Tiểu thuyết viết về nông thôn của hoàng minh tường - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

--------------

NGUYỄN ĐỖ TOÁN

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN
CỦA HOÀNG MINH TƢỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

--------------

NGUYỄN ĐỖ TOÁN

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN
CỦA HOÀNG MINH TƢỜNG
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ
: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

Chƣơng 1
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VIẾT VỀ NÔNG THÔN VÀ TÁC
GIẢ HOÀNG MINH TƢỜNG..............................................................................14
1.1. Vài nét về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới .......................................14
1.2. Tiểu thuyết viết về nông thôn và tác giả Hoàng Minh Tường ...................25
1.2.1. Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn ...............................................25
1.2.2. Hoàng Minh Tường và những tác phẩm viết về nông thôn của ông ...33
Chƣơng 2
CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT HOÀNG MINH
TƢỜNG .................................................................................................................41
2.1. Cốt truyện ...................................................................................................41


2.1.1. Khái niệm .............................................................................................41
2.1.2. Các kiểu cốt truyện cơ bản ...................................................................42
2.2. Nhân vật ......................................................................................................49
2.2.1. Khái niệm nhân vật ..............................................................................49
2.2.2. Các kiểu nhân vật cơ bản .....................................................................50
2.2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .............................................................66
Chƣơng 3
KIẾN TẠO KHÔNG GIAN – THỜI GIAN, NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU
THUYẾT HOÀNG MINH TƢỜNG ...................................................................................... 75

3.1. Không gian nghệ thuật ................................................................................75
3.1.1. Khái niệm .............................................................................................75
3.1.2. Kiến tạo không gian nghệ thuật ...........................................................76
3.2. Thời gian nghệ thuật ...................................................................................90
3.2.1. Khái niệm .............................................................................................90
3.2.2. Kiến tạo thời gian nghệ thuật ...............................................................90
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật ..................................................................................93

chuyển của nó. Tiểu thuyết thay đổi hình tượng không gian, thời gian so với sử
thi, thay đổi trong nguyên tắc tư duy và cấu trúc hình tượng. Đặc biệt là sự tiếp
xúc giữa tiểu thuyết và cái đương đại đang tiếp diễn, tính vấn đề của tiểu thuyết,

1


tính đa ngữ của tiểu thuyết đã hấp dẫn chúng tôi nghiên cứu nông thôn trong thể
loại tiểu thuyết, tập trung vào trường hợp Hoàng Minh Tường.
Từ năm 1975 tới nay, đề tài nông thôn trong tiểu thuyết được tái hiện đầy
đủ, sinh động hơn qua các tác phẩm của: Lê Lựu, Đào Thắng, Nguyễn Khắc
Trường, Dương Hướng, Trịnh Thanh Phong, Vũ Xuân Tửu, Nguyễn Quang
Thiều, Tạ Duy Anh,… và Hoàng Minh Tường là một trong số đó. Hơn ba mươi
năm cầm bút, Hoàng Minh Tường đã có một sự nghiệp văn chương khá lớn với
mười ba tiểu thuyết, chín tập truyện ngắn, năm tập bút ký, phóng sự. Trong số
những tiểu thuyết đã được xuất bản, tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc, tập 1 trong bộ
tiểu thuyết Gia phả của đất (gồm 2 tập) là tác phẩm được trao giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam năm 1997 và được tái bản nhiều lần. Hiện thực nông
thôn với những biến đổi phức tạp trong đời sống của người nông dân trong bối
cảnh đổi mới đã được Hoàng Minh Tường diễn tả một cách chân thực và sâu sắc.
Những đổi mới, cách tân trong tiểu thuyết trên cả hai phương diện nội
dung và nghệ thuật đã góp phần khẳng định vị trí và đóng góp của Hoàng Minh
Tường vào đời sống văn chương Việt Nam đương đại nói chung và vào dòng văn
học viết về nông thôn nói riêng. Chính điều này đã thôi thúc người viết tìm hiểu
sáng tác của Hoàng Minh Tường, đặc biệt là tiểu thuyết Gia phả của đất – tác
phẩm đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên, tạo nên hiệu ứng tích cực
trong đời sống xã hội.
Nông thôn, Nông dân, Nông nghiệp vốn dĩ là những phạm trù quen thuộc
nhưng cũng đầy lạ lẫm với bất kỳ một xúc tiến thâm nhập, nghiên cứu nào.
Những truyền thống nông thôn và những kiến tạo nông thôn mới, sự dịch chuyển

