BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
____________________________
DƯƠNG THỊ SÁU
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(Qua Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ,
Một mình một ngựa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS. TS Lý Hoài Thu, người đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn để em có thể
hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc khoa Ngữ văn,
Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian học tập vừa qua.
Do điều kiện và trình độ nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏi
những khiếm khuyết, kính mong thầy cô và bạn đọc lượng thứ và đóng góp
thêm ý kiến.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Dương Thị Sáu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng thời kỳ đổi mới” do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.
Lý Hoài Thu. Đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, các thông tin trích dẫn trong
luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
6. Dự kiến đóng góp mới 7
7. Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG……… …… 9
1.1. Khái lược về nhân vật 9
1.1.1. Nhân vật văn học 9
1.1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học 9
1.1.1.2. Đặc điểm nhân vật văn học 10
1.1.1.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm văn học 11
1.1.2. Nhân vật tiểu thuyết 12
1.1.2.1. Khái niệm nhân vật tiểu thuyết 12
1.1.2.2. Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết 13
1.1.2.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật trong tiểu thuyết 14
1.1.2.4. Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới 14
1.2. Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng 16
1.2.1. Con đường từ nhà giáo trở thành nhà văn 16
1.2.2. Quan niệm về con người của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 19
1.2.3. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong dòng chảy của tiểu thuyết thời kỳ
đổi mới 23
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI……………………………28
2.1. Nhân vật người trí thức 28
2.1.1. Nhân vật người trí thức có tài, có tâm nhưng rơi vào bi kịch 28
2.1.2. Nhân vật người trí thức tha hóa 39
2.2. Nhân vật người phụ nữ 44
2.2.1. Nhân vật người phụ nữ mang nét đẹp truyền thống 44
2.2.2. Nhân vật người phụ nữ sống theo ham muốn vật chất, bản năng. 49
2.3. Các loại nhân vật khác 52
2.3.1. Các nhân vật quan chức 52
các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa làm cho nổi
bật hơn. Nhân vật văn học là yếu tố có tính chất trung gian, vừa thuộc nội
dung vừa thuộc hình thức của tác phẩm. Nó đóng vai trò quan trọng không thể
thiếu trong sáng tác văn chương, bởi nhân vật là phương tiện cơ bản nhất để
qua đó nhà văn miêu tả thế giới một cách hình tượng. Như thế, việc chiếm
lĩnh các giá trị của tác phẩm sẽ khó có thể thực hiện được nếu không tìm hiểu
các phương diện của nhân vật. Ở thể loại tiểu thuyết, hệ thống nhân vật đóng
một vai trò trọng yếu trong việc thể hiện tư tưởng, thẩm mĩ của nhà văn. Mỗi
nhà văn có quan niệm riêng, chọn những điểm nhìn riêng, do vậy cũng có
những cách thể hiện nhân vật mang những nét riêng.
1.2. Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn có công mở đường cho
sự nghiệp đổi mới văn học. Vào những năm đầu 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng
tác của Ma Văn Kháng đã “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, từ đó tạo
nên những cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học. Hành trình sáng
tác hơn 50 năm của nhà văn đã cho ra đời hơn 200 truyện ngắn, 15 tiểu
thuyết, 1 hồi ký văn chương, 1 tiểu luận và bút kí về nghề văn. Trong đó,
nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng trong nước, quốc tế như: truyện ngắn Xa phủ
đoạt giải nhì trong cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ 1967 - 1968, Mùa
lá rụng trong vườn được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984, tập truyện ngắn
Trăng soi sân nhỏ đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1995 và giải
thưởng văn học Đông Nam Á 1998, giải cây bút vàng cho truyện San Cha
Chải trong cuộc thi truyện ngắn và ký 1996 -1998 do Bộ Công an và Hội Nhà
văn Việt Nam tổ chức. Năm 2001, Ma Văn Kháng vinh dự được nhận giải
2
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với cụm tác phẩm: Đồng bạc trắng
hoa xòe, Mùa lá rụng trong vườn. Với những thành tựu đạt được, Ma Văn
Kháng đã khẳng định tên tuổi và chỗ đứng của mình trong nền văn xuôi Việt
Nam hiện đại.
