MỤC LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng Ma Văn Kháng vẫn rất trẻ trung
và đặc biệt vẫn tỏ ra sung sức trong nghề cầm bút. Hơn 50 năm trong nghề,
Ma Văn Kháng đã sở hữu một gia tài nghệ thuật khá đồ sộ: 15 cuốn tiểu
thuyết, khoảng 200 truyện ngắn và một hồi ký văn học… Trong suốt hành
trình lao động nghệ thuật, Ma Văn Kháng luôn ý thức được sứ mệnh là viết để
bảo vệ và khẳng định những giá trị chân chính của con người, của sự sống.
Mỗi trang viết của ông không chỉ thấm đẫm những quan niệm nhân sinh thế
sự mà dường như soi thấu tâm can, gan ruột con người, mỗi tác phẩm vừa là
tiếng nói đồng cảm sẻ chia với nỗi đau khổ của con người vừa đấu tranh quyết
liệt cho cái đẹp, cái thiện ở cuộc đời.
Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở cả hai thể loại: Tiểu thuyết và
truyện ngắn. Nhiều tiểu thuyết của ông ở thập kỷ 80 đã từng gây xôn xao dư
luận và cho đến nay vẫn hấp dẫn người đọc: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá
rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989)… nhưng Ma
Văn Kháng thực sự đặc sắc ở truyện ngắn. Truyện ngắn Ma Văn Kháng có vị
trí đặc biệt trong văn nghiệp của ông. Người đọc biết đến Ma Văn Kháng qua
truyện ngắn Xa phủ (1969), được tặng giải thưởng báo Văn nghệ. Tiếp sau đó
người đọc gần gũi hơn với Ma Văn Kháng qua các tập truyện ngắn Bài ca
trăng sáng (1972), Cái móng ngựa (1973)…
Tuy nhiên, từ 1980 truyện ngắn Ma Văn Kháng mới cất cánh, thăng
hoa, vươn tới đỉnh cao mà không mấy ai theo nghiệp bút nghiên lại không
mong đạt tới: Giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi truyện ngắn báo văn nghệ
với tập truyện Xa phủ; tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Việt Nam 1995,
giải thưởng văn học ASEAN 1998 với tập Trăng soi sân nhỏ, giải Cây bút
vàng trong cuộc thi viết truyện ngắn do Bộ công an kết hợp với hội nhà văn tổ
2
chức cho truyện ngắn San Cha Chải, giải thưởng nhà nước về văn học nghệ
2. Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi tập truyện ngắn Xa phủ ra đời, giới phê bình văn học đã
quan tâm nhiều đến tác phẩm của Ma Văn Kháng. Bài viết sớm nhất là Đọc
Xa phủ của tác giả Bùi Văn Nguyên đăng trên báo Nhân dân ngày 5-7-1970.
Tính cho đến thời điểm hiện nay việc tìm hiểu và khám phá văn chương của
ông thật phong phú và đa dạng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài
báo, nhiều ý kiến đánh giá của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê
bình, nhà thơ, nhà văn được đăng tải trên các sách báo, tạp chí như: Bùi Hiển,
Trần Đăng Suyền, Lã Nguyên, Nguyễn Ngọc Thiện, Bùi Việt Thắng, Trần
Bảo Hưng, Trần Cương, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Văn Toại, Ông Văn
Tùng…
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đặc biệt chú ý đến những
bài viết về truyện ngắn của Ma Văn Kháng. Cùng với sự ra đời của những
truyện ngắn trước năm 1980, những bài viết phê bình chủ yếu tập trung vào
chất miền núi, dân tộc trong tác phẩm của Ma Văn Kháng. Ngày nay đọc
những truyện ngắn trước 1980 của ông, ta dễ dàng nhận thấy những điều còn
đơn giản, nông cạn – nói như chính tác giả “những truyện tôi viết những năm
ấy bị chi phối bởi những cảm quan ấu trĩ, thô thiển, chốc lát, do đó đa phần là
kém cỏi. Cho nên cùng với tác phẩm, những bài viết về nó khó giữ nguyên
giá trị cho tới ngày hôm nay”.