khác mà sự nhắc lại họ đương nhiên làm dầy dặn hơn những gì đã nói ở đây. Dẫu

3


thế, việc điểm lại những nghiên cứu về tiểu thuyết đương đại với đề tài nông
thôn không đặt ra quá quan thiết ở đây. Trên tinh thần đó, có thể thấy, ở những
gương mặt tác giả, tác phẩm trên, họ được giới nghiên cứu, phê bình chú ý, tạo
nên các phạm vi, không gian nghiên cứu riêng từ khá sớm.
Năm 1986, tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu ra mắt bạn đọc. Thời
điểm 1986 là một mốc luôn cần được nhắc lại bởi tính mở và đóng của nó. Dĩ
nhiên, khi mở ra một thời kỳ mới, có những điều cần phải khép lại. Thời xa vắng
khép lại một thời có lẽ chưa thật xa, nhưng cần phải được xem là đã xa, hướng
đến một hoàn cảnh mới cho con người trong tinh thần đổi mới. Tiểu thuyết này
lập tức được chú ý, được xem là một trong những cái mốc của văn chương đổi
mới nói chung và văn chương viết về nông thôn nói riêng. Trong đó, đáng lưu ý
là những bài viết của Nguyễn Hoà: Suy tư từ một “Thời xa vắng” [30]; Nguyễn
Văn Lưu: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” [38]; Vương
Trí Nhàn: Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm nay [43];
Hoàng Ngọc Hiến: Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu [29]. Những bài viết đã đặt ra
vấn đề nhận thức lại thực tại, những ứng xử mới trên tinh thần Đổi mới để từ đó
có những bước đi hiệu quả hơn trong chặng đường phía trước. Sau Thời xa vắng
của Lê Lựu, tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng ra đời (1990). Tác
phẩm này cũng thu hút được sự chú ý của độc giả và lập tức được giải thưởng
của Hội Nhà văn Việt Nam. Giới nghiên cứu, phê bình cũng chú ý để đưa ra
những thẩm định về tác phẩm này. Trong dòng chảy đó, những bài viết của
Nguyên Ngọc (Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét quy luật phát triển) [41],
Nguyễn Văn Long (Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, H,
2002,[36, 404]. Trung Trung Đỉnh (Dương Hướng và Bến không chồng đăng
trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 12 năm 1991) [19],… đã có cái nhìn khái

5


1975 [5]; Nguyễn Thị Hương Lan với đề tài Tiểu thuyết viết về nông thôn trong
văn xuôi thời kỳ đổi mới (Nguyễn Thị Hương Lan) [35]; Lã Duy Lan với luận
án Phó Tiến sĩ: Văn xuôi viết về nông thôn trong công cuộc đổi mới qua một số
tác phẩm tiêu biểu [34]; Phùng Thị Hồng Thắm với Luận văn Thạc sĩ: Tiểu
thuyết viết về nông thôn thời kỳ đổi mới (Qua một số tác phẩm đoạt giải)[53];
Luận án Tiến sĩ của Bùi Quang Trường: Văn xuôi viết về nông thôn trong văn
học Viêt Nam sau 1975 [63], Luận án Tiến sĩ của Bùi Như Hải: Đặc trưng phản
ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay [24],…
Những nghiên cứu từ khá sớm của Lã Duy Lan, có thể là một tham khảo về ý
tưởng, nhưng ở đó, vẫn hiện lên rất rõ những khuyết thiếu về mặt tư duy thể loại.
Cụ thể, chúng tôi thấy rằng luận án Phó Tiến sĩ của Lã Duy Lan tập trung chủ
yếu vào phương diện nội dung, phần thể loại được đặt ra nhưng chưa giải quyết
được một cách thoả đáng. Chẳng hạn, ông nêu lên vấn đề thể loại tiểu thuyết chỉ
đơn giản là sự thay đổi dung lượng để nói được nhiều hơn, thể hiện được cuộc
sống một cách rộng lớn hơn. Cũng đặt ra vấn đề như Lã Duy Lan nhưng phạm vi
khảo sát rộng hơn, Bùi Quang Trường chú ý đến tất cả các tác phẩm văn xuôi
(truyện ngắn và tiểu thuyết). Trong nghiên cứu của mình, các vấn đề hiện thực
nông thôn, không gian nông thôn, những hướng tiếp cận nông thôn và cảm hứng
về nông thôn được tác giả tập trung nghiên cứu. Điểm nhìn thể loại, đã được đề
cập qua các phạm trù ngôn ngữ, giọng điệu nhưng lại chưa khái quát và gọi tên
thành một hướng tiếp cận chủ đạo. Luận án của Bùi Như Hải có thể được xem là
công trình công phu về tiểu thuyết nông thôn Việt Nam từ sau 1986. Tuy nhiên,
cái rõ nhất trong nghiên cứu của tác giả này mà chúng tôi nhận ra là những
nghiên cứu về cốt truyện, nhân vật, những khảo sát về không gian, thời gian
nghệ thuật dưới góc nhìn thể loại vẫn chưa được chú ý thoả đáng. Điều đáng nói

