Những chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi Mới - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
----------------------- NGUYỄN THỊ THANH MAI

NHỮNG CHUYỂN BIẾNTRONG
TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
THỜI KÌ ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Khoa ngữ văn, Phòng công nghệ sau đại học, Thư viện
Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện về cơ sở vật
chất, tài liệu… cho chúng tôi học tập tốt.
Xin gửi lời cảm ơn tới các quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, cung cấp tài
liệu cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thàn
h, sâu sắc tới thầy hướng dẫn
trực tiếp luận văn của tôi: Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi. Thầy đã tận tình chỉ bảo,
gợi ý, dẫn dắt, cung cấp tài liệu và sửa chữa cho tôi trong suốt quá trình làm đề
tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi có
thể hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, đồng nghiệp Trường THPT Nhơn
Trạch – Đồng Nai đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.
TP. Hồ Chí Minh ngày 28/4/2008

Người viết
MỞ ĐẦU
1. Lý do, mục đích chọn đề tài:
Ma Văn Kháng xuất hiện trong văn học hiện đại Việt Nam như một hiện
tượng đặc sắc. Khối lượng tác phẩm đồ sộ với hàng chục tập truyện ngắn, gần hai
chục cuốn tiểu thuyết có giá trị đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc.

Đám cưới không có giấy giá thú
Ngược dòng nước lũ
3. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử: Xem xé
t sự vận động phát triển của văn học Việt
Nam nói chung, sáng tác của Ma Văn Kháng nói riêng trong dòng chảy ấy. Qua đó
thấy được những đóng góp của nhà văn trong việc đổi mới văn xuôi hiện đại.
Phương pháp hệ thống: Xem xét sáng tác của nhà văn trong tí
nh hệ thống
với nhiều cấp độ khác nhau..
Phương pháp loại hình: Xem xét sáng tác của nhà văn từ góc độ loại hình
thể tài, loại hình văn xuôi nghệ thuật...
Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu tiểu thuyết của Ma Văn K
háng
với tiểu thuyết của một số nhà văn khác như Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu... để chỉ
ra sự tương đồng, khác biệt về một số chi tiết nghệ thuật tiêu biểu của văn học.
Bên cạnh đó là sự so
sánh về nội dung và nghệ thuật ở hai chặng đường sáng tác
của chính tác giả để nhận thấy sự chuyển biến có ý nghĩa đổi mới.
4. Lịch sử vấn đề:

Ma Văn Kháng là một nhà văn có quá trình sáng tác dài và liên tục đã gần
nửa thế kỉ. Số lượng truyện ngắn, tiểu thuyết khá đồ sộ. Đặc biệt, tiểu thuyết của
ông có sự chuyển biến rõ rệt về cả nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, đã có
nhiều những bài nghiên cứu, đánh giá, nhận xét. Lấy mốc chuyển biến trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng là cuốn “M
ùa lá rụng trong vườn”, luận văn sẽ đi vào
khảo sát lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết của Ma Văn Kháng theo hai chặng đường
sáng tác: Trước và sau “Mùa lá rụng trong vườn” đặc biệt là những phát hiện