1.3. Một trong những đóng góp quan trọng, nổi bật của Ma Văn Kháng
của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu như: giáo sư Phong Lê, Lã Nguyên,
Tô Hoài, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Bích Thu, đã
được đăng tải trên nhiều sách báo và tạp chí. Các đánh giá đa phần dừng lại ở
dạng riêng lẻ nhưng đã khẳng định giá trị đích thực cũng như những mặt còn
hạn chế về phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Dưới đây là
một số nhận định tiêu biểu:
Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Đồng bạc
trắng hoa xòe, Trần Đăng Suyền cho rằng: “Đồng bạc trắng hoa xòe có
những nhân vật được Ma Văn Kháng xây dựng khá công phu bằng hình
tượng nghệ thuật, Ma Văn Kháng đã chứng minh rằng đồng bào dân tộc ít
người chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm mống cách mạng”
[53, tr. 12 - 13].
Khắc phục những phiến diện trong quan niệm về con người trong văn
học giai đoạn trước, Nguyễn Thị Huệ cũng đã nhận ra nhiều kiểu loại nhân vật
trong sáng tác của Ma Văn Kháng: “Phong phú hơn, đa dạng hơn, phức tạp
hơn, không chỉ có công nông binh mà còn có tầng lớp thị dân, đặc biệt là
nhân vật trí thức đã như một ám ảnh không nguôi, một trăn trở day dứt, một
ma lực có sức hút lớn đối với ngòi bút Ma Văn Kháng” [20]. Không chỉ đánh
giá cao những con người có đời sống nội tâm phong phú phức tạp, Ma Văn
Kháng còn thể hiện thành công loại người thô sơ đơn giản, “nhìn nhận cái tốt
cái xấu theo sơ đồ sẵn có, khuôn mẫu và giản đơn” [20].
Mùa lá rụng trong vườn được coi là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự
chuyển biến của nhà văn vì tác phẩm có nhiều đóng góp cả về nội dung và
4
nghệ thuật, đã chứng tỏ sự thâm nhập của nhà văn vào xã hội thành thị đang
biến động. Trần Đăng Suyền khẳng định về cái làm nên sức hấp dẫn trong tác
phẩm: “không phải ở những trang chính luận thông minh sắc sảo mà chủ yếu
là ở những hình tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn của anh” [54]. Đặc biệt
Ma Văn Kháng tỏ ra là người rất am hiểu phụ nữ, có khả năng “đi guốc” vào
trong tiểu thuyết Một mình một ngựa (đăng trên www.phongdiep.net ngày
28/7/2009) nhận xét về nhân vật trong cuốn tiểu thuyết: “Sức nặng ở nhân vật
Quyết Định không chỉ ở hình tượng một mình một ngựa oai hùng, dũng mãnh
mà còn nằm ở những đoạn độc thoại, dòng ý thức với những tâm sự sâu kín
của ông”,“Một mình một ngựa cũng có những tuyến nhân vật “kỳ hình dị
tướng”, “trông mặt mà bắt hình dong”, người có tâm địa xấu thì lộ ra tướng
hình như Văn Hiến, Quàn”. Tác giả cũng chỉ ra hạn chế của tác phẩm: “Tuy
nhiên, tác phẩm sẽ thành công hơn nếu khai thác hết chiều sâu ở nhân vật,
chẳng hạn nhân vật Yên, từ sự xuất hiện khá ấn tượng ở đầu truyện, có thể
khám phá thế giới tâm hồn của nhân vật đầy sức sống này nhiều hơn nữa. Đôi
chỗ còn sa đà vào dẫn giải dài dòng khiến cho tác phẩm nghiêng về tính luận
đề, lộ ý tưởng”.
Trong bài giới thiệu về tác phẩm, nhà phê bình Hoài Nam chú ý nhiều
đến yếu tố tự truyện của tác phẩm, trong đó người kể chuyện là hàm ẩn, kể
theo điểm nhìn của nhân vật Toàn, đặc biệt nhà văn khéo léo di chuyển điểm
nhìn vào các nhân vật khác: “Di chuyển điểm nhìn vào từng nhân vật khiến sự
trần thuật trở nên phức hợp, đa tuyến, cuốn tiểu thuyết đã đi sâu vào thế giới
bên trong con người, mở rộng nhận thức hiện thực đồng thời tạo nên sự đa
nghĩa, nhiều tầng của tác phẩm”. Tác giả nhấn mạnh: “Một mình một ngựa
không có nhiều đột phá, cách tân trong nghệ thuật tự sự nhưng hấp dẫn ở
cách kể chuyện hóm hỉnh, tạo được những điểm nhấn ấn tượng” [42].
Đánh giá về sự vững vàng và kỹ thuật tiểu thuyết của một cây bút văn
xuôi có quá trình và bản lĩnh, Bình Nguyên Trang đã từng nhận xét: “Một
6
mình một ngựa có cấu trúc chặt chẽ, các tuyến nhân vật và các chi tiết được
đan cài vào nhau một cách tài tình, xuyên suốt trong tác phẩm đã tái hiện cái
đẹp và cái hạn chế của một thời đã đi vào quá vãng” [68].
