Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết việt nam sau năm 1975 - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUẤT

NHÂN VẬT NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU NĂM 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUẤT

NHÂN VẬT NGƢỜI TRÍ THỨC TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU NĂM 1975

Chuyên ngành: Lý luận văn học
MÃ SỐ: 62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LÝ HOÀI THU



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................3

1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................ 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án .................................... 5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án ..................................... 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án ................................................... 6
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án ............................................... 7
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án ............................................... 8
7. Cấu trúc của luận án ............................................................................. 8
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................................9

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài của luận án ........................... 9
1.1.1. Khái niệm loại hình nhân vật......................................................................9
1.1.2. Khái niệm trí thức ......................................................................................12
1.1.3. Vài nét về nhân vật người trí thức trong văn học ...................................16
1.2. Tình hình nghiên cứu nhân vật ngƣời trí thức trong văn học Việt
Nam 21
1.2.1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945......................................................21
1.2.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1975 .....................................................................23
1.2.3. Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX .......................................................25
1.2.4. Từ đầu thế kỷ XXI đến nay ........................................................................27
Chƣơng 2. DIỆN MẠO CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 VÀ
SỰ TIẾP NỐI ĐỀ TÀI NGƢỜI TRÍ THỨC ............................................................31

2.1. Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 ...................... 31
2.1.1. Vài nét về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và tình hình văn học ........31

4.1.1. Miêu tả ngoại hình và hành động ......................................................... 103
4.1.2. Biểu hiện nội tâm .................................................................................... 110
4.2. Thể hiện nhân vật trong không - thời gian nghệ thuật .................. 119
4.2.1. Không gian vật thể và thời gian hiện tại............................................... 120
4.2.2. Không gian hồi ức và thời gian quá khứ .............................................. 126
4.2.3. Kiểu không gian phi thời gian ............................................................... 128
4.3. Thể hiện nhân vật qua ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật .......... 130
4.3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật .............................................................................. 130
4.3.2. Giọng điệu nghệ thuật ............................................................................ 136
KẾT LUẬN .............................................................................................................148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ......................................................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................152
PHỤ LỤC ................................................................................................................168

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Ngƣời trí thức vốn xuất hiện sớm trong đời sống xã hội. Ngay từ khi có
nền văn minh, tri thức đƣợc đề cao thì cũng là lúc ngƣời trí thức xuất hiện. Cho dù
đƣợc gọi bằng các danh từ khác nhau nhƣ: nhà nho, kẻ sĩ, sĩ phu, học giả, trí thức…,
nhƣng bao giờ ngƣời trí thức cũng tiêu biểu cho trí tuệ, lƣơng tri, cho đỉnh cao tri
thức, bao giờ cũng là đại diện tiêu biểu cho thời đại của họ. Từ chỗ giữ vị trí quan
trọng trong đời sống, ngƣời trí thức bƣớc vào văn chƣơng và trở thành nhân vật
trong các tác phẩm. Từ khi văn học viết ra đời đến nay, nhân vật ngƣời trí thức luôn
là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn của các nhà văn thuộc nhiều thế hệ. Lịch
sử văn học thế giới đã cho thấy, sự xuất hiện của kiểu nhân vật trí thức có vai trò to
lớn trong việc làm nên thành tựu văn học Phục Hƣng ở Tây Âu thế kỷ XVI, văn học