6


giá Hoàng Minh Tường là một cây bút giàu nội lực, có tài trên cơ sở những kế
thừa và cách tân, đổi mới nội dung, chủ đề, lối viết, tác giả Dương Thị Kim Huệ
trong bài Cái tôi tác giả trong bút kí “Canada màu phong đỏ” đã khẳng định:
“Hoàng Minh Tường là cây bút giàu tài năng, có cá tính và đam mê sáng tạo
nhưng ông vẫn học hỏi, kế thừa tinh hoa các bậc tiền bối văn chương” [31]. Tác
giả Đặng Hiển, bài viết Ngư phủ- sức mạnh của người dân biển, bút lực của nhà
văn, khẳng định: “đọc Ngư phủ, ta vui vì có trong tay mình cuốn tiểu thuyết hay.
Nó chứng minh sức sống của nền văn học hiện đại, sức hút của cây bút văn xuôi
Hoàng Minh Tường” [27]. Làm rõ hơn những phương diện tài năng, phong cách,
chủ đề trong sáng tác của Hoàng Minh Tường, tác giả Vũ Nho trong bài Phê
bình tiểu thuyết “Thời của thánh thần”, khẳng định Hoàng Minh Tường là một
người từng trải, có vốn sống, kinh nghiệm, sự hiểu biết và một thái độ tập trung
làm việc trên con đường nghệ thuật của mình. Theo tác giả Vũ Nho thì tác phẩm
vượt trội này sẽ được đón nhận một cách nồng nhiệt bởi sự bứt phá mà ông cho
là rất ngoạn mục của nó. Ông viết nhận định: Cải cách ruộng đất, đấu tranh
chống Nhân văn Giai phẩm, chống xét lại; giải phóng Miền Nam, thống nhất đất
nước; Hòa hợp dân tộc… Những vấn đề cốt lõi ấy được xem xét và đánh giá qua
những số phận mấy đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết
nhưng những hiểu biết của một cây bút phóng sự, tiểu thuyết có hạng, và suy
ngẫm một đời viết, mới là yếu tố quyết định làm nên thành công của tác phẩm
này. Từ quan điểm ấy, Vũ Nho kết luận: Thời của Thánh Thần là “một cuộc bứt
phá ngoạn mục” [45]. Hà Thế, tác giả bài viết Nếu chỉ tâng bốc, tô hồng trên báo
Quân đội nhân dân (cuối tuần) đã gián tiếp nhận xét về cuốn tiểu thuyết của nhà
văn Hoàng Minh Tường: “Đọc anh thấy rõ tính nhân bản vẫn là một yếu tố
không thể thiếu trong các tác phẩm. Nhưng ngược lại, sự bặm trợn, thô thiển đến

8



cho chúng ta thấy được cái nhìn sâu sắc và toàn diện về bức tranh nông thôn của
một làng quê miền Bắc vật vã chuyển mình sau 30 năm, đó là hình ảnh trọn vẹn,
đa chiều, phức tạp của một đất nước mang văn hóa truyền thống nông nghiệp lúa
nước. Tiểu thuyết không chỉ phản ánh hiện thực nông thôn theo mô hình hợp tác
xã làm ăn theo cơ chế cũ, cơ chế quan liêu bao cấp mang tính cộng đồng, tập thể
thực hiện dưới sự áp đặt của một bộ phận lãnh đạo đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi
ích tập thể, mà còn mang âm hưởng chính luận và tính phản biện sâu sắc cũng
như tính dự báo xã hội được tác giả thể hiện trong cặp đôi tác phẩm” [25].
Hoàng Minh Tuân trong Luận văn Nông thôn Việt Nam sau 1975 trong một số
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Đại học Vinh, 2009), khẳng định Hoàng Minh
Tường đã có cái nhìn thấu đáo và tin tưởng về sự vươn lên của nông dân trong
quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Trong luận văn Tiểu thuyết viết về
nông thôn thời kỳ đổi mới (Qua một số tác phẩm đạt giải), tác giả Phùng Thị
Hồng Thắm đánh giá rất cao giá trị hiện thực của tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc
cũng như sự dũng cảm của người viết trước bối cảnh mà xã hội vẫn còn những
định kiến tư tưởng khá nặng nề… Tác phẩm phản ánh trung thực, cắt nghĩa và
dự báo trước sự tan rã tất yếu của mô hình hợp tác xã nông nghiệp theo lối bao
cấp.
Bình Nguyên Trang, trên mục Đời sống Văn hoá của báo Văn nghệ Công
an gọi: Nhà văn Hoàng Minh Tường: chung tình với đề tài nông thôn. Trong bài
nói chuyện này, Hoàng Minh Tường đã bày tỏ những quan tâm của riêng ông đối
với thể loại tiểu thuyết và đề tài nông thôn. Ở đó, Hoàng Minh Tường thấy được
khả năng thể hiện sức lực và tài năng, tư tưởng nghệ thuật của mình. Ông bày tỏ:
“Viết về nông thôn với tôi nó rất tự nhiên thôi. Là bởi vì tôi xuất thân từ nông