Ngoài ra cũng có một số đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến những
đóng góp của Ma Văn Kháng cho văn xuôi sau 1975 của các tác giả như:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, chúng tôi chỉ đi
sâu vào vấn đề: Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát ba tiểu thuyết của Ma Văn Kháng: Đám cưới không
có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Một mình một ngựa.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ khoa học của đề tài, luận văn vận dụng tổng hợp
một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp loại hình
6. Dự kiến đóng góp mới
Về mặt lí luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về nhân
vật trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng. Từ đó chúng ta thấy
được vai trò, ý nghĩa của nhân vật trong tiểu thuyết và quan niệm, tư tưởng
của tác giả.
Về thực tiễn: Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề
về văn học Việt Nam đương đại nói chung và tác giả Ma Văn Kháng trong
nhà trường.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
8
Chương 1: Khái lược chung về nhân vật tiểu thuyết và hành trình sáng
tác của Ma Văn Kháng
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời
kỳ đổi mới
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
1.1.1. Nhân vật văn học
1.1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học
Đã có khá nhiều những quan điểm khác nhau về nhân vật văn học trong
giới nghiên cứu, phê bình. Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số quan niệm
về nhân vật có trong các từ điển và giáo trình lý luận văn học.
Các tác giả Từ điển văn học (tập 2) cho rằng: “Nhân vật là yếu tố cơ
bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề
và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm
tập trung khắc họa. Nhân vật, do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ
thuật của tác phẩm văn học” [45, tr. 86].
Với cách xác định này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật
từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của
nó với các yếu tố hình thức tác phẩm. Có thể nói đây là một khái niệm tương
đối toàn diện về nhân vật văn học.
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đưa ra một cách
nhìn khác. Nhân vật được ông xem xét trong mối tương quan với cá tính sáng
tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “Nhân vật văn học là một
trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một
khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Nhân vật văn học là hình
tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn
vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ. Bên cạnh con người, nhân vật
văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường
được gán cho những đặc điểm giống con người” [4, tr. 241]. Theo Lại
10
Nguyên Ân, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong
cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học.
Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm về nhân vật có
phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong
tác phẩm văn học chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm”
Mỗi nhân vật văn học thường có một chùm dấu hiệu khu biệt để độc giả
có thể nhận biết rõ ràng. Những dấu hiệu đó là cái tên, đặc điểm diện mạo,
tiểu sử, tính cách, lời nói, hành động, số phận. Nhờ chùm dấu hiệu này mà ta
có thể tính đếm được số lượng nhân vật có trong tác phẩm, đồng thời có thể
tách riêng được từng nhân vật ra để phân tích. Một điều đáng chú ý là những
dấu hiệu để khu biệt các nhân vật này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
xoay chung quanh điểm trung tâm là tính cách.
Thứ ba, nhân vật văn học có những điểm đặc thù, phân biệt nó với các
nhân vật được thể hiện trong một số loại hình nghệ thuật khác như điêu khắc,
hội họa. Văn học là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, nó lấy ngôn từ làm chất
liệu để xây dựng hình tượng. Do đó hình tượng nghệ thuật ngôn từ mang tính
phi vật thể. Xem một bức tranh có nhân vật hoặc bức tượng người, trong giây
lát ta có thể lĩnh hội được tính toàn vẹn của nó, trong khi đó, “chân dung” các
nhân vật trong tác phẩm văn học chỉ được hiện lên dần dần, lần lượt theo trình
tự thời gian đọc. Vì thế, người ta nói rằng nhân vật văn học là loại nhân vật
quá trình. Thêm vào đó, sự hình dung về một nhân vật văn học cụ thể ở từng
bạn đọc là không như nhau. Điều này cho thấy nhân vật văn học có sức tải ý
nghĩa, tư tưởng phong phú hơn các nhân vật trong tác phẩm thuộc nghệ thuật
tạo hình.
1.1.1.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật là hình thức hạt nhân của tác phẩm nghệ thuật. Nó là yếu tố
không thể thiếu trong tác phẩm văn học. Nhân vật không chỉ là “tiêu điểm để
bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi “tập trung các giá trị tư tưởng, nghệ thuật của
tác phẩm”, tức nhân vật giữ vị trí trung tâm của sự thể hiện đời sống trong
tác phẩm.
12
Trước hết, nhân vật là phương tiện miêu tả và khái quát hiện thực.
