Luận văn: NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI - Pdf 15


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
●♥● NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

1.1.1. Khái niệm trần thuật ……………………………………………
08
1.1.2. Khái niệm điểm nhìn trần thuật …………………………………………
08
1.1.3. Phân loại điểm nhìn trần thuật …………………………………
10
1.2. Nhà văn Ma Văn Kháng và nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật trong
truyện ngắn thời kỳ đổi mới ………………………………………………………

13
1.2.1. Nhà văn Ma Văn Kháng ………………………………………………
13
1.2.2. Nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn
Kháng thời kỳ đổi mới …………………………………………………………….

19
1.2.2.1. Điểm nhìn bên ngoài ………………………………………………
19
1.2.2.2. Điểm nhìn bên trong …………………………
29
1.2.2.3. Sự dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật
37
Chương 2. KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

42
2.1. Khái niệm không gian trần thuật và thời gian trần thuật ……………………
42
2.1.1. Không gian trần thuật …………………………………………………
42

3.1.1. Khái niệm Giọng điệu trần thuật ……………………………
71
3.1.2. Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
73
3.1.2.1. Giọng điệu ngợi ca ………………………………………………
74
3.1.2.2. Giọng điệu xót xa ngậm ngùi ……………………………………
85
3.1.2.3. Giọng điệu triết lý, tranh biện ……………………………………
91
3.1.2.4. Giọng điệu trào lộng trang nghiêm ………………………………
95
3.2. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới …….
97
3.2.1. Khái niệm ngôn ngữ trần thuật …………………………………
97
3.2.2. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
98
3.2.2.1. Ngôn ngữ phong phú, đa dạng giàu tính khu biệt …………………
98
3.2.2.2. Ngôn ngữ đời thường giản dị ……………………………………
103
3.2.2.3. Ngôn ngữ giàu chất thơ, giàu hình ảnh và sức gợi cảm …………
108
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………
112
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………….
115

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trăng soi sân nhỏ được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
giải thưởng Đông Nam Á năm 1998; truyện San Cha Chải được giải cây bút
vàng của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam 1996 - 1998.
Không chỉ thành công ở đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn thành
công ở đề tài thành thị. Các tập truyện Ngày đẹp trời (1986), Trái chín mùa
thu (1988), Heo may gió lộng (1990), Trăng soi sân nhỏ (1995) … đã thể
hiện những giá trị nhân sinh sâu sắc và những trăn trở đầy trách nhiệm của
nhà văn về cuộc đời và con người.
Với quan niệm viết văn là việc “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”,
Ma Văn Kháng đã tạo cho mình một tiếng nói, một phong cách nghệ thuật
riêng. Các sáng tác của ông không chỉ đặt ra và lý giải những vấn đề có ý
nghĩa dân tộc mà còn mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như: vấn đề hôn nhân
gia đình, tình yêu, tâm linh, những vấn đề về nghệ thuật, vai trò sứ mệnh của
văn chương …
Ma Văn Kháng là nhà văn không ngừng đổi mới trong sáng tạo nghệ
thuật. Chính vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn
của ông. Tuy nhiên nghiên cứu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của
Ma Văn Kháng vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào.
Với mong muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định đặc điểm nghệ
thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghệ
thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới”.
Nghiên cứu thành công vấn đề này, luận văn sẽ góp phần khẳng định tài năng,
sự độc đáo của Ma Văn Kháng trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của tác giả.
2. Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn có những đóng góp đáng kể vào
công cuộc đổi mới của nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Lâu nay đã có khá

