên cứu :
Nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu về nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng, chúng tôi chọn và khảo sát bốn tiểu thuyết:

dụng các lí thuyết về tự sự học, loại hình học, thi pháp học để soi chiếu nhân
vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên phƣơng diện lí thuyết.
Đồng thời sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nhƣ:
- Phương pháp loại hình:Áp dụng để nghiên cứu nhân vật trí thức trong
tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên phƣơng diện loại hình nhân vật trí thức.
- Phương pháp xã hội học: Áp dụng để nghiên cứu về sự ra đời của
nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh xã hội
và văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Phương pháp nghiên cứu nhân vật văn học: Áp dụng để nghiên cứu
nhân vật ở góc độ nhận thức đời sống của nhà văn, trong chỉnh thể thống nhất
và trên quan điểm lịch sử phát sinh.
- Phương pháp so sánh: Áp dụng trong việc làm nổi bật đặc điểm của
nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng với nhân vật trí thức đã
từng xuất hiện trong văn học giai đoạn văn học trƣớc cách mạng, văn học thời
kỳ kháng chiến và nhân vật trí thức trong sáng tác của các tác giả khác trong
thời kỳ văn học đổi mới.
- Phương pháp tiểu sử: Áp dụng vào việc nghiên cứu nhân vật trí thức
trong tiểu thuyết của Ma Văn kháng với chính cuộc đời và sự trải nghiệm của
nhà văn
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Áp dụng khi nghiên cứu nhân vật
trí thức trên phƣơng diện nghệ thuật thể hiện nhân vật.
13
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chƣơng:
- Chƣơng 1: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh văn học
thời kỳ đổi mới.

nƣớc ta vẫn là một nƣớc nghèo nàn kém phát triển, đời sống nhân dân rất
thấp, nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống nảy sinh. Làm thế nào để có một
nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa tiên tiến để có thể hội nhập với thế
giới đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra nhƣ một yêu cầu
tất yếu của lịch sử. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nghiêm túc phê
phán, đại hội đã chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển, trên cơ
sở đó, đồng chí tổng bí thƣ Nguyễn Văn Linh đã có những chủ trƣơng đổi
mới mang tính đột phá. Ông kêu gọi “đổi mới tƣ duy” và thực hiện “những
việc cần làm ngay” để đổi mới trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa.
Trong quá trình từng bƣớc đổi mới, chúng ta dần dần đạt đƣợc những
mục tiêu lớn với một nền chính trị ổn định, kinh tế ngày một phát triển, đời
sống ngƣời dân đƣợc nâng cao một cách rõ rệt, văn hóa ngày càng phát triển
gần gũi với các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đã đạt đƣợc thì trong thực tế phát triển đã nảy sinh không ít những
vấn đề phải quan tâm. Nếu nhƣ ở thời kỳ mƣời năm áp dụng chế độ quản lý
tập trung bao cấp làm nảy sinh thói quan liêu trong giới lãnh đạo, bệnh thành
tích, bệnh ăn cắp của công rút ruột công trình, cách nhìn lý lịch để đánh giá
con ngƣời, lề lối làm việc máy móc thì đến thời kỳ cải cách mở đó là lối sống
thực dụng, cơ hội, chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài, sự tiếp thu tràn
lan những cái phản văn hóa… trở thành vấn đề đáng lo ngại. 15
Hiện thực cuộc sống thời kỳ đổi mới với rất nhiều những vấn đề phức
tạp bề bộn của nó đã và đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho văn học khai
thác và làm nên những thành tựu mới.
1.1.2. Toàn cảnh văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới:
Văn học Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh có thể tạm thời chia làm hai
giai đoạn: 1975-1985, 1986 đến nay.