Thông qua các nhân vật, nhà văn có thể khái quát các tính cách, số phận đa
dạng của con người và các quan niệm về chúng. Nhân vật được coi như một
động, ý nghĩ, tư tưởng, giọng điệu… Nó phong phú như chính cuộc sống.
Trong một chỉnh thể thế giới nghệ thuật tác phẩm, tiểu thuyết có khả năng kể
về nhiều số phận, nhiều con người, đặt ra nhiều vấn đề nhân sinh.
1.1.2.2. Đặc điểm nhân vật tiểu thuyết
Thứ nhất, khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện
ngắn, nhân vật tiểu thuyết là những con người nếm trải, tư duy, chịu nhiều
đau khổ dằn vặt của đời. Nhân vật tiểu thuyết được đặt trong những hoàn
cảnh cụ thể và được miêu tả như một con người đang trưởng thành, biến đổi
và do cuộc đời “dạy bảo”.
Thứ hai, nhân vật tiểu thuyết là chủ yếu được khám phá từ chiều sâu
tâm lí. Và nhân vật tiểu thuyết trong tư cách là một quan điểm, một cách nhìn
thế giới và bản thân được miêu tả thực sự, không hòa lẫn với tác giả, không
trở thành cái loa phát ngôn cho những tư tưởng của tác giả.
Thứ ba, do tiểu thuyết là thể loại nhìn đời sống từ góc độ đời tư, cho
nên nhân vật tiểu thuyết thường là những con người cá nhân. Đó là những con
người tự do trong suy nghĩ, cử chỉ, hành động… (đối lập với con người sử thi:
là những con người được nhìn với thái độ kính cẩn, con người như những
công cụ lịch sử, xã hội; thể hiện ý chí, tư tưởng tập thể, thời đại), thể hiện góc
nhìn của người phản ánh và mang quan điểm sáng tạo cá nhân của chủ thể
phản ánh. Nhân vật gần gũi với tác giả, không có khoảng cách sử thi.
Thứ tư, nhân vật tiểu thuyết thường được khai thác qua nhiều mối quan
hệ để làm bộc lộ tính cách. Hay nói cách khác, tính cách có quan hệ với hoàn
cảnh. Tính cách nhân vật tiểu thuyết có sự phát triển tự thân như trong cuộc
đời thật. Tính cách là mấu chốt đối với nhân vật tiểu thuyết.
14
Những đặc điểm trên đây của nhân vật tiểu thuyết được đúc kết từ thực
tiễn sáng tác tiểu thuyết từ trước đến nay, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về
những sáng tác tiểu thuyết đương đại.
1.1.2.3. Vị trí, ý nghĩa của nhân vật trong tiểu thuyết
trị, được đặt giữa dòng chảy lịch sử và những biến cố của đời sống xã hội.
Đời sống sinh hoạt thế sự, đời tư không được chú ý. Sang thời kỳ đổi mới,
nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam được khai thác ở nhiều khía cạnh, đa
diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lẫn, giao tranh bóng tối
và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm
thường Nhân vật được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi
mối quan hệ: con người xã hội, con người của gia đình, gia tộc, con người với
phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình Nhân
vật cũng được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý
thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng,
khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con
người trong tính nhân loại phổ quát.
Nhân vật có sự phân rã về tính cách như cách nhà văn quan niệm thế
giới là bất định, phi thời gian, không gian, năng động và bất khả đoán. Chân
dung nhân vật chỉ được tìm thấy khi độc giả kết nối những dòng ý thức đứt
đoạn, hỗn độn của nhân vật.
Nhân vật không có tính cách hay số phận điển hình mà chỉ là những
con người vô danh, bình thường trong cuộc sống, có khi không tên tuổi,
nguồn gốc, lai lịch. Nhân vật là đủ mọi thứ hạng trong xã hội.
Nhân vật là những cá thể đời thường, những con người đang trong quá
trình hình thành về nhân cách, được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã
hội, quan hệ ứng xử, thân phận, đời sống riêng của nó, với “đầy những vết
dập xóa trên thân thể và trong tâm hồn” [37, tr. 231].
16
Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết có nhiều cách tân với
những thử nghiệm táo bạo bởi các nhà văn nhận thấy các thủ pháp truyền
thống không còn đủ khả năng biểu hiện cái đa dạng, phức tạp của con người
trong đời sống hiện đại. Thủ pháp dòng ý thức, thủ pháp huyền ảo được sử
dụng phổ biến và ngày càng phát huy tác dụng tối đa ở tiểu thuyết đương đại.
và thành danh với bút hiệu Ma Văn Kháng. Truyện ngắn đầu tay Phố cụt của
ông trình làng bút danh Ma Văn Kháng được đăng trên báo Văn nghệ của Hội
Nhà văn Việt Nam, 3 - 3 - 1961 và được giới văn học, bạn đọc chú ý. Thiên
truyện báo hiệu sự xuất hiện của nhà giáo - nhà văn mới. Tuy nhiên bạn đọc
chỉ thực sự biết đến văn tài của ông khi truyện ngắn Xa Phủ ra đời (1969).