1975, sự xuất hiện trở lại với một số lƣợng lớn trong một tâm thế mới của kiểu nhân
vật trí thức mới thực sự trở thành một hiện tƣợng đặc biệt không thể không lƣu tâm.
Trong nghiên cứu phê bình văn học, nhân vật đƣợc coi là một trong những
đối tƣợng nghiên cứu quan trọng hàng đầu. Nó không chỉ là nơi thể hiện những
chiêm nghiệm cuộc sống, tƣ duy nghệ thuật, gửi gắm ƣớc mơ khát vọng của nhà
văn mà còn là hình ảnh phản chiếu văn hóa, tƣ tƣởng và những bƣớc tiến của thời
đại từ nhiều góc độ. Muốn hiểu nhà văn, không thể không nghiên cứu nhân vật,
muốn hiểu thời đại cũng không thể không nghiên cứu nhân vật, đặc biệt muốn đánh
giá thành tựu của một thời kỳ văn học lại càng không thể bỏ qua nhân vật. Hơn nữa,
trong đời sống văn học đƣơng đại, nhân vật ngƣời trí thức đang làm nên một hiện
tƣợng đặc biệt, đó là lí do khiến việc nghiên cứu về nhân vật trí thức trong tiểu
thuyết sau 1975 trở nên hấp dẫn đối với chúng tôi.
Cho đến nay, tiểu thuyết Việt Nam vẫn ở thì hiện tại chƣa hoàn thành và
vẫn còn nhiều khoảng trống cần đƣợc khai thác. Tìm hiểu một số công trình nghiên
cứu về tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, chúng tôi nhận thấy, nhân vật ngƣời trí thức
đã đƣợc một số tác giả đề cập đến nhƣng chƣa thực sự chuyên sâu, hệ thống và toàn
diện. Do vậy, việc nghiên cứu nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam
sau 1975 vẫn là một yêu cầu đặt ra đối với khoa học. Từ việc nhận định tầm quan
trọng của kiểu nhân vật trí thức trong tiến trình vận động và phát triển của văn học
Việt Nam nói chung và tiểu thuyết sau 1975 nói riêng, chúng tôi quyết định chọn
Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 làm đề tài cho
luận án tiến sĩ của mình.

4


1.3. Trong khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã có, chúng tôi nhận thấy
các nhà nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến nhân vật từ góc nhìn xã hội học, góc
nhìn thi pháp học, còn hƣớng nghiên cứu từ góc độ loại hình chƣa đƣợc quan tâm.
Bởi vậy, thực hiện đề tài Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau

vật ngƣời trí thức của các nhà văn sau 1975 (có đối chiếu với các phƣơng thức thể
hiện các kiểu nhân vật khác) để thấy đóng góp của họ cho công cuộc cách tân thi
pháp nhân vật, rộng hơn là cách tân thi pháp tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ sau 1975,
đặc biệt là sau đổi mới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài luận án, chúng tôi xác định đối tƣợng nghiên cứu chính
là nhân vật ngƣời trí thức trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của Việt Nam sáng tác
sau năm 1975 (có phụ lục kèm theo). Tuy nhiên, để làm rõ đối tƣợng này, chúng tôi
còn nghiên cứu nhân vật trí thức trong văn học Việt Nam trƣớc 1975, nhân vật trí
thức trong một số tác phẩm văn học nổi tiếng thế giới và các kiểu nhân vật khác nhƣ
công nhân, nông dân, ngƣời lính… trong mối quan hệ so sánh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu chính của luận án là tiểu thuyết Việt
Nam sáng tác từ sau 1975 đến hết năm 2016 viết về nhân vật ngƣời trí thức.
- Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu thêm các tác phẩm văn học Việt Nam
trƣớc 1975, các tác phẩm văn học nƣớc ngoài tiêu biểu viết về nhân vật ngƣời trí
thức để làm cơ sở để so sánh .
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp, có
thể kể đến các phƣơng pháp chính:
4.1. Phương pháp loại hình: Đƣợc sử dụng nhằm tìm ra các đặc trƣng loại
hình của nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 để phân biệt
nó với đối tƣợng cùng loại trong văn học trƣớc 1975, trong các tác phẩm văn học
lớn trên thế giới và các kiểu nhân vật khác trong văn học.
4.2. Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng kết hợp phƣơng pháp so sánh
đồng đại và lịch đại để thấy sự khác nhau trong cách nhìn nhận, cách khám phá của
nhà văn về nhân vật trí thức, thấy đƣợc sự xuất hiện của kiểu nhân vật trí thức nằm

6

5.4. Luận án đặt đề tài ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

nói riêng, đề tài ngƣời trí thức trong văn học Việt Nam nói chung vào trong mối

7


tƣơng quan với sự phát triển của đề tài ngƣời trí thức trong dòng chảy văn học
thế giới.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Luận án khẳng định một hƣớng nghiên cứu mới cho kiểu hình tƣợng
nhân vật trí thức, đồng thời khẳng định nghiên cứu nhân vật từ đặc điểm loại hình là
hƣớng nghiên cứu có nhiều ƣu điểm.
6.2. Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên
cứu, giảng dạy Lí luận văn học và Văn học Việt Nam ở bậc trung học phổ thông và
đại học.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chƣơng:
- Chương 1 .Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2. Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và sự tiếp nối đề
tài ngƣời trí thức trong văn học
- Chương 3. Nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ
đặc điểm loại hình
- Chương 4. Nhân vật ngƣời trí thức trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhìn từ
phƣơng thức biểu hiện.