phƣơng Tây đã đem đến cho cả ngƣời đọc, ngƣời sáng tác và ngƣời nghiên
cứu những góc nhìn mới hơn về nghệ thuật. Các nhà văn đã từng sáng tác ở
giai đoạn trƣớc nhận ra rằng nếu viết nhƣ cũ họ sẽ dần dần đánh mất độc giả.
Vì vậy, đổi mới là nhu cầu cấp thiết lúc này.
Giai đoạn từ 1986 đến nay là giai đoạn văn học chính thức bƣớc vào
chặng đƣờng đổi mới (nó diễn ra đồng thời với sự đổi mới trên các lĩnh vực
nghệ thuật khác nhƣ hội họa, âm nhạc, sân khấu điện ảnh…). Văn học dịch
vẫn phát triển nhƣng hoạt động lý luận phê bình lại vƣợt lên phía trƣớc giữ
vai trò là nhân tố mở đƣờng cho văn học phát triển. Từ đó, hoạt động lý luận
phê bình và hoạt động sáng tác của các nhà văn nhà thơ giữ vị trí quan trọng
nhất trong công cuộc đổi mới văn học. Nghị quyết 05 về phê bình văn học của
Bộ Chính trị đƣợc giới văn nghệ sĩ đón nhận một cách vô cùng nồng nhiệt.
Trên tờ Văn nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn việt Nam (số 49-50, ra
ngày 05/12/1987), Nguyễn Minh Châu đã cho in bài phát biểu nổi tiếng Hãy
đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Bài báo là tuyên ngôn
lý thuyết thể hiện tinh thần đổi mới văn học một cách hết sức triệt để của giới
sáng tác. Những vấn đề tƣởng nhƣ đã cũ nay cũng đƣợc giới phê bình đem ra
bàn bạc với tinh thần đổi mới.
Do vấn đề đổi mới tƣ duy, phƣơng châm nhìn thẳng vào sự thật đƣợc
coi trọng, phóng sự có điều kiện phát triển mạnh mẽ và thu hút đƣợc sự chú ý
của độc giả. Các cây bút phóng sự đƣợc dƣ luận quan tâm lúc này là Phùng
Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Các, Trần Khắc, Hoàng Minh 17
Tƣờng… Văn xuôi có nhiều khởi sắc với với những tác phẩm đạt giá trị nghệ
thuật cao nhƣ tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn
Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng, Bến không chồng của Dƣơng
Hƣớng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Thơ ca cũng có nhiều bƣớc đột

lại ở một “vùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu”.
Pháp vào, Nhật chiếm, Nhật rút, Quốc dân đảng vào, Quốc dân đảng thua,
chính quyền nhân dân thành lập. Trong tác phẩm này, nhà văn không chỉ
thành công với việc xây dựng hình tƣợng oai hùng của những ngƣời cách
mạng đi tiên phong mà còn rất thành công trong việc tái hiện cuộc sống của
nhân dân Mèo thời kỳ bị bao bọc trong bóng tối.
Vùng biên ải (sáng tác trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 1980)
viết về cuộc cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp của ngƣời dân vùng đất
Lao Kay. Tuy mang một tên khác nhƣng ngƣời đọc vẫn nhận ra nó chính là
tập 2 của Đồng bạc trắng hoa xòe. Các nhân vật đã từng xuất hiện trong Đồng
bạc trắng hoa xòe lại tiếp tục xuất hiện ở đây, tiếp tục đời sống của họ và có
những lúc va chạm nhau nẩy lửa. Tác phẩm tiếp nối các sự kiện xảy ra trong
Đồng bạc trắng hoa xòe. Sau khi bọn Quốc dân Đảng bị đánh bại, chính
quyền nhân dân đƣợc thành lập thì cũng là lúc Pháp tăng cƣờng đƣa quân đến.
Thổ ty phản bội cách mạng đi theo Pháp. Chúng lợi dụng sự nhẹ dạ và mê tín
của nhân dân và những sai lầm do sự non nớt trong lãnh đạo của một số cán
bộ cách mạng để gây tâm lý thù địch và kích động nhân dân làm loạn chống
lại cách mạng. Thổ phỉ nổi lên ở khắp nơi nhiều lúc không kiểm soát đƣợc.
Những ngƣời cách mạng phải rút kinh nghiệm, thay đổi phƣơng pháp làm
việc, lấy lại niềm tin trong dân chúng. Kết thúc tác phẩm, ngƣời Mèo đã hiểu
về ngƣời cách mạng, một số ngƣời trở thành thổ phỉ đã thức tỉnh quay về với
cuộc sống đời thƣờng, những kẻ ngoan cố bị tiêu diệt, cuộc sống bình yên trở
lại với ngƣời Mèo vùng biên ải. 19
Không chỉ nói về cách mạng, về công cuộc diệt trừ Quốc dân đảng và
tiễu phỉ, Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải còn có nhiều trang viết thú
vị về thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của ngƣời Mèo. Đọc hai tiểu thuyết này,
chúng tôi cũng có thêm những thông tin khá thú vị về phong tục tập quán của