10


thôn, gia đình tuy không nghèo túng nhưng thuở nhỏ vẫn theo chúng bạn đi chăn
trâu cắt cỏ, mò cua bắt ốc. Rồi đến lúc đi học đại học nghỉ hè về nhà vẫn giúp mẹ

những nhà văn khác cùng viết về đề tài nông thôn.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, tìm hiểu để chỉ ra những đặc điểm nổi trội nhất của tiểu thuyết
viết về nông thôn của Hoàng Minh Tường.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn phối hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp lịch sử, xã hội
- Phương pháp tiếp cận Thi pháp học
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống, tiếp cận trên nhiều phương diện
khác nhau như cốt truyện, nhân vật, không gian - thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ
và giọng điệu trong các tiểu thuyết Thủy hỏa đạo tặc, Đồng sau bão, Ngư phủ,
Thời của Thánh Thần… của Hoàng Minh Tường, góp phần khẳng định vị trí và
đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của văn xuôi thời kỳ đổi mới trên cả
hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

12


7. Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được triển khai thành 3 chương:
Chương1: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết về nông thôn và tác giả
Hoàng Minh Tường
Chương 2: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Hoàng Minh Tường
Chương 3: Kiến tạo không gian – thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu trong
tiểu thuyết Hoàng Minh Tường



khát vọng hạnh phúc, tự do yêu đương, khát vọng một tinh thần dân chủ thực sự
trong cuộc sống như tiểu thuyết Con đường sáng của Hoàng Đạo, Hồn bướm mơ
tiên, Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Gánh hàng hoa, Đôi bạn của Nhất Linh…
thì các nhà văn hiện thực lại tập trung vào phản ánh những mảnh đời cơ cực của
người nông dân bị giai cấp địa chủ chèn ép, bóc lột đến tận cùng như tiểu thuyết
Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của
Nguyên Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng… [47];
[12],…
Cách mạng Tháng Tám thành công, xã hội Việt Nam bước sang một giai
đoạn mới. Việt Nam trở thành một nước độc lập, tự chủ. Hiện thực cách mạng và
hai cuộc kháng chiến đã làm cho văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng có
bước chuyển biến quan trọng. Từ chỗ bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân, mưu
cầu hạnh phúc thông qua các tiểu thuyết của các nhà văn Tự lực văn đoàn như
Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam,… miêu tả đời sống người nông
dân nghèo trong cảnh sưu cao, thuế nặng, bị chế độ phong kiến bóc lột trắng
trợn, dã man thông qua tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực như Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,… tiểu thuyết đã chuyển mình sang thời kỳ mới:
Đề tài công nông binh xuyên suốt nền văn học. Văn học cách mạng lúc này, lấy
tinh thần Dân tộc – Khoa học – Đại chúng nêu lên trong Đề cương văn hoá Việt
Nam (1943) làm kim chỉ nam [15]. Văn nghệ sĩ nhận đường và đi theo cách
mạng, tập trung ngòi bút cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của cả dân tộc [58,
489]. Văn học cách mạng đặt những bước non trẻ đầu tiên trong hành trình mới.
Các nhà văn bắt đầu xâm nhập vào thực tế cuộc sống sản xuất và chiến đấu. Con
trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn
Đình Thi là những tiểu thuyết tiêu biểu của giai đoạn kháng chiến chống Pháp.