Thời kỳ 1980 – 1985 (trước đổi mới), Ma Văn Kháng tập trung vào viết
tiểu thuyết, số lượng truyện ngắn ra đời ít, nên cũng không nhiều bài viết về
nó. Đáng chú ý nhất là bài “Đọc các sáng tác về miền núi của Ma Văn Kháng,
nghĩ về trách nhiệm của một nhà văn trước một đề tài lớn” của Nguyễn Văn
4
Toại (Tạp chí Văn học, số 5/1983), tác giả vẫn chủ yếu đánh giá nội dung
phản ánh cuộc sống mới, con người mới ở miền núi của nhà văn. Một điều
đáng lưu ý là tác giả đã phát hiện ra: truyện ngắn Ma Văn Kháng giàu tứ và
tình.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay, Ma Văn Kháng cho ra đời hàng chục
nữ, họ “đời” nhất trong số các nhân vật của ông. Giọng văn của Ma Văn
Kháng là một giọng điệu rất riêng, nó “tưng tửng, điềm đạm, khách quan,
vượt qua cái vụn vặt theo lối kể lể để chạm đến một vấn đề khác lớn lao hơn”
[8].
Khi đọc tập Heo may gió lộng tác giả Trần Bảo Hưng đã có cảm nhận:
“Truyện anh viết thường có lớp lang, thứ tự, ít tiểu xảo mà hấp dẫn, ngòi bút
anh tỏ ra khách quan, điềm tĩnh nhưng vẫn thấm đượm tình yêu thương con
người, vẫn nhoi nhói nỗi đau trần thế. Không ít truyện của anh mang tính chất
luận đề và chất triết lý khá rõ nhưng vẫn nhuyễn, vẫn cuốn hút người đọc vì
văn của anh đậm đà, giàu hương vị, những chi tiết đời sống phong phú, tiêu
biểu và nhiều thuyết phục”.
Đáng chú ý là bài viết của tác giả Nguyễn Thị Huệ - “Đổi mới tư duy
nghệ thuật sáng tác của Ma Văn Kháng trong những năm 1980”. Tác giả có
những nhận xét xác đáng về tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng. Đó là “Ma
Văn Kháng đã nhìn thẳng vào sự thật”, và tiếp cận một hiện thực mới “một
hiện thực phong phú nhưng ngổn ngang bề bộn, phải trái trắng đen lẫn lộn,
xen cài trong biết bao là biến động”. Đồng thời tác giả nhận thấy, Ma Văn
Kháng đã chuyển từ cái nhìn “sử thi” sang cái nhìn “tiểu thuyết” nhằm tiếp
cận đời sống ở bình diện sinh hoạt thế sự. Về con người, nhà văn đã chuyển
6
sang quan tâm đến con người cá nhân, đặc biệt chú ý đến nhân vật trí thức.
Tác giả cho rằng “trong quan niệm hiện thực về con người, Ma Văn Kháng đã
bắt đầu có những thể nghiệm mở ra khả năng khám phá con người ở nhiều
chiều, nhiều bình diện xuất phát từ cái nhìn nhân đạo về con người” và “trong
hiện thực về con người, Ma Văn Kháng muốn lưu ý chúng ta mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên” [16, tr. 54]. Từ đó Nguyễn Thị Huệ đi đến khẳng
định: Tư duy nghệ thuật mới của Ma Văn Kháng những năm 80 ở hai bình
diện “hiện thực là phức tạp, không thể biết trước; con người vẫn còn nhiều bí
ẩn cần phải khám phá kiếm tìm”.
Gần đây nhà nghiên cứu Lã Nguyên có tiểu luận “Khi nhà văn đào bới
cho nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang
tính hệ thống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về mảng truyện ngắn, đặc biệt
là đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng từ đổi mới đến nay. Phần nhiều các
nhà nghiên cứu mới đi vào một khía cạnh hoặc nghiêng về đào sâu vào tiểu
thuyết. Vì vậy, luận văn này hy vọng sẽ mang lại một cái nhìn toàn diện sâu
sắc hơn về đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật mảng truyện ngắn Ma
Văn Kháng từ thời kì đổi mới đến nay.