8


Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

9


loại hình tác phẩm, các nhà nghiên cứu không thể không quan tâm đến đặc điểm
loại hình của kiểu nhân vật trong sáng tác. Bởi vậy, việc nghiên cứu nhân vật ở góc
độ loại hình cũng đã bƣớc đầu đƣợc tiến hành, tuy nhiên vẫn chƣa có những công
trình nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nhân vật.
“Nhân vật văn học” (tiếng Anh: character) là khái niệm đƣợc sử dụng để chỉ
con ngƣời, sự vật, hiện tƣợng nổi bật đƣợc nhà văn xây dựng trong tác phẩm văn
học. Nó không chỉ là “phƣơng tiện khái quát hiện thực” [125, tr. 284], “khái quát
tính cách” [60, tr. 202] mà còn là đối tƣợng để “thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí
tƣởng thẩm mĩ của nhà văn về con ngƣời” [60, tr. 203]. Đối với ngƣời cầm bút,
nhân vật là nơi giãi bày tâm tƣ tình cảm, là nơi trình bày nhận thức về con ngƣời,
đời sống, thể hiện lí tƣởng thẩm mĩ. Đối với bạn đọc, nhân vật là tâm điểm để giải
mã các vấn đề về con ngƣời và hiện thực, là cơ sở để đánh giá tài năng và đóng góp
của mỗi nhà văn. Nhân vật vừa là trung tâm của hoạt động sáng tác, vừa là trung
tâm của hoạt động tiếp nhận, vì thế, nó sớm nhận đƣợc sự quan tâm. Ngay từ thời
cổ đại, khi xuất hiện những công trình nghiên cứu văn học đầu tiên, nhân vật đã đi
vào đời sống lí luận. Trong Nghệ thuật thi ca, Aristotle lần đầu tiên nói đến nhân
vật kịch (Chƣơng XIII), đƣa ra nhận định về bốn điểm quan trọng hơn cả ở tính
cách kịch là: “cao thƣợng, thích hợp, giống nhƣ thật và nhất quán” (Chƣơng XV)
[3, tr. 64]. Việc Aristotle nhắc đến và phân tích nhân vật kịch trong mối liên hệ với
sự mở nút của cốt truyện cho ta thấy ông đã ý thức đƣợc vai trò quan trọng của nhân
vật trong tác phẩm. Cùng với sự phát triển của lí luận, nhân vật văn học ngày càng
đƣợc quan tâm, hầu hết các công trình quan trọng của lí luận văn học Đông - Tây
đều dành một phần cho việc nghiên cứu con ngƣời trong tác phẩm văn học. Ở Việt
Nam, nền lí luận văn học đƣợc hình thành đầu thế kỷ XX trên cơ sở học tập, tiếp
thu thành tựu lí luận của phƣơng Tây. Việc nghiên cứu về con ngƣời trong văn học
đã đƣợc thực hiện ngay từ đầu thế kỷ XX nhƣng mới chỉ dừng lại ở mức độ khiêm
tốn trong các công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm. Số công trình nghiên cứu

phân loại nhân vật. Giáo trình Lí luận văn học của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội
và Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đều
phân loại nhân vật văn học dựa trên tƣ duy loại hình. Căn cứ vào vị trí, vai trò nhân
vật trong tác phẩm ta có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. Căn cứ
vào tƣ tƣởng và lí tƣởng xã hội của nhà văn có nhân vật chính diện (tích cực), nhân
vật phản diện (tiêu cực). Căn cứ vào phƣơng thức biểu hiện có nhân vật trữ tình,