ho một tác phẩm tương đối đồ sộ. Tác phẩm có ý nghĩa lớn khi nhà
văn đã tái hiện được một giai đoạn lịch sử mà: “Lần đầu tiên được đưa vào trong
tiểu thuyết”[102], đã đốt lên những đốm lửa cách mạng trên vùng núi non trùng
điệp.
Tiểu thuyết (VBA) nối tiếp cuốn (ĐBTHX) được Trần Đăng Suyền đánh
giá là đã thành công trong việc khắc họa tí
nh cách người Hmông và “Ngòi bút
giàu chất thơ của Ma Văn Kháng khi chấm phá những cảnh vật đã vẩy hồn mình
vào đấy khiến cho cảnh vật hiện lên lung linh màu sắc, lộng lẫy rực rỡ, khi vui khi
buồn đều như nhuốm thêm màu sắc tâm trạng của con người ”[77]. Bên cạnh đó nhà văn M
a Văn Kháng đã chứng minh rằng: “Đồng bào các dân tộc ít người mặc
dù bị chìm đắm trong đau khổ, tối tăm nhưng đều có mầm mống, khả năng cách
mạng”[75]. Bằng hình tượng nghệ thuật, Ma Văn Kháng đã diễn tả con đường đến
với cách mạng của người nông dân miền núi như Pao, một chàng trai có nhiều
phẩm chất tốt đẹp, như Seng, Tếnh, A Sinh... Công sức của tác giả cũng không
nhỏ khi t
oàn bộ những biến cố được thể hiện qua gần sáu trăm trang sách ngồn
ngộn những sự kiện, những tư liệu lịch sử.
Với tiểu thuyết (GGƠLPT), mặc dù tác phẩm ra đời ở giai đoạn sau nhưng
cùng với (ĐBTHX) và (VBA) nó được coi là “bộ ba” (Từ dùng của Giáo Sư
Nguyễn Ngọc Thiện)
tiểu thuyết xuất sắc về đề tài miền núi. Giáo Sư Nguyễn
Ngọc Thiện cho rằng tác phẩm là một “Bức tranh đời sống hiện thực mang tính
chất sử thi về con đường của các dân tộc miền núi phía Bắc làm cuộc đổi đời, đi
theo cách mạng và phát huy được phẩm cách của mình...”[96], “tạo thành một
chùm tiểu thuyết độc đáo làm sáng lên bức tranh lịch sử xã hội hào hùng, bi tráng
của một vùng núi phía tây Bắc nước ta trọn một thế kỉ” [96]

Với bề dày kinh nghiệm, sự từng trải chiêm nghiệm cuộc đời một cách sâu
sắc và hòa trong không khí đổi mới của văn học nhà văn đã cho ra đời những tác
phẩm có giá trị cao, tác động mạnh vào con người, xã hội giai đoạn đầy biến động.
Tuy có những sự trùng lặp ở nhiều tác phẩm, những lời triết lý, chiêm nghiệm g
ây
cảm giác nặng nề cho người đọc, những cái kết còn bỏ lửng... nhưng những thành
công đã lấn át tất cả những hạn chế ấy.
Khi thâm nhập vào đề tài về cuộc sống con người thành thị, các nhà nghiên
cứu đã nhận thấy một sự chuyển biến đáng nể phục ở con người này. Bên cạnh
những ý kiến đá
nh, giá nhận xét sự thành công của tác phẩm thì nhiều nhà nghiên
cứu phê bình còn khẳng định Ma Văn Kháng đã có những cách tân lớn góp phần
cho sự phát triển của văn học, thể hiện rõ thái độ và trách nhiệm lương tâm của
một người cầm bút trước những cái xấu trong cuộc sống. Tiêu biểu có Trần Bảo
Hưng, Hồ Anh Thái, Bích Thu, Nguyễn Thị Huệ, Vân Thanh...
Tiểu thuyết đầu tiên trong giai đoạn này là (
MMH). Tác phẩm được Vân
Thanh đánh giá cao vì “Đã thể hiện cách nhìn, thái độ của các nhân vật trước
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Lương tâm, lẽ sống của mỗi người đều bị
thử thách... trước lưới bủa vây của tệ nạn tiêu cực, trong vòng bức bách của vấn
đề cơm áo hàng ngày có khi những quan niệm đạo lý thông thường bị xáo trộn,
gây nên sự hoài nghi, phân vân ở mỗi người”[87]
. Chính vì thế mà từ trong những trang sách vang lên một tiếng giục giã, đánh thức lương tâm, trách nhiệm của mỗi
người: “Bằng bất cứ giá nào cũng phải ngăn chặn kịp thời những tổ mối tiêu cực
đang sinh sôi nảy nở trong đời sống nếu không c
húng sẽ đục ruỗng xã hội và hủy
hoại những giá trị tinh thần vốn đã thành truyền thống của dân tộc”[87]. Điều đó