Những ý kiến đánh giá nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình đi
trước là những gợi ý thiết thực giúp chúng tôi quyết định triển khai đề tài này
cho công trình nhỏ của mình.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Mục đích khoa học của luận văn là khảo sát, tìm hiểu đặc điểm truyện
ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ sau đổi mới qua đó góp phần khẳng định chiều
sâu tư tưởng, giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn của nhà văn Ma Văn
Kháng đối với nền Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
8
Với đề tài “Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới”
chúng tôi chọn khảo sát các tập truyện ngắn sau:
- Truyện ngắn Ma Văn Kháng tập 1 (NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
2001)
- Truyện ngắn Ma Văn Kháng tập 2 (NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
2001)
- 50 truyện ngắn chọn lọc (NXB Văn hóa Sài Gòn 2006)
Ngoài ra để phục vụ cho việc so sánh đối chiếu cũng như thấy được sự
kế thừa, phát triển, đổi mới của truyện ngắn Ma Văn Kháng ở giai đoạn sau
đổi mới, chúng tôi có tìm hiểu một số truyện ngắn sáng tác trước năm 1986.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi thực
hiện một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu phân tích,
tổng hợp, phương pháp khảo sát thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp
Người ta nói tới một sự đổi mới mạnh mẽ trong đời sống tư tưởng, trong quan
niệm về nghệ thuật và con người cũng như sự đổi mới về thi pháp thể hiện.
Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực
của thời kỳ vừa qua, phơi bày nhiều mặt trái còn bị che khuất, lên án những
lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên
bước đường phát triển của xã hội. Khuynh hướng này thể hiện sự cố gắng, nỗ
lực của những người cầm bút muốn đưa ra cái nhìn hợp lý, toàn diện hơn khi
đánh giá lại những sự kiện, con người của quá khứ, chỉ ra những bất cập còn
tồn tại trong quan niệm của văn học về cuộc đấu tranh mà dân tộc vừa trải
qua. Một khuynh hướng khác khá nổi trội bởi số lượng phong phú và ý nghĩa
“quan thiết” của nó là khuynh hướng đời tư, thế sự. Những vấn đề của cuộc
sống và con người thời hậu chiến, những mối quan hệ chồng chéo, phức tạp,
những mảnh đời riêng tư, những câu chuyện đời thường, trở thành đối tượng
của nghệ thuật. Hiện thực cuộc sống được các nhà văn lật xới từ những số
phận cá nhân nhỏ bé đến những vấn đề xã hội rộng lớn mang ý nghĩa nhân
sinh của một thời đại… Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê,
11
Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban… đều là
những cây bút khá tiêu biểu cho khuynh hướng này.
Ngoài ra cũng cần thấy văn học sau đổi mới còn xuất hiện khuynh
hướng triết luận. Chiêm nghiệm, triết lý đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu trong sáng tác của các nhà văn và không chỉ ở những nhà văn có nhiều
từng trải như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu mà còn ở nhiều cây bút thuộc
các thế hệ sau như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Từ đầu những năm
90 xuất hiện dòng hồi kí – tự truyện, Tô Hoài và Nguyễn Khải đã có những
tác phẩm thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng rộng rãi.
Gần đây người ta lại chú ý đến loại văn xuôi kỳ ảo, cả truyện ngắn và
tiểu thuyết, với những thể nghiệm táo bạo để cách tân thể loại. Có thể kể đến
truyện ngắn và tiểu thuyết của một số tác giả như: Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Bình Phương…
trang viết đầu tay của ông toát lên cái nhanh nhạy của một cây bút trẻ, hăm hở
vào nghề, tự tin, mạnh mẽ và thiết tha. Truyện ngắn Phố cụt được in báo năm
1961 đã mở đầu nghiệp văn của ông. Từ đó ông hăm hở đến các bản Mường,
vạch lau lách mà đi, sắn quần mà lội suối, chống gậy mà leo vách đá… để ghi
lại từng chi tiết của cuộc sống, để trải nghiệm mà viết. Cứ thế ông cần cù, bền
bỉ, chắt chiu từng giọt tinh túy của cuộc sống rồi bày lên tác phẩm. Ông viết,
xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng chiếm được cảm tình của
độc giả.