11


nhân vật tự sự và nhân vật kịch. Căn cứ vào quan niệm của thời đại về vai trò của
nhân vật ta có: nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng, nhân vật
ngụ ngôn...[49, tr. 44]. Trong nghiên cứu nhân vật chúng ta còn thấy xuất hiện cách
phân loại nhân vật căn cứ vào công việc, nghề nghiệp: công nhân, nông dân, ngƣời
lính, trí thức, quan chức... Có thể hiểu loại hình nhân vật là tập hợp tất cả các nhân
vật có chung những đặc trƣng cơ bản nào đó đƣợc lặp đi lặp lại trong lịch sử văn
học để phân biệt với kiểu nhân vật khác trong thế giới nhân vật. Việc phân loại nhân
vật để xác định loại hình có thể dựa trên nhiều căn cứ nhƣ: nghề nghiệp, công việc,
vị trí xã hội; đặc điểm tâm lí, tƣ tƣởng; vai trò, vị trí trong việc tổ chức tác phẩm;
vai trò trong việc thể hiện lý tƣởng xã hội của nhà văn... Tùy theo mục đích nghiên
cứu mà ngƣời nghiên cứu lựa chọn các cách phân loại riêng. Tuy nhiên, việc phân
loại cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối.
1.1.2. Khái niệm trí thức
Đầu thế kỷ XX, khái niệm “trí thức” mới xuất hiện nhƣng trong thực tế,
ngƣời trí thức xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động thành lao động chân
tay và lao động trí óc. Trí thức không làm việc trong một nghề nhất định, họ là
ngƣời lao động trí óc làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau, đƣợc gọi bằng
các tên gọi khác nhau theo ngành nghề nhƣ: nhà thiên văn học, học giả, quân sƣ,
nhà khoa học, nhà nho, kẻ sĩ, thầy thuốc, thầy giáo, nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc
sĩ, kỹ sƣ, luật sƣ..., nhƣng ở thời đại nào, họ cũng là hình ảnh biểu trƣng cho đỉnh

đƣợc coi là đỉnh cao của trí tuệ, tri thức, là nhân vật không thể thiếu trong xã hội
văn minh. Trong Bài ký đề tên tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ
ba, Thân Nhân Trung có nhắc đến vai trò của ngƣời trí thức trong xã hội phong
kiến: “Hiền tài là nguyên khí của đất nƣớc. Nguyên khí thịnh thì thế nƣớc mạnh mà
vƣơn lên cao; nguyên khí suy thì thế nƣớc yếu rồi xuống thấp. Bởi vậy các đấng
Thánh đế minh vƣơng chẳng ai không lấy việc gây dựng ngƣời tài, kén chọn kẻ sĩ
bồi đắp nguyên khí làm việc đầu tiên” [150, tr. 76]. Trong Chiếu cầu hiền do Ngô
Thì Nhậm thay lời Quang Trung viết vào năm 1788 - 1789 nhằm thuyết phục sĩ phu
Bắc Hà (các trí thức của triều đại Lê - Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn cũng
khẳng định vai trò rƣờng cột của ngƣời trí thức: “Từng nghe nói rằng: Ngƣời hiền
xuất hiện ở đời, thì nhƣ ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc
Thần, ngƣời hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu nhƣ che mất ánh sáng, giấu đi vẻ
đẹp, có tài mà không đƣợc dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra ngƣời hiền vậy”
[12, tr. 68]. Cao Bá Quát trong sáng tác của mình thể hiện rõ quan điểm khi chia trí

13


thức thành ba loại: “ngƣời có trí lớn nhƣ chim hồng hạc bay tít trên mây xanh”,
“ngƣời thanh cao nhƣ chim hạc đen ngủ một mình bên sƣờn núi”, “loại ... đáng
khinh nhƣ những con chim hoàng điểu chỉ tìm chỗ kiếm ăn ở nơi quyền quý” và thể
hiện rõ quan điểm “chỉ có hai loại trên mới đáng là trí thức”, bởi vì “không thể gọi
là trí thức những kẻ chỉ biết lo lắng cho bản thân mình mà không thấy đƣợc lẽ sống,
không có trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân” [98, tr. 29].
Thời hiện đại, vấn đề về ngƣời trí thức đƣợc nói đến nhiều hơn, có nhiều
quan điểm khác nhau về trí thức. Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Lƣơng
Ngọc trong bài “Trí thức” (Trong cuốn Xuân thu nhã tập, xuất bản năm 1942) khi
bàn về trí thức cho rằng có “bằng cấp nọ khoa học kia” chƣa phải là trí thức, “thấy
rộng nghe nhiều chƣa phải là trí thức”, “trí khôn ngoan chƣa phải là trí thức”, trí
thức “ở sâu và cao hơn” bằng cấp, “biết cảm thông với sự vật”, “không theo đuôi