người, vẫn nhoi nhói nỗi đau trần thế. Không ít truyện của anh mang tính
chất luận đề và chất triết lý khá rõ nhưng vẫn nhuyễn, vẫn cuốn hút người
đọc vì văn của anh đậm đà, giàu hương vị, những chi tiết đời sống phong phú,
tiêu biểu và nhiều thuyết phục” [11]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Đáng chú ý nhất phải kể tới bài viết Khi nhà văn đào bới bản thể ở
chiều sâu tâm hồn của Lã Nguyên đăng trên Tạp chí Văn học số 9/1999.
Bằng cái nhìn sắc sảo, cách tiếp cận khoa học, tác giả đề cập đến nhiều bình
diện của truyện ngắn Ma Văn Kháng. Tác giả chia truyện ngắn Ma Văn
Kháng thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất là những truyện “thể hiện cái nhức
nhối xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã mông muội của những kẻ chưa
thành người và những người không được làm người”. Nhóm thứ hai là những
truyện “cất lên tiếng nói cảm khái thâm trầm trước thế sự hôm nay”. Nhóm
thứ ba là “những truyện ngắn thể hiện cảm hứng trào lộng, trang nghiêm
trước vẻ đẹp của cuộc đời sinh hoá hồn nhiên”.
Theo cách phân loại trên, tác giả cho thấy nhóm thứ nhất là những sáng
tác viết về đề tài miền núi, nhóm thứ hai là những tác phẩm viết về đời sống
thành thị trong sự đổi thay mạnh mẽ của đất nước sau chiến thắng 1975.
Nhóm thứ ba là những sáng tác đi sâu thể hiện niềm tin và tinh thần lạc quan
vào cuộc sống.
Cũng trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến một số đặc điểm nghệ
thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng như: tính công khai bộc lộ chủ đề, sự cố ý
tô đậm tính cách nhân vật, việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ
tục ngữ vào ngôn ngữ nhân vật … Điều đáng lưu ý là, trong bài viết này tác
giả đã đưa ra một số gợi mở về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma
Văn Kháng như: khoảng cách giữa người trần thuật với đối tượng trần thuật;
giọng điệu trần thuật … Tuy mới chỉ dừng lại ở những nhận định chứ chưa

nhận định có tính khái quát. Đây là những gợi ý quý báu của các tác giả để
chúng tôi tiếp tục nghiên cứu triển khai luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Triển khai đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn
Kháng thời kỳ đổi mới”, nhằm mục đích:
Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng ở các
phương diện điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ, không gian và thời gian trần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
thuật, từ đó góp tiếng nói khẳng định sự đổi mới, sáng tạo trong nghệ thuật
trần thuật của nhà văn.
Nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nghệ thuật trần
thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và nghệ thuật trần thuật trong truyện
ngắn nói riêng.
- Nghiên cứu một số phương diện của nghệ thuật trần thuật: điểm nhìn
trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, không gian và thời gian
trần thuật. Dựa trên cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, chúng tôi khảo sát và
phân tích những biểu hiện cụ thể của điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần
thuật, ngôn ngữ trần thuật, không gian và thời gian trần thuật trong truyện
ngắn Ma Văn Kháng, từ đó khẳng định những sáng tạo của tác giả.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là nghệ thuật trần thuật trong
truyện ngắn Ma Văn Kháng, thể hiện qua các phương diện điểm nhìn trần
thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, thời gian và không gian trần
thuật.
- Luận văn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Ma Văn Kháng sáng tác
sau năm 1975. Nhưng vì thời gian có hạn, khi phân tích chúng tôi tập trung

Chương 2. Không gian và thời gian trần thuật trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới
Chương 3. Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8

NỘI DUNG
Chương 1
ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1.1. Khái niệm trần thuật và điểm nhìn trần thuật
1.1.1. Khái niệm trần thuật
Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã thống nhất quan
niệm: “Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự, thể hiện mối
quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này. Nó đánh dấu sự
đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học từ hệ thống sự kiện thắt nút, mở nút
sang chủ thể thẩm mỹ của tác phẩm tự sự” [6,tr.248].
Cùng với những quan niệm đó, các tác giả trong cuốn Lý luận văn học
xác định cụ thể: “Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết,

Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của
đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện
tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên
ngoài” [50,tr.12], bởi sự trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng
tiến hành từ một điểm nhìn nào đó. Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật và
tổ chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điểm nhìn, một chỗ đứng
nhất định. Việc chọn một chỗ đứng thích hợp để người kể chuyện kể câu
chuyện là một trong những sự trăn trở đối với nhà văn khi sáng tạo tác phẩm.
Bởi vậy điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể vào sự thành công của tác
phẩm, qua đó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trên hành trình lao động nhọc
nhằn của mình.
Như vậy có nhiều quan niệm về điểm nhìn trần thuật. Ta có thể thấy:
Điểm nhìn trần thuật là vị trí, khoảng cách, góc độ chủ thể trần thuật dùng để
quan sát đối tượng trần thuật. Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, có thể
từ bên trong, có cái nhìn từ một phía, có cái nhìn từ nhiều phía … Trong quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
hệ giữa chủ thể trần thuật với người đọc thì chủ thể trần thuật được coi là
người chỉ đường và dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm theo các diễn
biến, xung đột, thắt nút, mở nút của các sự kiện đời sống.
1.1.3. Phân loại điểm nhìn trần thuật
Theo cuốn Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên) điểm nhìn trần
thuật được phân chia trên 2 bình diện:
* Xét về trường nhìn trần thuật được chia thành 2 loại: trường nhìn tác
giả và trường nhìn nhân vật
- Trường nhìn tác giả: Người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan
sát đối tượng. Kiểu trần thuật này mang tính khách quan tối đa cho lời trần
thuật.

Theo Pospelov, điểm nhìn trần thuật được chia làm 2 loại:
- Trần thuật khách quan: Khi có khoảng cách nhất định giữa các nhân
vật và người trần thuật. Loại trần thuật này gặp nhiều trong các tác phẩm tự
sự truyền thống.
- Trần thuật chủ quan: Người trần thuật nhìn thế giới theo con mắt của
một nhân vật, thâm nhập vào suy nghĩ và ấn tượng của người ấy. Khoảng
cách trong người trần thuật và đối tượng được trần thuật bị thủ tiêu. Điểm
nhìn từ hai phía được thâm nhập làm một. Theo Pospelov kiểu trần thuật này
xuất hiện khoảng 200 năm gần đây và ngày càng chiếm được ưu thế, được các
tác giả sử dụng ngày càng nhiều trong tác phẩm văn xuôi tự sự.
Theo Trần Đình Sử, điểm nhìn trần thuật được chia thành 5 loại:
- Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trần thuật và
của nhân vật.
- Điểm nhìn không gian, thời gian.
- Điểm nhìn bên trong, bên ngoài.
- Điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc.
- Điểm nhìn ngôn từ: bản thân mỗi hình thức ngôn từ đã mang một
quan điểm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
Dựa trên lý thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R.S. Choles và R.
Kellogg, Cao Kim Lan đề cập đến cách phân biệt điểm nhìn thành 3 loại
chính - tương ứng với ba kiểu người kể chuyện:
- Điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri: Người kể thông suốt mọi sự,
anh ta được quyền không chỉ miêu tả sự việc như anh ta đã thiết lập mà còn
có thể bình luận về chúng để khái quát hóa và để kể với người đọc những suy
nghĩ về sự kiện đã diễn ra.
- Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba: Người kể có đầy đủ