công kiểu nhân vật có đời sống nội tâm phong phú, tính cách đa chiều, hấp dẫn như Lý: “Hình
tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn. Lý là nhân vật độc đáo hấp
dẫn nhất. Con người này hễ có mặt ở dâu là có khả năng làm cho nơi ấy có không
khí, sinh động hẳn lên”[30]. Những con người ấy chỉ vì dục vọng lại gặp những
nhân tố kích thích nên mới dần bị tha hóa. Vì thế bao trùm toàn tác phẩm là cái
nhìn nhân hậu vị tha của nhà văn.
Sức hấp dẫn của tiểu thuyết nà
y còn ở chỗ: bên cạnh việc làm nổi bật
những nhân vật tha hóa về nhân phẩm thì nhà văn đã đưa ra được “Những hình
ảnh rất đẹp của truyền thống văn hóa và đạo đức dân tộc. Chị Hoài, cô Phượng,
Vân, bà lang Chí... là những tấm lòng trong sáng ngọt ngào, ấm áp, chan chứa
nghĩa tình”[30]. Đồng ý với nhận định này, Trần Cương cho rằng các nhân vật
như chị Hoài, Phượng, Vân... tuy nhà văn dà
nh ít số trang nhưng: “Là những
trang viết cảm động. Nâng niu trân trọng và đồng cảm sâu xa từ trong mỗi việc
làm, mỗi ý nghĩ, mỗi hành vi nho nhỏ ở những nhân vật này, ngòi bút của tác giả
đã tỏ ra tinh tế, làm gia tăng chất nhân văn vốn đã là nền tảng của tác phẩm
này”[11].
Khi tiểu thuyết (ĐCKCGGT) ra đời -1989 một lần nữa tác phẩm của ông lại
được đưa ra để xem xét. Có nhiều sự khe
n chê, đánh giá khác nhau. Báo văn nghệ
đã phải tổ chức một hội thảo riêng về tác phẩm này.
Phải khẳng định rằng Ma văn Kháng đã dũng cảm khi đặt bút lật xới mặt
trái của xã hội trong một môi trường vẫn được xem là trong sạch nhất. Phải chăng
xuất phát từ sự bức xúc của một nhà giáo từng đứng trên bục giảng nay thấy quá
nhiều những cái xấu, sự bất công nên nhà văn đã mạnh dạn lên tiếng phê phán gay
gắt vào nơi vốn đư

về kinh nghiệm sống, phá vỡ các quy ước ta - địch trong văn học trước với một
loạt tác phẩm. Trong đó có nhiều tác phẩm của Ma Văn Kháng. Nhân vật được
trao cho quyền phán xét do đó khó có thể nhận ra đâu là phát ngôn tư tưởng thật sự
của tác giả trong tác phẩm
. Bà cho rằng: “Kiểu nhân vật trí thức xuất hiện nhiều
trong giai đoạn này có lẽ do họ như là thước đo của dân trí và văn hóa, là nơi gửi
gắm thích hợp nhất cho sự tự ý thức”[4]. Xét những trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng thì loại nhân vật này chiếm số đông nhưng bên cạnh những trí thức thật sự
là những trí thức giả danh, trí thức dởm
gây bao tai họa cho người khác, cho xã
hội.
Có lẽ Ma Văn Kháng hợp với loại truyện phanh phui, mổ xẻ, bức xúc trước
thực trạng xuống cấp của xã hội. Sau gần mười năm, năm 1998 nhà văn lại cho ra
đời một tiểu thuyết nổi đình đám: (NDNL). Cuốn tiểu thuyết này đã có sự cách tân
vượt bậc về nghệ thuật thể hiện. Bích Thu phát hiện ra sự cách tân trong tác phẩm thể hiện ở cốt truyện lỏng
lẻo, mơ hồ,
co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại và do đó “Tiểu thuyết vừa là tiếng nói
của ý thức, vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ...”[100]. Có thể xem đây
là sáng tạo của nghệ thuật lắp ghép, truyện lồng trong truyện tạo ra sức lôi cuốn
cho bạn đọc. Bên cạnh đó, tác phẩm có
sự thâm nhập của các thể loại khác vào
trong tiểu thuyết như thơ, huyền thoại, cổ tích, điển tích... Nó là nhân tố làm giãn
cốt truyện, tạo ra tiếng nói khác nhau trong tiểu thuyết. Hình thức này xuất hiện
trong nhiều tiểu thuyết khác của Ma Văn Kháng.
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Thiện, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng giai
đoạn này: “Đã đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và


về tiểu t
huyết, về những chuyển biến, cách tân trong tiểu thuyết của ông. Do đó
việc luận văn đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết và có ý
nghĩa.
5. Đóng góp mới của luận văn:
Luận văn chỉ ra những chuyển biến về nội dung và hình thức nghệ thuật
tương ứng trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới, những dấu hiệu và
nguyên nhân dẫn tới sự chuyển biến ấy.
Chỉ ra những đóng góp của nhà văn trong việc cách tân thể loại tiểu thuyết
trong sự phát triển chung của văn xuôi Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được
chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Nhìn chung hai chặng đường sáng tác tiểu thuyết của
Ma Văn Kháng trong sự vận động phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
từ sau cách mạng tháng Tám -1945 tới nay.