phản biện xã hội” (Ngô Bảo Châu), “Đóng góp theo kiểu ngƣời trí thức có nghĩa là
dùng những khả năng mà ngƣời ta đặc biệt “associate” với trí thức: khả năng suy
nghĩ độc lập, không để mình bị nhồi sọ hay bịt mắt, biết tự mình suy xét, khả năng
tự học, tự tìm “information”, đánh giá và kết hợp information để có một cái nhìn
đúng đắn về xã hội, tự tìm hiểu về những vấn đề của xã hội, và từ đó tự suy ra con
đƣờng phải làm do sự thúc đẩy của lƣơng tâm…” (Phạm Quang Tuấn), “trí thức
trƣớc hết phải là ngƣời có tri thức”, và "phải biết đấu tranh cho chân lí, không vào
hùa với số đông để cảm thấy mình hòa đồng hoặc tự tách mình ra để mặc kệ đời”
(Đặng Vũ Tuấn Sơn), “Trí thức là ngƣời nuôi dƣỡng, bảo vệ, truyền bá những giá
trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng nhƣ những trung giới trong các quá
trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội” (Giáp Văn Dƣơng)
(Tham khảo tại tài liệu 237). Trong cuốn Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử
dân tộc, tác giả Nguyễn Văn Khánh khẳng định trí thức “là những ngƣời có học vấn
cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí thức
bao gồm các nhà khoa học, kỹ sƣ, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sƣ, nhà
văn, nghệ sĩ...” [98, tr. 29 - 30]. Ông khẳng định trí thức có bốn chức năng cơ bản:
- Chức năng sáng tạo: Đây là chức năng cơ bản nhất. Trí thức làm việc
để sáng tạo ra các giá trị mới trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật,
khoa học, kỹ thuật...
- Chức năng phê phán: Chức năng này góp phần thúc đẩy khoa học,
giáo dục, văn học nghệ thuật không ngừng vận động và phát triển. Theo

15


C.Mác, trí thức là ngƣời “phê bình không nhân nhƣợng những gì đang
hiện hữu”.
- Chức năng đào tạo, bồi dƣỡng: Trí thức có nhiệm vụ đào tạo lớp trí
thức mới kế cận cho đất nƣớc.
- Chức năng xã hội: Giáo dục cộng đồng, quản lý xã hội, quản lý đất