cứu tác phẩm chúng ta cần phải lựa chọn những cơ sở lý luận phù hợp. Để tập
trung giải quyết nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi nghiên cứu điểm nhìn trần
thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng theo hướng phân loại của tác giả
Phương Lựu: điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài.
1.2. Nhà văn Ma Văn Kháng và nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật
trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới
1.2.1. Nhà văn Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12
năm 1936 tại một làng quê nghèo ô Đồng Lâm, ngoại thành Hà Nội. Đó là
một làng cổ thanh bình nhưng vô cùng nghèo nàn, lạc hậu.
Năm 1954, hòa bình lặp lại, theo tiếng gọi của Đảng, Ma Văn Kháng
tạm biệt quê hương Hà Nội lên Tây Bắc tham gia hoạt động cách mạng.
Quãng đời trẻ trung của ông đã trải qua bao công việc khác nhau: dạy học,
làm thư ký cho bí thư tỉnh ủy Lào Cai, làm phóng viên, viết báo … Trước khi
trở thành nhà văn, Ma Văn Kháng đã gắn bó, thâm nhập đến tận cùng vào
“cuộc sống tuy vẫn còn lạc hậu nhưng rất đỗi chân tình của đồng bào các dân
tộc thiểu số, những mảnh đời gieo neo của người dân miền xuôi tha phương
cầu thực và lập nghiệp ở đây, những trai gái hăm hở lên khai hoang, xây
dựng quê hương mới, những điều mới mẻ từ quan hệ thầy trò ấm áp tình xuôi
ngược” [48]. Ma Văn Kháng đã thực sự bị cuốn hút từ chính cuộc sống lam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
lũ và tình người nơi đây. Ông viết báo, viết văn như một sự thôi thúc từ trái
tim dạt dào xúc động.
Phố cụt truyện ngắn mở đầu văn nghiệp của Ma Văn Kháng, được
trang trọng in trên trang nhất tuần báo Văn nghệ số 136, ngày 3/3/1961. Với
cốt truyện đơn giản, văn mạch rõ ràng, truyện ngắn đầu tay đã báo hiệu những
đường nét cơ bản sẽ được bồi đắp dày dặn tiếp về sau của đời văn tác giả.

Văn Kháng đã hòa nhập, thấu hiểu cuộc sống vùng Tây Bắc. Vì vậy trong
sáng tác của ông, hình ảnh người dân miền núi hiện lên thật đẹp. Người đọc
bắt gặp ở họ tình yêu quê hương xứ sở, sự trung thực, thật thà, say mê, yêu
đời và nhiệt tình cách mạng.
Ma Văn Kháng cần cù, bền bỉ đi vào cuộc sống. Ông gặp gỡ, hỏi han,
ghi chép và lặng lẽ, khiêm nhường chuyển hóa những hiểu biết về cuộc sống
nhân dân, hiện thực của đất nước lên những trang viết. Với những tác phẩm
của mình, nhà văn đã lần lượt đặt ra những vấn đề bức xúc từ các khía cạnh
của đời sống muôn mặt và qua các nhân vật đủ hình, đủ kiểu.
Cảm hứng bao trùm trong truyện ngắn Ma Văn Kháng trước 1975 là sự
khẳng định, ngợi ca những nhân tố mới, con người mới, cuộc sống mới trên
quê hương đồng bào dân tộc ít người. Dù nghệ thuật thể hiện có khác nhau
song nhà văn vẫn bộc lộ cách nhìn của mình qua chủ đề tư tưởng tác phẩm.
Nằm trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam trước 1975, nhà
văn thường đề cao con người cộng đồng, coi nhẹ con người cá nhân. Con
người trong những tác phẩm giai đoạn này là những con người có ý thức
chính trị cao, quên “cái tôi” riêng, hy sinh cho cái chung một cách thanh
thản. Với khuynh hướng sử thi, các nhân vật được hiện lên như một người đại
diện xứng đáng cho sức mạnh của cộng đồng dân tộc. Nhà văn thiên về khẳng
định ngợi ca những phẩm chất lý tưởng của anh hùng cách mạng mà ít quan
tâm đến cái tôi cá nhân của họ. Ma Văn Kháng đã đứng trên quan điểm chung
của cộng đồng dân tộc mà miêu tả, kể chuyện. Trong những tháng ngày hào
hùng của đất nước, cả dân tộc cùng hướng về một phía, tất cả vì tiền tuyến,
mọi người đều dồn hết tâm lực để phục vụ lợi ích cao nhất của cộng đồng thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16
những sáng tác trước 1975 của Ma Văn Kháng đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh
lịch sử của mình.