Thời gian ngồi trên ghế trường Đại học Sư phạm đã giúp ông thấm thía,
nhận ra rằng, chỉ lao vào đời sống “cày sâu cuốc bẫm” nó thôi thì vẫn chưa
đủ, khó mà vươn xa được, mà phải học thầy cô, bạn bè, học từ sách vở nữa.
13
Khi kiến văn được mở rộng, vốn sống trực tiếp được bổ sung bằng vốn tri
thức, thì tác phẩm sẽ trở nên cứng cáp, có sinh lực dồi dào và bền bỉ, sống
mãi với thời gian. Với ông, dường như có sự tương hợp giữa thành nhân và
đắc đạo văn chương. Viết, trải nghiệm, đau đớn rồi lại viết. Cứ thế các tác
phẩm, những đứa con tinh thần của ông ngày càng lớn lên, đồ sộ, lừng lững
đứng chung vào hàng ngũ những tác phẩm của các nhà văn gạo cội của nước
nhà. Ông nói: Viết văn thì phải đau mới viết được. Đau thì mới thấy thấm
thía, mới bật ra được. Và như vậy tác phẩm mới hay, mới đậm chất nhân văn,
chứ cứ nhơn nhơn với những thú vui ngoài xã hội thì lấy đâu ra tác phẩm hay.
Và ông đã thực sự đau đớn sau những trải nghiệm trên đường đời, để khi quay
lại chốn đô thị phồn hoa, ông đã giúp chúng ta nhận diện chính xác cơn biến
động của lịch sử, những gương mặt thị dân, bọn trí thức rởm, bọn hợm hĩnh…
Ông đã vẽ lên khá đầy đủ bức tranh của sự biến động xã hội, khi những giá trị
truyền thống từng ngày bị phá vỡ bởi sự xô đẩy của tiến trình lịch sử; sự tha
hóa của đạo lí nhân sinh; sự giằng xé giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái ti tiện và
lòng nhân ái…
Đối với Ma Văn Kháng, viết văn trước tiên là câu chuyện về số phận
con người, sự đấu tranh của mỗi người để hướng tới cái đẹp, cái thiện. Thấp
học đương đại Việt Nam.
1.2.2. Sự nghiệp
Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ cả về số lượng tác
phẩm và thành tựu: 15 tiểu thuyết, 25 tập truyện ngắn và 1 hồi ký, tính ra ông
đã viết hàng vạn trang văn trong đời mình. Hàng vạn trang văn ấy chỉ để giữ
lại một điều cuối cùng, là con người hãy đến với nhau bằng sự tử tế, bằng tình
yêu vô tư và vô điều kiện. Đó cũng là muốn kết tinh từ những tháng năm vất
15
vả khổ sai với con chữ của nhà văn, mà thực tế trải nghiệm là một minh
chứng.