ƣớc mơ khát vọng. Tác phẩm kịch khai thác ngƣời trí thức ở phƣơng diện nhận
thức, tƣ tƣởng qua các xung đột (bao gồm cả xung đột nội tâm, xung đột xã hội).
Tác phẩm nghị luận khai thác ngƣời trí thức ở khía cạnh thái độ. Chỉ với tác phẩm
tự sự, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết, trí thức mới đƣợc khai thác một cách đầy đủ,
toàn vẹn cả hình thể và nội tâm, ở các chi tiết phong phú về cuộc đời, số phận.
Trong văn học thế giới, nhân vật ngƣời trí thức xuất hiện trong nhiều
khuynh hƣớng, trào lƣu văn học khác nhau, góp phần làm nên nhiều tài năng văn
chƣơng lớn. W.Shakespeare (1564 – 1616), nhà viết kịch của Anh thời Phục Hƣng,
đƣợc nhân loại biết đến một phần bởi đã xây dựng đƣợc hình tƣợng Hamlet bất tử
(trong vở kịch Hamlet). M.Lermontov từng ca ngợi: “Nếu nhƣ Shakespeare vĩ đại
thì đó là ở Hamlet. Nếu nhƣ Shakespeare thật là Shakespeare, một thiên tài vô cũng
rộng lớn, đi sâu vào lòng ngƣời và những quy luật của vận mệnh, một thiên tài độc
đáo, nghĩa là một Shakespeare không ai bắt chƣớc đƣợc thì đó chính là ở Hamlet”
[38, tr. 216]. J.W.Goethe (1749 – 1832), nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch
ngƣời Đức, cũng trở nên vĩ đại nhờ kịch thơ Faust, tác phẩm thể hiện những dằn vặt
nội tâm, hành trình kiếm tìm sự thật và những nỗ lực để thay đổi thế giới của ngƣời
trí thức. Nói về Goethe có ý kiến cho rằng: “chỉ riêng vở kịch Faust cũng đã đủ
khiến ông trở thành bất tử” [38, tr. 373]. Ngoài Faust, Goethe còn nổi tiếng với tiểu
thuyết Vecte, một tác phẩm có yếu tố tự truyện rõ nét. H.Balzac (1799 – 1850) tiểu
thuyết gia vĩ đại ngƣời Pháp cũng không quên khắc họa đậm nét hình ảnh ngƣời trí
thức tha hóa gợi nhiều trăn trở cho độc giả khi đọc Tấn trò đời. F.Kafka (1883 1924), nhà văn nổi tiếng ngƣời Tiệp gốc Do Thái xây dựng nhân vật trí thức gợi
nhiều ám ảnh, cùng với các nhân vật khác, ngƣời trí thức trong tác phẩm của ông
góp phần nói lên “tiếng nói đa âm về thân phận con ngƣời”. Các nhà văn Nga đặc
biệt quan tâm đến trí thức. Đọc truyện của N.V.Gogol (1809 - 1852, ngƣời đọc có
thể nhận ra trí thức là nguồn cảm hứng lớn. Nhân vật trí thức hấp dẫn nhất trong
sáng tác của ông thƣờng là những con ngƣời đau khổ (Đại lộ Nevsky, Nhật kí người
điên, Chiếc áo khoác) hoặc tha hóa (Bức chân dung). N.G.Chernyshevsky (1828 –

17


thời kỳ đầu của văn học viết. Nhắc đến thơ Thiền thời Lý, chúng ta không thể

18


không nhớ đến ngƣời trí thức, những vị thiền sƣ thấu hiểu quy luật, an nhiên tự tại
trƣớc những biến đổi của cuộc đời, luôn nghĩ cho dân cho nƣớc (Cáo tật thị chúng
của Thiền sƣ Không Lộ, Vận nước của Thiền sƣ Pháp Thuận). Nhắc đến thơ
Nguyễn Trãi là nhớ đến hình ảnh ngƣời quân tử thẳng ngay chính trực lúc nào cũng
lo cho nƣớc cho dân (Tùng, Bảo kính cảnh giới - số 43). Nghĩ đến thơ Lê Thánh
Tông là hình dung tới ngƣời quân tử khí tiết thanh cao, coi thƣờng danh lợi, ông vua
hiền minh “Trống dời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu”. Nghĩ
đến Nguyễn Bỉnh Khiêm là nghĩ tới hình ảnh nhà nho ẩn dật chọn cách sống lánh
đục về trong để di dƣỡng tinh thần (Nhàn). Nói đến Nguyễn Du không khỏi suy tƣ
trƣớc nỗi băn khoăn ngƣời nghệ sĩ chẳng biết ba trăm năm sau liệu còn có ai đồng
cảm (Độc tiểu thanh ký). Nói đến Nguyễn Công Trứ không thể không nói đến ngƣời
anh hùng thƣ kiếm rất mực tài hoa (Chí làm trai, Bài ca ngất ngưởng). Còn bàn về
Nguyễn Dữ là nhớ đến ngƣời trí thức đầy lòng tự tôn dân tộc, ngƣời trí thức sẵn
sàng đứng lên bảo đấu tranh với cái xấu cái ác để bảo vệ công lí, ngƣời trí thức xem
thƣờng chuyện công danh, bỏ ngoài tai chuyện thế sự, lấy nhàn làm trọng (Câu
chuyện ở đền Hạng Vương, Chức phán sự đền Tản Viên, Câu chuyện đối đáp của
người tiều phu ở núi Na); bàn đến Lê Hữu Trác không thể không khâm phục một
thầy thuốc đầy lƣơng tâm trách nhiệm, một bề tôi trung thành, không ham vinh hoa,
chỉ thích nơi điền viên thôn dã (Thượng kinh ký sự)... Nhƣng phải đến đầu thế kỷ
XX, khi văn xuôi chữ quốc ngữ ra đời thì hình tƣợng ngƣời trí thức mới đƣợc thể
hiện đầy đủ, rõ nét. Tác phẩm của các nhà văn lãng mạn đầu thế kỷ XX nhƣ Hoàng
Ngọc Phách (Tố Tâm), Khái Hƣng (Nửa chừng xuân), Nhất Linh (Đoạn tuyệt) hấp
dẫn ngƣời đọc bởi xây dựng đƣợc hình tƣợng ngƣời thanh niên trí thức tiểu tƣ sản
có tƣ tƣởng duy tân, mạnh dạn phá bỏ rào cản của chế độ hôn nhân phong kiến bao
đời ngự trị để ca ngợi tình yêu và cuộc sống tự do. Ngô Tất Tố để lại dấu ấn riêng