đây có sự sâu sắc chín muồi, đầy sự chiêm nghiệm đúc kết của một nhà văn
từng trải, sống hết mình với cuộc đời. Với Ma Văn Kháng, cuộc sống giờ đây
thật sự đa dạng phong phú, bề bộn và phức tạp. Theo ông, chính sự đa dạng,
phức tạp đó đã đem đến cách nhìn mới và cảm hứng mới cho nhà văn.
Sự đổi mới đầu tiên chính là đổi mới đề tài. Truyện ngắn tập trung vào
hai đề tài chính: đề tài miền núi và thành thị. Trước đây, Ma Văn Kháng viết
về đề tài miền núi để phản ánh cuộc sống lao động, chiến đấu của đồng bào
dân tộc. Giờ đây ông khai thác đề tài miền núi trên một bình diện mới. Nhà
văn phản ánh, đề cập những vấn đề về cuộc đời và số phận của con người.
Ở mảng đề tài thành thị, Ma Văn Kháng hướng ngòi bút của mình vào
những vấn đề nóng hổi: vấn đề đời tư, thế sự, nhân sinh … Ông đề cập đến
nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người hôm nay: tình yêu, tình dục, hôn
nhân, gia đình, sự toan tính vụ lợi, cơm áo gạo tiền … Nhà văn trăn trở nhiều
cho số phận con người, cho sự tác động chi phối khủng khiếp của hoàn cảnh
với con người. Ông chú ý đến cuộc đụng độ quyết liệt giữa con người với con
người, con người với môi trường - hoàn cảnh sống, con người trong quan hệ
với chính mình để giữ vững nhân cách và hoàn thiện nhân cách.
Một số tác phẩm là lời cảnh báo về tình trạng phi nhân tính, tha hóa của
con người. Trung du chiều mưa buồn là câu chuyện buồn đau về cách đối
xử của con người với con người. Nhân vật bà Nhàn đã đi đến tận cùng của sư
vô cảm. Ma Văn Kháng quan niệm: sự vô cảm dẫn đến cái ác, ác không chỉ
trong hành động, ác còn là sự vô tâm, dửng dưng, thiếu trách nhiệm với con
người. Ma Văn Kháng đang lo ngại cho một căn bệnh đang phát triển trong xã
hội hiện nay: bệnh lãnh cảm, thờ ơ, dửng dưng, lạnh lùng trước nỗi đau của
người khác. Nhà văn báo động cho một tình trạng của xã hội thời đổi mới.
Trong truyện Đợi chờ, Ma Văn Kháng diễn tả cái khắc khoải, hy vọng của
một người cha với đứa con gái yêu dấu. Ông Nhân là một người cha suốt đời
vì con. Trong ông luôn thường trực tình yêu con song đứa con lại phũ phàng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
sống: khuynh hướng sống cho tốt hơn và khuynh hướng sống cho sướng hơn.
Tác giả luôn miêu tả con người như nó vốn có, không lý tưởng, thần thánh
hóa. Nhân vật được nhà văn rọi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau để tìm ra
cốt lõi bên trong bao gồm cả cái hoàn thiện lẫn cái chưa hoàn thiện. Chính vì
vậy, mạch trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau năm 1975 cũng có
sự thay đổi mạnh mẽ. Lúc này tư duy tiểu thuyết chiếm ưu thế, nó kéo đối
tượng trần thuật xích lại gần người kể chuyện, đặt người kể chuyện và đối
tượng trần thuật vào cùng một đẳng cấp giá trị. Vì thế, bên cạnh điểm nhìn
bên ngoài còn có điểm nhìn bên trong. Có khi người trần thuật ẩn mình đi để
nhân vật tự bộc lộ trạng thái, cảm xúc của mình, cũng có khi nhà văn lại thể
hiện cái tôi của mình trong tác phẩm. Ông ý thức về sự trải nghiệm của chính
mình, muốn lên tiếng giãi bày, đối thoại với bạn đọc mọi vấn đề trong đời
sống.
Qua tìm hiểu quá trình sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng ta có thể
thấy sự đổi thay rõ nét trong cái nhìn đời sống, trong cách lựa chọn đề tài và
trong nghệ thuật thể hiện của nhà văn. Chính sự thay đổi ấy dẫn đến sự đổi
mới, đa dạng hóa các điểm nhìn trần thuật và giọng điệu trần thuật trong sáng
tác của ông.
1.2.2. Nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn
Kháng thời kỳ đổi mới
1.2.2.1. Điểm nhìn bên ngoài
Điểm nhìn bên ngoài luôn tạo ra khoảng cách giữa người trần thuật và
nhân vật. Vì vậy, ở điểm nhìn này người trần thuật sẽ có cái nhìn khách quan,
tỉnh táo để thuật lại, tả lại các nhân vật và sự kiện. Từ đó làm nổi bật những
khía cạnh khác nhau của bức tranh xã hội phong phú đa dạng.
Ở điểm nhìn này, người trần thuật phải là người đảm bảo được các yếu