Trong chương này, luận văn đi vào khái quát sơ lược hai chặng đường vận
động của tiểu thuyết Việt Nam (1945- 1985) và (từ sau 1985 tới nay), sơ lược hai
chặng đường tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cùng dấu mốc chuyển biến để có cái
nhìn khái quát về tiểu thuyết nói chung, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng.
Lý giải nguyên nhân dẫn tới sự chuyển biến trong tiểu thuyết của ông và
khẳng định vai trò, đóng góp của nhà văn trong văn học Việt Nam.
Chương 2: Sự chuyển biến về nội dung cảm hứng trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới.
Chương hai tìm hiểu những chuyển biến trong việc khám phá hiện thực,
quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở hai

Chương 1
HAI CHẶNG ĐƯỜNG SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT
CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 TỚI NAY
1.1. Hai chặng đường của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 tới 1985:
1.1.1. Chặng đường 1945 - 1985:
Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công đã giải phóng dân tộc ta khỏi
ách nô lệ. Nhưng khi vừa giành được chủ quyền thì cũng là lúc toàn dân tộc lại
phải đương đầu với quân xâm lược mới: Đế quốc Mĩ. Đối với văn học, nó đã mở
ra một giai đoạn mới, một hướng nhìn, một lối đi đúng đắn cho một thế hệ các nhà
văn. Văn học giai đoạn này là văn học chiến tranh cách mạng. C
hủ tịch Hồ Chí
Minh đã căn dặn anh chị em văn nghệ sĩ: “Văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, anh
chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Nhiệm vụ của các nhà văn lúc này là ca ngợi,
động viên tinh thần chiến đấu của toàn dân tộc. Một nền văn học mới: “Văn học
hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học cách mạng”[
13] ra đời. Một thế hệ các nhà
văn trưởng thành đến độ chín cả về tuổi đời cũng như tuổi nghề, hàng loạt những
cây bút mới đã thể hiện được năng lực của mình. Họ là những nhà văn đi đầu cho
“Một nền văn nghệ đậm chất cách mạng, tươi mới, sống động, đậm chất hiện
thực”[13].
Các tiểu thuyết trong thời kỳ này tập trung chủ yếu ở chủ đề: sức mạnh và

tinh thần yêu nước của nhân dân. Đề tài được đề cập tới hết sức đa dạng và phong
phú. Coi trọng và bám sát hiện thực là điều mà các nhà văn chú ý hướng tới vì
hiện thực là nguồn cảm hứng, là chất liệu để xây dựng lên tác phẩm. Đây là nét
độc đáo của nền “ng
hệ thuật anh hùng, là dáng đứng Việt Nam, tầm nhìn của thời
đại”[13].