sử, văn hóa nơi ngƣời trí thức xuất hiện; thể loại tác phẩm, lý tƣởng thẩm mĩ, quan
niệm nghệ thuật về con ngƣời, trình độ nghệ thuật của thời đại, năng lực nghệ thuật
của nhà văn sẽ quyết định nhân vật ngƣời trí thức trở thành một hình tƣợng thẩm mĩ
nhƣ thế nào. Cũng do phải chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài mà nhân vật
trí thức ở các thời đại khác nhau, các nền văn hóa khác nhau, các trào lƣu khuynh
hƣớng văn học khác nhau, các tác giả, tác phẩm khác nhau sẽ có những điểm khác
nhau. Tuy nhiên, hình tƣợng ngƣời trí thức còn chịu sự chi phối của một mạch
ngầm bên trong, đó là đặc trƣng trí tuệ, nhân cách, cách ứng xử của mẫu ngƣời trí
thức, điều đó sẽ quyết định những đặc tính chung của kiểu nhân vật đặc biệt này.

20


Nhân vật ngƣời trí thức là kiểu nhân vật đặc biệt của văn học Việt Nam cũng
nhƣ của văn học thế giới. Nhiều tác phẩm thành công nhờ thể hiện nhân vật ngƣời
trí thức, nhiều nhà văn đã làm nên phong cách nghệ thuật văn chƣơng riêng khi thể
hiện hình tƣợng ngƣời trí thức, nhiều nền văn học có thành tựu lớn cũng một phần
nhờ hình tƣợng ngƣời trí thức. Bởi vậy nghiên cứu kiểu nhân vật đặc biệt này là một
trong những công việc mà giới nghiên cứu cần quan tâm khi muốn đánh giá thành
công của một tác phẩm, tác giả, trào lƣu, khuynh hƣớng hay một nền văn học.
1.2. Tình hình nghiên cứu nhân vật ngƣời trí thức trong văn học Việt Nam
1.2.1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Đầu thế kỷ XX, nền lí luận văn học hiện đại Việt Nam chính thức ra đời trên
cơ sở tiếp thu thành tựu của lí luận văn học phƣơng Tây. Có thể coi giai đoạn từ đầu
thế kỷ XX đến khoảng năm 1932 là giai đoạn khởi động của lí luận văn học. Trong
giai đoạn này các nhà nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến các vấn đề lí luận chung.
Từ 1932 đến 1945, cùng với những thành tựu rực rỡ trong sáng tác, lí luận văn học
phát triển mạnh mẽ và đạt đƣợc các thành tựu quan trọng. Ngoài các vấn đề lí luận
chung, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến các vấn đề cụ thể. Việc nghiên cứu
nhân vật văn học, trong đó có nhân vật ngƣời trí thức bƣớc đầu đƣợc quan tâm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status