điểm nhìn bên ngoài để quan sát và miêu tả. Chốn hoang sơ rừng rú “của thời
mới khai thiên” sản sinh ra cái hồn nhiên, thuần phác. Đó cũng là vương quốc
tự do của bản năng tàn bạo. Khun trong truyện Vệ sỹ của quan châu là một
“bản năng bán khai kinh thiên động địa”. Hắn ngửi được hơi lạ trong gió,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21
nghe được bằng da thịt, nhìn xuyên đêm tối. Hắn thích giết người và không sợ
bị người ta giết. Hắn là “một đống bù xù hỗn mang mông muội”. Người ta băn
khoăn không hiểu là “quỷ sứ hiện hình vào Khun hay chính Khun là quỷ sứ
siêu đẳng”. Khun tàn ác và bạo liệt nhưng y không ý thức được hành động
của mình.
Lựa chọn điểm nhìn bên ngoài, ngay từ đầu truyện, để tô đậm tính
khách quan hiện thực, người trần thuật đã phác họa ngoại hình kỳ dị của vệ sỹ
Khun: “Tất cả giai nhân trong nhà quan châu, thổ ty Vàng A Ký, kể từ mụ
Coỏng người Hoa nấu ăn tới bọn lính hầu, người xà ích đánh xe ngựa, đều
nói rằng: Khun, vệ sỹ tin cẩn số một của quan châu, đêm chỉ ngủ có một mắt,
một tai. Mà con mắt ngủ lại là con mắt chột. Cái tai ngủ lại là cái tai cắt
vành. Cho nên, về thực chất đêm Khun không ngủ” [25,tr.29].
Giải thích cho sự tàn bạo của Khun, người trần thuật kể lại lai lịch cùng
những hành động dã man trong cuộc đời làm vệ sỹ của hắn: “Khun là con
hoang là sản phẩm của những cuộc chinh chiến, sát phạt tàn hại giữa các bầy
đoàn, phe cánh. Cuối cùng, sau khi đã hoàn thiện toàn bộ tính cách hung bạo,
Khun trở thành nanh hổ, vuốt gấu, răng chó, dao, súng, đao phủ khát máu,
chết chóc và mù lòa của quan châu Vàng A Ký” [25,tr.36].
Những chặng đường đời của Khun được sắp xếp qua từng trang truyện,
hành động nọ nối tiếp, móc xích với hành động kia. Người trần thuật đã tạo ra
một khoảng cách cần có để câu chuyện mang tính khách quan.
Từ điểm nhìn bên ngoài, tác giả đã khắc họa hình ảnh Khun - một bản

nào mà trở nên giàu có như vậy? Dòng trần thuật của tác giả tiếp tục đưa
người đọc đến với những hình thức cai trị của Lỉn cùng với cuộc sống mông
muội của những người dân xứ Giáy này: “Chín người vợ thuộc chín sắc tộc
trong vùng Lỉn cai quản, với hàng ngàn mẫu ruộng được chia theo danh
nghĩa: ruộng chức dịch, ruộng phu, ruộng lính, nhưng thực chất chỉ thuộc sở
hữu một ông chủ là Lỉn. Hơn một vạn dân, hàng trăm năm nay đã quen lệ bầy
đàn, bị bóc lột bằng địa tô lao dịch, dưới hình thức công không bằng địa tô
hiện vật, dưới hình thức cống nạp “thóc khách”, “gà khách” cho Lỉn mà vẫn

Trích đoạn Thời gian tâm tưởng về với quá khứ Sự đan xen, xáo trộn các bình diện thời gian Khái niệm Giọng điệu trần thuật Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới Giọng điệu xót xa ngậm ngùi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status