Ma Văn Kháng thực sự “sống đã rồi hãy viết” – như tâm nguyện của
mình. Rời Hà Nội khi tuổi đời còn rất trẻ, ông đã chọn nghề dậy học ở một
vùng đất xa lạ với mình về văn hóa, là Lào Cai. Và rồi với trái tim căng mở
của người trí thức, với đôi chân ham đi và cặp mắt không ngừng quan sát, ông
đã luôn dành chỗ trong tâm hồn cho những bài ca của các dân tộc thiểu số
vùng Tây Bắc tổ quốc ngân vang, trở thành chất liệu vàng ròng làm nên
những tác phẩm văn học nổi tiếng sau này như: Đồng bạc trắng hoa xòe,
Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Một mình một ngựa…
Ông là nhà văn tiêu biểu viết về miền núi, không chỉ bởi cái bút danh
Ma Văn Kháng, mà còn bởi khi viết về một dân tộc, một vùng đất, ông đã
không “viết hộ hay viết thuê, mà viết cho chính mình”. Hơn 20 năm làm nghề
dạy học ở miền núi, Ma Văn Kháng thực sự đã chọn con đường khó để đi, vì
ông hiểu không có những trả giá thật sự trong đời sống, nhà văn không thể có
những trang viết hay. Trên vai người thầy Ma Văn Kháng chưa khi nào chỉ là
giáo án dạy học, mà còn là những cuốn sổ ghi chép tỉ mỉ những tư liệu về lịch
sử, con người, cuộc sống của một vùng đất, những trăn trở, day dứt về số
phận dân tộc, số phận con người. Không chỉ dậy học trò vùng cao con chữ mà
Ma Văn Kháng còn tự đào tạo mình một cách nghiệt ngã, để trở thành nhà
văn.
Có thể khẳng định rằng hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng được
lớn lao cho người sáng tác khơi dòng, cộng với sự trải nghiệm của 20 năm
cầm bút và sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong mỹ cảm của nhà nghệ sỹ,
hơn thế, khi ấy cộng với độ chín của tuổi nghề đã giúp tôi có sức bật lớn. Vì
17
vậy, có thể khẳng định rằng: đây là thời kỳ nở rộ của truyện ngắn Ma Văn
Kháng. Hàng loạt tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn này và đã để lại nhiều dư
vang trong lòng người đọc như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sỹ của
Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Côi
cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992),
Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994),
Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập
1996)… Mỗi con chữ như mặn xót mồ hôi, nước mắt, chắt ra qua nghiền
ngẫm và trải nghiệm từ chính dòng đời, mạch sống của nhà văn và được
chuyển vào tác phẩm ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, đặc biệt là
sự thể hiện hình ảnh và bức tranh cuộc đời tác giả một cách trung thực trong
hồi ký văn chương: Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương.
Tựu trung, nhìn lại những chặng đường lớn trong đời viết văn quá nửa
thế kỷ của Ma Văn Kháng, với 22 năm ở Lao Cai, trải qua các cương vị công
tác như: hiệu trưởng trường cấp 2, 3 Lao Cai; Thư ký Bí thư tỉnh ủy Lao Cai;
phóng viên, phó tổng biên tập báo Lao Cai; từ năm 1976 đến nay ở thủ đô Hà
Nội, lần lượt trải qua các cương vị công tác như: phó tổng biên tập nhà xuất
bản Lao động, Ủy viên Ban chấp hành, ủy viên Đảng đoàn Hội nhà văn khóa
V, Tổng biên tập Tạp chí văn học nước ngoài… thì điều sau chót, có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với mỗi nhà văn nói chung, Ma Văn Kháng nói riêng,
chính là những đứa con tinh thần của họ, thứ sẽ gắn kết nhà nghệ sỹ với con
người, cuộc đời cũng như sức sống của chúng trong lòng độc giả. Thành quả
trong hành trình nghệ thuật trên nửa thế kỷ của nhà văn Ma Văn Kháng có thể
xem là đồ sộ: trên 200 truyện ngắn, tạp văn, 15 tiểu thuyết và 1 hồi ký văn
chương. Đó có lẽ là những cống hiến lớn lao nhất ông dành cho nghệ thuật và
cũng là những món quà quý nhất nhà văn đáp lại một cách chân thành nhất
mùa hạ đã có sự bất thường. Tác phẩm không có được cái kết thúc có hậu
kiểu truyền thống. Tuy nhiên cái mới chưa dễ dàng được tiếp nhận vì những
quan niệm cũ kĩ cả trong đánh giá lẫn tiếp nhận. Nhưng rồi tác phẩm cũng
vượt qua được thử thách ban đầu và được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh.
Những va đập trên hành trình viết càng làm dày dạn thêm một ý chí như sự
trải nghiệm cần thiết.