sự là những ngƣời đồng chí hƣớng. Và việc họ đến với cách mạng là một tất
yếu. Đan xen trong câu chuyện làm cách mạng, Ma Văn Kháng cũng miêu tả
một cách khá chân thực quang cảnh của Hà Nội những ngày đầu của kháng
chiến chống Pháp, lúc nhƣ thanh bình, lúc nhƣ sôi sục, vừa mang vẻ sầm uất,
vừa nghèo nàn. Có đoạn ông cũng dành nhiều tâm huyết để nói về món phở
nhƣ là thanh khí của ngƣời Hà Nội.
Đến những năm 1980- 1981, cùng với sự vận động chung của dòng văn
học, nhà văn hƣớng tới một đề tài mới lạ hơn đó là đề tài phòng chống lũ lụt
xây dựng cuộc sống mới. Tác phẩm tiêu biểu cho đề tài này là Mưa mùa hạ .
Trong tiểu thuyết, nhà văn đi vào thể hiện những con ngƣời mới trong công
cuộc phòng chống bão lũ. Nhân vật chính của tiểu thuyết là kỹ sƣ Trọng, một
con ngƣời có tài năng và có tâm huyết với nghề. Anh đã làm việc rất hăng
say, anh chỉ mong muốn bằng những nghiên cứu mới của mình, con đê đảm
bảo an toàn hơn và cảnh lũ lụt thƣơng tâm không xảy ra với những con ngƣời
vô tội. Nhƣng cuộc sống vốn không đơn giản, bên cạnh những con ngƣời tài
năng tâm huyết vẫn tồn tại những con ngƣời mƣu mô, cơ hội, tìm cách rút
ruột công trình và trù dập những ngƣời có tài có đức. Trọng bị Hƣng dùng
quyền lực để trù dập. Tuy nhiên với bản lĩnh của ngƣời trí thức, Trọng đã
vƣợt lên hoàn cảnh để cống hiến. Việc anh hy sinh trong công cuộc cứu đê đã
nêu cao một tấm gƣơng dám hi sinh vì sự bình yên của cuộc sống. Trong tác
phẩm này, xen vào giữa bức tranh lao động ngƣời nông dân Nguyên Lộc
phòng chống bão lũ, ta còn thấy hiển hiện lên trƣớc mắt sự bề bộn phức tạp
của cuộc sống thị thành. Buôn gian lừa lọc một thời đã làm cho những con
ngƣời làm ăn phi pháp nhƣ Thƣởng trở nên giàu có. Đồng tiền đã khuấy đảo
sự yên tĩnh của các ngõ nhỏ trong phố, làm nảy sinh thói hám lợi mà quên
mất nghĩa tình nhƣ trƣờng hợp mẹ con cô Loan khiến ngƣời đọc không khỏi
băn khoăn. 21


22
sẽ không bao giờ bị mất đi trong gia đình Việt Nam. Nhà văn thể hiện niềm
tin đó qua nhân vật Luận, Phƣợng và chị Hoài.
Sáu năm sau khi Mùa lá rụng trong vườn hoàn thành, Ma Văn Kháng
tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết mới: Côi cút giữa cảnh đời. Côi cút giữa
cảnh đời là tiểu thuyết viết cho lứa tuổi thiếu niên nhƣng vấn đề đặt ra trong
đó thì lại khiến ngƣời lớn phải suy nghĩ, đó là vấn đề thân phận con ngƣời
nhỏ bé trong xã hội. Nhân vật ngƣời kể chuyện là một cậu bé mƣời lăm tuổi
tên là Lã Văn Duy. Mẹ Duy là công nhân, bố Duy là bộ đội chiến đấu trên
chiến trƣờng Cam-pu-chia nhƣng tự nhiên bị mất liên lạc. Mẹ Duy phần vì
không chịu nổi cảnh cô đơn, phần vì tin lời thầy bói (nói là bố Duy đã chết)
đã bỏ mẹ già và con nhỏ năm tuổi để đi theo gã lái xe giàu có. Phúc bất trùng
lai, họa vô đơn chí, tai họa liên tiếp giáng xuống đầu hai bà cháu. Đầu tiên là
việc trƣởng phòng Hứng ở cơ quan nơi mẹ Duy làm việc đã mƣợn danh nghĩa
cơ quan đến chiếm nhà, chỉ để lại cho hai bà cháu chỗ đủ kê một chiếc
giƣờng, tiếp đó là cô Quỳnh mang đứa con gái đỏ hỏn về trao cho bà để đi
làm lại cuộc đời sau một cuộc tình lầm lỡ. Với bản lĩnh, nghị lực phi thƣờng,
bà nội Duy đã vƣợt qua bao nhiêu bƣớc đƣờng khó khăn, bao sự xỉ nhục của
những kẻ có tiền có quyền xung quanh để nuôi hai cháu khôn lớn. Trong tác
phẩm này, Ma Văn Kháng đã mạnh dạn nói tới một góc khuất trong xã hội
hiện đại. Chức quyền vốn không có lỗi, nhƣng khi nó rơi vào tay những kẻ bất
lƣơng thì hậu quả của nó thật khó lƣờng. Đồng tiền cũng vậy, khi ở trong tay
của những ngƣời tốt thì nó phát huy đƣợc hết sức mạnh của nó, nhƣng khi nó
đƣợc làm ra từ những việc làm phi pháp và rơi vào tay những kẻ coi đồng tiền
là trên hết thì sức phá hoại của nó cũng thật kinh khủng. Tệ hại hơn nữa, đồng
tiền và quyền lực còn có tác động tiêu cực đến nhận thức của trẻ nhỏ, việc
thằng Kim Phú mƣợn chức vụ của bố để nạt nộ các bạn, bắt các bạn phải nộp
tiền khi muốn thăng cấp bậc là ví dụ cụ thể.
Với mạch cảm hứng dạt dào về thân phận con ngƣời và cuộc sống hiện