sáng, ở Nguyên Hồng là cái xù xì gân guốc, phong phú đến mức rập rạp. Trong
nhà văn Tô Hoài có cái hóm hỉnh, thông minh, tinh tế và thơ mộng. Văn của
Nguyễn Khải có cái tỉnh táo, sắc sảo đầy tính chất phát hiện. Nguyễn Huy Tưởng
có cái đôn hậu, ấm áp điểm vẻ huy hoàng, tráng lệ, cái dân gian mà hiện đại của
Nguyễn Thi, hiện đại mà cổ kính của N
guyễn Tuân, hùng tráng thi vị của Nguyễn
Trung thành, trữ tình thiết tha đến độ say đắm của Anh Đức, cái trí tuệ hài hòa
cân đối đến mức cổ điển của Phan Tứ[15, tr.40].
Tất cả đã tạo nê
n bức tranh phong phú, đa dạng cho văn học giai đoạn này.
Văn học 30 năm ch
iến tranh có thể coi là một biên niên sử mà ở đó ta
không chỉ quan sát được số phận dân tộc mà còn thấu hiểu số phận của mỗi cá nhâ
n. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đánh giá rằng “Văn học cách mạng 1945 -
1975 là một giai đoạn lịch sự không lặp lại của văn học dân tộc. Nó là một hiện
tượng nghệ thuật sáng ngời, là chiếc cầu nối liền văn minh dân tộc từ quá khứ,
hướng tới tương lai”[81].
Sau 1975, chiến tranh kết thúc thắng lợi văn học bước sang thời kì hậu
chiến. Tuy văn học vẫn “trượt theo quán tính của gi
ai đoạn trước”[65] nhưng đã
diễn ra sự vận động ở chiều sâu với những suy tư, trăn trở, tìm tòi âm thầm mà
quyết liệt ở những nhà văn có trách nhiệm với ngòi bút của mình. Nhiều tác giả
tiếp tục hướng vào đề tài chiến tranh cách mạng nhưng với những lý giải mới về
cuộc chiến tranh dân tộc. Cuộc chiến được nhì
n nhận một cách toàn diện ở nhiều
góc độ, sâu sắc và nhân bản hơn. Các nhà văn đào sâu vào những góc khuất của
chiến tranh, đặc biệt nhấn mạnh tính chất ác liệt, thảm khốc của cuộc chiến đấu, sự

1.1.2. Chặng đường từ 1985 tới nay:
Năm1986 được coi là dấu mốc đổi mới của văn học Việt Nam với hàng loạt
sự kiện: Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện
mọi mặt của đất nước, tạo đà cho văn học nghệ thuật đổi mới, phát triển toàn diện
trên nền những gì đã đạt được; nghị quyết 05 của bộ chí
nh trị đã chỉ rõ: “Văn học
nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”[8],
cuộc gặp gỡ giữa tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với anh em văn nghệ sĩ... thực sự
đã thổi một luồng gió mới cho văn học, tác động tới cách nghĩ, cách nhìn của giới
văn nghệ sĩ.
Qua
n điểm của Đảng ta về văn học: “Văn học là cuộc sống, là sự đấu tranh
của các nhà văn cho một cuộc sống tươi đẹp, đấu tranh bằng tác phẩm văn
học”[8] do đó các nhà văn cần “Phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ
thuật phát triển lên một bước”[8]. Văn xuôi trước sự nghiệp xây dựng xã hội chủ
nghĩa mở r
a trên nhiều lĩnh vực, đang tìm cách tiếp cận với mọi vấn đề của cuộc
sống. Trên tinh thần “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật, nhận thức lại hiện
thực”, “Tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật. Bởi vì sự thật luôn
luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính” [72], Đảng đã tạo điều kiện cho các
nhà văn tự “cởi trói” cho c
hính mình, thoát khỏi một giai đoạn văn học ngập tràn
cảm hứng ngợi ca.
Thời buổi kinh tế thị trường, văn chương càng mang nặng trọng trách. Văn
chương cần khai phá, đào sâ
u, phát hiện chính xác hơn những mẫu người mới,
những suy nghĩ cảm nhận mới, lên tiếng cảnh báo về sự xuất hiện của những cái
xấu, cái ác đang tồn tại và sự cần thiết phải bênh vực, bảo vệ phẩm g
iá của con
người... Làm được điều này là nhờ vào tính dân chủ trong văn học. Năm 1986 đã