Chính thức từ 1990 là thời được mùa của văn học đổi mới. Đã có sự
đồng hành của nhiều cây bút tạo nên một khí thế mới: Bảo Ninh với Thân
phận của tình yêu (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Chu
Lai với Ăn mày dĩ vãng (1991). Thực ra từ 1986 trở đi, sự đổi mới văn xuôi đã
diễn ra ở bề sâu. Lê Lựu qua Thời xa vắng đã đưa ra một mẫu người tha hóa –
Giang Minh Sài là người có đời sống tâm hồn trải qua bao thăng trầm đau
đớn, là sản phẩm của một tình huống đặc sắc. Nhiều tiếng nói đồng tình đã cất
cao. Nguyễn Khắc Trường vạch trần tâm địa đen tối độc ác của bọn tội phạm
đội lốt cộng sản ở nông thôn (Mảnh đất lắm người nhiều ma – 1990). Vấn đề
được Ma Văn Kháng khơi gợi ở Côi cút giữa cảnh đời như sự lên án bọn
cường hào mới nhân danh quyền uy xô đẩy, dồn ép, vùi dập con người vào
hoàn cảnh ngặt nghèo, khốn khó. Sự đồng thanh ấy phản ánh cảm hứng sự
thật, khát vọng dân chủ (Phong Lê) như một nhu cầu khẩn thiết. Nguyễn Huy
Thiệp hưởng ứng và tiếp sức cho tố cáo sự xói mòn phóng hóa xã hội từ suy
bại trong quan hệ gia đình. Những vấn đề trong: Tướng về hưu, Không có
vua, Huyền thoại phố phường, Những người thợ xẻ (1987) cũng được Ma Văn
Kháng xới lên từ Mùa lá rụng trong vườn: sự băng hoại đạo đức trong truyền
thống gia đình do tác động tiêu cực của xã hội.
Thập kỷ 90 và cho tới những năm đầu thế kỷ này, Ma Văn Kháng vững
bước trên đường đổi mới với những cảm hứng mới, tâm thế mới và khí thế
20
ngày càng mạnh mẽ. Sự nghiệp đổi mới văn học đã được khẳng định trong đó
có đóng góp tích cực của cây bút điềm đạm mà quyết liệt, bình tĩnh chọn lựa,
kiên định trước những chao đảo, nhiễu loạn của văn đàn khi không tránh khỏi
nhưng phân hóa rõ rệt thành hai loại, hai hạng. Không phải là ranh giới giai
cấp, cũng không phải là vết ngang đậm địch – ta. Mà là một quy định đạo đức
xã hội: nhân cách cao thượng và nhân cách thấp hèn; người thiện, người trí
tuệ và kẻ hèn ngu, xấu xa, độc địa, tàn ác. Trong mỗi nhân vật sự lưỡng phân,
lưỡng hóa tính cách được tô đậm. Cấu trúc nhân cách đã là thiên hướng mới
của xu thế xây dựng lịch sử - tâm hồn thay cho cấu trúc lịch sử - sự kiện phổ
biến trước kia. Nhân vật tích cực trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng vừa lý
tưởng vừa hiện thực khi được xây dựng với khái niệm nhân cách chính xác:
phạm trù của sự hài hòa giữa mặt “cá nhân” và “xã hội”, thậm chí cả mặt
“sinh vật” và “con người”. Nhân vật vì vậy “đời” hơn, thật hơn với những ưu
điểm và khuyết tật, với mặt mạnh và yếu.