ông là Đi trên con đường lớn thì không có một sức mạnh trần thế nào có thể
chống lại được [20. tr.216]. Ông cũng tự tin mà tổng kết quy luật cuộc đời
Cuộc sống cũng như kinh tế chính trị, tự nó mở đường đi [20, tr. 215]. Bạn bè 24
tâm giao với ông có phó tiến sĩ kinh tế, triết gia, nhà báo. Họ thƣờng gặp gỡ
trao đổi với nhau về các vấn đề kinh tế chính trị xã hội trong nƣớc và quốc tế.
Ông là con ngƣời đầy nhiệt huyết, rất thật tâm, một con ngƣời có tài trên
nhiều phƣơng diện nhƣng lại bị một số kẻ xấu cấu kết hãm hại vu cho tội có
vấn đề về tƣ tƣởng chính trị và đẩy vào tù. Tất nhiên sau bảy năm không đủ
chứng cứ, ông đƣợc tại ngoại nhƣng cuộc sống đã khác xƣa rất nhiều. Vợ ông
phải chịu quá nhiều giày vò xỉ nhục đã phát bệnh, tƣơng lai của các con ông
thay đổi rẽ sang một hƣớng khác. Điều đáng buồn là trong nhà tù, ông đã gặp
một số con ngƣời tầm cỡ và có nỗi niềm tƣơng tự nhƣ ông. Thì ra, nhà tù
không chỉ là nơi giam giữ những kẻ đạo trích gian hùng hiện đại mà Thế giới
nhà tù, nhìn từ một phương diện nào đó, buồn thay, lại là nơi giam hãm
không ít những danh tài đặc sắc. Đó là những con người thuộc số ít hoặc là
họ không có kích thước phù hợp với đương đại, hoặc sự độc đáo của họ tới
mức họ trở thành những hiện tượng bất hợp lý. Cũng có khi là một rủi ro, một
ngẫu sự và cái bất thường trong đời sống, chứ không phải là sự trừng phạt có
tính quy luật mà họ bị cưỡng chế ở đây [20, tr.227]. Ở đây có bác sĩ giỏi lỡ
gây tử vong cho người. Có anh lái xe chiến sĩ thi đua toàn quốc sơ ý bị kẻ
gian cướp mất tài sản trị giá hàng trăm triệu. Có kỹ sư giám đốc như ông. Có
nhà báo có tài . Nhà giam tỉnh nhỏ chật hẹp như đầu óc thủ cựu của các nhà
chức trách cấp tỉnh [20, tr.228].
Đến Trăng non và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn sáng tác trong khoảng thời
gian từ năm 1992 đến năm 2000, đề tài miền núi lại trở lại trong sáng tác của
Ma Văn Kháng. Trăng non tái hiện lại cuộc sống lao động xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở vùng núi Lao Cai trong giai đoạn ở miền Nam cuộc kháng

nhân đổ vỡ. May thay, giữa dòng nƣớc xiết của cuộc đời anh đã tìm đƣợc
Hoan, một ngƣời tình trong sáng một ngƣời tri âm tri kỷ của anh. Từ vấn đề
của Khiêm, nhà văn dƣờng nhƣ muốn đặt ra câu hỏi: Cần làm gì để có thể
sống và khẳng định mình giữa thói đời ô trọc ?
Tiếp tục dòng cảm hứng về vẻ đẹp kiêu hùng của con ngƣời giữa cuộc
đời còn nhiều gian truân và ngang trái, đến năm 2009, cuốn tiểu thuyết Một
mình một ngựa ra đời. Dƣờng nhƣ ở đây, ta bắt gặp lại của Lê Chính trong

Trích đoạn Không gian phòng riêng: Không gian phòng họp: Thể hiện trong thời gian: Thể hiện qua góc nhìn của nhân vật khá c: Trong số các nhà văn tiêu biểu nhất ở thời kỳ đổi mới, Ma Văn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status