hèn, hoặc thiện hoặc ác sang đa chiều về nội tâm, số phận, đa dạng, phức tạp hơn
với đủ sắc thái lúc tốt, lúc xấu, lúc
cao cả, lúc lại tầm thường như Lý trong Mùa lá
rụng trong vườn, Hoan trong Ngược dòng nước lũ, Ba Sương trong Ăn mày dĩ
vãng, Linh trong Bên kia bờ ảo vọng...
Đặc biệt, văn học ngày càng “đi
sâu tìm nhận những khao khát trong nhu
cầu vươn tới hạnh phúc của con người”[115, tr.124], chú ý tới nội tâm của con người, tình cảm
riêng tư, những cung bậc tình cảm: yêu thương và ghét bỏ, hạnh
phúc và bất hạnh, dục vọng, bản năng, tận cùng của những đam mê đau khổ... điều
mà giai đoạn trước không ai dám quan tâm, bày tỏ. Một loạt những tác phẩm của
Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Dương Thu Hương,
Dương Hướng... đã làm được điều đó.
Văn xuôi có sự tìm tòi đổi mới linh hoạt, biến đổi trong nghệ thuật trần
thuật, ngôn ngữ đến giọng điệu,
có sự tham gia trực tiếp của nhân vật kể chuyện,
sự thay đổi liên tục, sự phối hợp nhiều giọng điệu, nhiều điểm nhìn. Mối quan hệ
giữa tác phẩm - người đọc - nhà văn bình đẳng, đối thoại và dân chủ. Trong nhiều
sáng tác, nhà văn giữ vai trò làm chủ rồi trao quyền cho nhâ
n vật tự đối đáp, kể, tả.
Phương thức trần thuật này giúp cho nhà văn có điều kiện xâm nhập vào thế giới
bên trong, phần sâu kín nhất của con người để làm rõ, nổi bật tâm trạng, khắc họa
nội tâm của họ như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y
Ban), Đám cưới khôn
g có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng)...
Mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật đư
ợc thay đổi từ điểm trùng khít giữa

“đi theo tiếng gọi của Đan cô, Pa ven Corsaghin... xung phong đi đến những vùng
khó khăn của đất nước. Đi như viên đạn thẳng đầu”[59]. Hơn hai mươi năm sống
và làm việc ở vùng miền núi ấy, ông đã cố gắng hòa nhập với môi trường mới, gắn
bó và làm việc hết mình gắn bó và coi đây là quê hương thứ hai của m
ình.
Cái tên Ma Văn Khá
ng vừa là tên gọi hàng ngày, dùng trong các giấy tờ,
vừa là bút danh đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của tác giả đối với miền đất này.
Nhiều người đã nghĩ ông là người dân tộc nhưng ông cho biết thực chất Kháng là
bí danh. “Một lần bị ốm nặng, được ông Nho chủ tịch huyện đã tận tình chăm sóc
như một người anh, một người cha, đích thân ông Nho cõng đi tìm thầy thuốc cứu
chữa. Thoát trận ốm đó ông quyết định kết nghĩa anh em
”[73]. Cái tên Đinh
Trọng Đoàn được lấy họ Ma và ghép lại thành Ma Văn Kháng để tỏ lòng biết ơn
người đã cứu mình.
Hơn hai mươi hai năm
công tác ở miền núi (Từ 1954 đến 1976) là quãng
đời trẻ trung, sôi nổi nhất của ông. Như một người cán bộ thực thụ, ông trực tiếp
tham gia, trải qua những đợt tiễu phỉ, đi là
m thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học,
làm thư kí, làm báo, nhà văn... Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào
miền núi trong giai đoạn gian khổ nhất.
Như thế thời trai trẻ của nhà văn là sự dấn thân say m
ê háo hức với tâm
trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cước khi là chiến sĩ quân đội, lúc là ông giáo, a
nh cán bộ, nhà báo, “đi như một viên đạn thẳng đầu vào đời bất chấp mọi
gian khổ hiểm nguy”[62]. Và cũng chính sự sôi nổi nhiệt tình, say mê làm việc ấy