Trước 1975 độc giả biết đến Ma Văn Kháng với tư cách là một nhà văn
chuyên viết về cuộc sống và con người miền núi. Sự gắn bó thân thiết và tình
cảm mến yêu dành cho đồng bào vùng cao được ghi dấu bằng 3 tập truyện
ngắn, 2 cuốn tiểu thuyết và 3 tập truyện viết cho thiếu nhi. Khi chuyển hướng
ngòi bút về đồng bằng, Ma Văn Kháng nhanh chóng tiếp cận với một hiện
thực mới, đó là “cuộc sống thành thị với nhiều màu sắc phong phú và độc
đáo, những hoạt động hối hả, nhộn nhịp suốt đêm ngày” [16]. Bằng sự nhạy
cảm tinh tế của mình cộng với tinh thần trách nhiệm của một ngòi bút tâm
huyết Ma Văn Kháng viết về cuộc sống và con người đô thị trong sự day dứt,
trăn trở khi phát hiện ra những “lỗ hổng”, những “khoảng trống”, những
22
“vùng lặng” đang tồn tại và vây bủa con người. Cảm hứng chủ đạo trong sáng
tác của Ma Văn Kháng là cái đời tư, thế sự.
Đặc điểm của ngòi bút văn xuôi Ma Văn Kháng là thiên hướng nhạy
cảm với mặt trái của cuộc sống và sự đồng cảm sâu sắc với những đau khổ
của kiếp người. Đối diện với cái ác, miêu tả cái ác, Ma Văn Kháng thể hiện
cái “nộ khí” của mình nhiều khi gay gắt và quyết liệt. Dường như luôn có một
cuộc đấu tranh thường trực và dai dẳng giữa hai đối cực: thiện - ác, tốt - xấu,
cao cả - thấp hèn, ánh sáng - bóng tối… trong tác phẩm của nhà văn.
nói luận giải của mình vào trong câu chuyện đó. Điều này tạo nên chất giọng
triết lý, triết luận rất sôi nổi trong tác phẩm của Ma Văn Kháng. Nghệ thuật
công khai bộc lộ tư tưởng qua những luận đề triết lý về một vấn đề nhân sinh
của cuộc sống. Giọng điệu của nhà văn bao giờ cũng là thiết tha, sôi nổi.
Người đọc dễ dàng phát hiện ra đâu là tiếng nói của nhân vật, đâu là tiếng nói
tác giả.
Nguyễn Minh Châu cũng triết luận nhưng tính triết luận kín đáo hơn.
Giọng điệu chủ yếu trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là giọng trữ tình
âu lo, lo âu trước tình trạng xuống cấp về nhân phẩm và đạo đức của một bộ
phận người chạy theo lối sống thực dụng, buông thả.
Trong khi đó Lê Minh Khuê vừa đằm thắm, nhẹ nhàng lại không kém
phần sâu sắc, dữ dội. Sự phê phán của tác giả với cái ác quyết liệt nhưng
không có sự cay cú, hằn học, đay nghiến con người. Lê Minh Khuê mang đến
cách cảm nhận cuộc sống dựa hẳn vào những ấn tượng và những cảm giác.
Trong cách cảm nhận cuộc sống của nhà văn người đọc còn phát hiện ra một
chất giọng buồn pha chút âu lo giống như tác phẩm của Nguyễn Minh Châu.
Khác nhau trong giọng điệu nhưng các cây bút lại khá thống nhất trong
quan niệm về giá trị của văn học. Văn học có giá trị bao giờ cũng đề cao nhân
24
tính, nhân tình và trách nhiệm của nhà văn không phải “nói ra chân lý” mà
phải “thức tỉnh ý thức hướng về chân lý hoặc chí ít cũng là thức tỉnh tình cảm
về phẩm giá con người trong họ” (Nguyễn Huy Thiệp). Day dứt băn khoăn
như Nguyễn Huy Thiệp, hay lo âu thấp thỏm như Nguyễn Minh Châu, Lê
Minh Khuê thì tác phẩm của họ đều có tác dụng cảnh tỉnh con người, hướng
con người đến Chân – Thiện – Mỹ. Với Ma Văn Kháng bao giờ cũng mạnh
mẽ, quyết liệt và rõ ràng khi đối diện với cái ác, cái xấu. Kết thúc tác phẩm
nhà văn luôn gợi trong lòng người đọc một cảm giác tin tưởng, hy vọng vào
phẩm giá con người cùng niềm tin vào một tương lai hoàn thiện hơn, sáng
láng hơn.
Đặt sáng tác của Ma Văn Kháng vào trong dòng mạch chung của văn