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai về
Hà Nội hoạt động với tư cách là nhà văn chuyên nghiệp. Một giai đoạn sáng
tác mới được mở ra cho nhà văn. Sáng tác của ông nở rộ, bút lực ngày càng tỏ
ra sung sức, đề tài được mở rộng, nhiều chủ đề được khai thác sâu. Ông cho
ra đời hàng loạt tiểu thuyết có giá trị, phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc
miền núi: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1980), Vùng biên ải
(1983) và sau này là Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001). Với những tiểu thuyết này,
Ma Văn Kháng trở thành “nhà văn của núi rừng”.
Từ đầu những năm 80 và nhất là bước vào thời kỳ đổi mới, một loạt
tiểu thuyết như Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám
cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989) lần lượt ra
đời, làm sôi động đời sống văn học, tạo nên những cuộc tranh luận không dễ
nhất trí trên báo chí.
Năm 1999, Ma Văn Kháng xuất bản cuốn tiểu thuyết Ngược dòng
nước lũ. Đó là cuộc lội “ngược dòng” vô cùng gian lao và đầy đau đớn của
con người để chống lại những cái xấu xa, bần tiện, bỉ ổi xuất hiện trong cơ
chế thị trường và giữ lại được cho mình cái trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng nhất.
Năm 2009, cuốn tiểu thuyết mang dáng dấp tự truyện Một mình một
ngựa ra đời. Tiểu thuyết lấy cảm hứng tử niềm say mê trước vẻ đẹp kiêu hùng
18
của con người giữa cuộc đời gian truân, còn nhiều khuyết tật, đầy mặc cảm cô
đơn và dạt dào sức sống mãnh liệt.
Đầu năm 2011, Ma Văn Kháng cho ra mắt tiểu thuyết Bóng đêm, tiếp
sau đó ông đã hoàn thành tiểu thuyết Bến bờ, cả hai hợp thành bộ tiểu thuyết
và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [55, tr. 55].
Trong mỗi giai đoạn văn học, quan niệm nghệ thuật về con người
không chỉ là điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của tác phẩm văn học cụ thể
mà còn cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hoá của văn học.
Ma Văn Kháng là một trong những tác giả tiên phong trong sự nghiệp đổi mới
văn học. Những sáng tác của Ma Văn Kháng trong thời kỳ đổi mới, vì thế,
cũng thể hiện những cách tân sâu sắc của nhà văn trong quan niệm nghệ thuật
về con người. Tựu chung lại, những quan niệm đó là: quan niệm con người cá
nhân lưỡng diện, đa chiều và bí ẩn; quan niệm con người nạn nhân.
Trước hết, chúng tôi đề cập đến quan niệm con người cá nhân lưỡng
diện, đa chiều, luôn tồn tại cả hai mặt tốt và xấu; con người không trùng khít
với chính nó. Ma Văn Kháng cho rằng: “Một con người là một cá thể hữu
hạn nhưng cũng là cái vô hạn, vô cùng”. Trong các sáng tác của ông sau
1975, con người không còn đơn phiến mà lưỡng diện, phong phú và phức tạp,
có hạnh phúc lẫn khổ đau, có cao cả lẫn thấp hèn, bóng tối lẫn ánh sáng. Một
mặt Ma Văn Kháng cho rằng “con người là không hoàn thiện và vốn dĩ nan
cải”, “con người thực chất là những sinh vật vô cùng yếu đuối”, là một sinh
thể luôn luôn lầm lạc, luôn sống trong ranh giới giữa xấu - tốt, đúng - sai, bởi
nó không thoát ra khỏi hoàn cảnh, mà bị chi phối bởi bản mệnh và tính trời.
Mặt khác, ông khẳng định con người cũng lại là một “sinh linh không dễ
buồn nản”. Do vậy, có thể hoàn cảnh làm biến đổi con người, nhưng cũng có
khi con người biết chấp nhận hoàn cảnh, cải tạo và vượt lên trên cảnh ngộ của
mình. Làm chủ hoàn cảnh để tạo cho mình một tâm thế tự chủ thật khó, dẫu
có muốn vùng vẫy thoát ra khỏi những ràng buộc hữu hình và vô hình để làm