dài. Một cuộc vật lộn để cho ra hơn sáu trăm
trang giấy lung linh màu sắc của
thiên nhiên núi rừng và con người miền núi trong công cuộc đấu tranh xây dựng
bảo vệ quê hương. (VBA) (Tập 2) ra đời là sự tiếp nối cuộc đấu tranh của các dân tộc miền núi nhưng chuyển sang một giai đoạn mới khó khăn, phức tạp hơn nhiều.
(GGƠLPT) viết về bản lĩnh kiên cường của thầy giá
o Khiêm đã bỏ bao công sức,
tâm huyết với quyết tâm cải tạo và xây dựng “lâu đài văn hóa” ở nơi xa xôi hẻo
lánh. (Trăng non) viết về sự nghèo nàn, lạc hậu của con người tuy chiến tranh đã
lùi xa...
Trong số những tiểu thuyết ấy thì ba cuốn (ĐBTHX), (VBA) và (GGƠLPT)
là thành c
ông, có giá trị nhất, tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh trong sáng tác
của nhà văn về đề tài miền núi.
Sau khi đất nước được
hoàn toàn giải phóng, được chuyển công tác về Hà
Nội ông hòa nhập rất nhanh với cuộc sống đô thị. Ông tiếp tục sự nghiệp văn
chương của mình và đã có nhiều thành công, đóng góp không nhỏ cho văn c
hương
nước nhà. Hàng loạt những sáng tác mang hơi thở của cuộc sống thành thị thời kì
đổi mới ra đời. Ông được tín nhiệm giữ các chức vụ cao như: Phó giám đốc kiêm
tổng biên tập nhà xuất bản Lao động, ủy viên ban chấp hành, ủy viên Đảng đoàn
hội các nhà văn khóaV, tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài và nhiều chức
vụ quan trọng khác.
Nhiều người đã nhận xét Ma Văn Khá
ng là một con người hết sức giản dị,
lặng lẽ sống và làm việc, cần cù cần mẫn trong lao động sáng tạo nghệ thuật, sống
hòa đồng và được lòng mọi người. Trong suốt một cuộc đời, bao thay đổi xã hội,

thưởng nhà nước đợt 1 năm 2001, năm 2002 hội văn học nghệ thuật Lao Cai trao
giải đặc biệt. (GGƠLPT) được Hội văn học - nghệ thuật các dân tộc thiểu số trao
giải thưởng chính thức. Tiểu thuyết (MLRTV) được giải thưởng loại B hội nhà
văn Việt Nam 1986, được tặng thưởng của hội đồng văn xuôi hội nhà văn Việt
Nam
1995. Tập truyện ngắn (Trăng soi sân nhỏ) được nhận giải thưởng văn học
Đông Nam Á 1998... Nhiều tiểu thuyết tạo sự chú ý, gây nên tranh luận trong giới
bạn đọc và những nhà nghiên cứu, được chuyển thể thành phim, một số truyện
ngắn được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc phổ thông...
Gần đâ
y, ông vẫn tiếp tục cho ra đời những truyện ngắn đương đại có giá trị
cao, mang ý nghĩa lớn đối với người đọc, với cuộc sống hôm nay như (Tội nghiệp
con vẹt già), (Cuộc đấu của gà chọi), (Thầy Thế đi chợ bán trứng)...
Gooc-ki đã từng nói: “Nghề viết văn là một loại nghề cực nhọc nhất trên
thế gian này”[102]
và khuyên những ai từng nghĩ viết văn là nhà
n nhã, là nắng
không đến đầu, mưa không tới mặt nhưng dấn thân vào thì là một sai lầm to lớn.
Với Ma Văn Kháng, ông quan niệm văn chương là một công việc khó, thu hút hết
tâm lực của người nghệ sĩ nhưng không phải ai cũng chạm tới được. Chẳng hạn để
có được (ĐBTHX) thì ngoài vốn sống, tự đi thu thập tư liệu, tìm hiểu kĩ lưỡng còn
là sự lao động c
hăm chỉ, miệt mài. Ông đã phải “Viết đi viết lại ba bốn lần với một
đống bản thảo dày gần hai gang tay, bằng đủ các loại giấy thếp, giấy học sinh, giấy đánh máy chi chít những chỗ dập xóa, chú thích bên lề...”[102]. Thế mới đủ
thấy c
ông sức của nhà văn quả là không nhỏ trong công việc sáng tạo nghệ thuật.
Ông cho rằng:

y, ông và gia đình vẫn sống bình dị trong một căn hộ nhỏ do nhà
nước cấp trong một ngõ nhỏ sát đại lộ Nguyễn Chí Thanh gần con phố mang tên
nhà văn bậc thầy Nguyễn Công Hoan. “Đêm đêm trong phòng làm việc của ông
vẫn tỏa sáng- một ánh sáng vừa đủ soi tỏ trang viết ”[95]. Trong đời sống bình dị,
êm đềm
quanh con cháu và bè bạn, ông vẫn tiếp tục khẳng định ngòi bút của mình

Trích đoạn Ngôn ngữ giàu chất thơ mang đậm phong vị Từ ngôn ngữ giàu chất thơ mang đậm phong vị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status