15


Đất nước thống nhất (1975), chuyển mình sang giai đoạn đổi mới (1986).
Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu những chuyển biến trọng đại của lịch sử dân
tộc nói chung và lịch sử văn chương nói riêng. Đây là thời đại mới, như Hà Xuân
Trường trong bài viết Văn học nghệ thuật trong đổi mới tư duy (Văn nghệ, số
1/1987) nêu lên: “Ngày nay, quần chúng yêu cầu hiện thực được miêu tả với các
chiều, những nhân vật phải được miêu tả với chiều sâu tâm lý xã hội, chiều sâu
tình cảm và trí tuệ. Quần chúng không chỉ bắt chước, học theo nhân vật, mà còn
muốn tranh luận với nhân vật, với tác giả để cùng tìm chân lý. Do đó có nhân vật
trở nên phức tạp, chứa đầy mâu thuẫn, kể cả nhân vật anh hùng, văn chương trở
nên gồ ghề, gai góc, ngang bướng. Cuộc sống phải được thể hiện đúng như nó
đang diễn ra, đồng thời văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa, bằng chức năng và
ưu thế của mình, lại phải soi rọi, lý giải, chỉ rõ xu thế phát triển của nó. Tác giả
phải bàn luận, đấu tranh với quần chúng thưởng thức của mình, tiếp thêm nghị
lực cho họ trong cuộc sống đầy mâu thuẫn hiện nay, gợi thêm cho họ những suy
nghĩ mới mẻ để tự họ hoàn thiện nhân cách và bản lĩnh” [66].
Cùng với sự chuyển mình của đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, tiểu
thuyết với tư cách là một loại hình tự sự cỡ lớn cũng đã có sự chuyển động. Đổi
mới tư duy nghệ thuật, đặc biệt là quan niệm về hiện thực và con người không
chỉ là nhiệm vụ đặt ra với nhà văn mà thực tế là sự đòi hỏi tự thân văn học và
công chúng. Trong sự vận hành chung của thể loại, nhìn lại những năm tiền đổi
mới (1975-1985), không thể phủ nhận sự xuất hiện của một loại tiểu thuyết gây
tiếng vang một thời như tín hiệu dự báo mở ra một thời kỳ mới trong sáng tạo và
tiếp nhận văn chương hiện đại như Miền cháy (1977) của Nguyễn Minh Châu,
Cha và con và… (1979) của Nguyễn Khải, Đứng trước biển (1984) của Nguyễn
Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn

17


Kháng,… Các tác phẩm thời kỳ này đã có khuynh hướng mở rộng đề tài, phát

nghệ thuật đã thay đổi hẳn. Từ cảm hứng sử thi, tác phẩm thời kỳ này cho thấy
rất nhiều cảm hứng khác nhau như cảm hứng thế sự, đời tư, con người cá nhân
với đầy đủ tâm tư, suy nghĩ thay thế cho con người tập thể, con người cộng
đồng. Kiểu con người toàn nguyên với tất cả các trạng thái, nhu cầu, phương
diện, từ ý thức đến vô thức, từ hiện tại đến quá khứ và tương lai, con người bản
thể,… được tập trung chú ý trong tiểu thuyết nói riêng và văn chương nghệ thuật
nói chung. Con người sử thi đã dần nhường chỗ cho con người thế sự đời tư, con
người ở giữa cuộc đời với muôn vàn những liên hệ, tương tác, muôn màu, muôn
vẻ. Thế giới vô thức, tâm linh, cái xấu, cái ác, cái phi nhân,… cũng từng bước
hiện diện để làm toàn diện, đầy đủ hơn nhận thức của con người về đời sống, cõi
sống [1, 243-255].
Văn học đã có sự đổi mới tư duy tiểu thuyết từ phương diện tiếp cận hiện
thực đến quan niệm nghệ thuật về con người. Nếu giai đoạn 1945-1975, con
người trong các sáng tác là con người cộng đồng, con người xả thân vì nghĩa lớn
thì con người trong giai đoạn này được nhận thức như một thực thể riêng tư, cụ
thể, đời thường mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại. Có thể nói không quá cực đoan
rằng, con người hậu chiến với tính toàn diện của nó, trong tiểu thuyết, đã từng
bước tiếp cận với mô hình con người tổng quát mang tính nhân loại, toàn cầu.
Sống thực với chính mình và với hiện thực của thời đại, đất nước, có thể nói là
đòi hỏi sống còn. Đúng như Lê Ngọc Trà đã nhận định: “Như vậy xét theo một
khía cạnh nào đó, vấn đề văn học phản ánh hiện thực cũng là vấn đề tính công
khai của xã hội và sự thành thật của nhà văn. Thành thật và công khai là một
trong những bí quyết và sức mạnh của sự sống, sự phát triển. Che đậy, khép kín,

19


đóng cửa là dấu hiệu của sự yếu ớt, sẽ dẫn đến tự tiêu diệt. Khi đã già, L. Tolstoi
vẫn chép vào vở câu nói của nhà văn Anh John Ruskin: “Hãy sống cho công
khai cởi mở. Ở đâu còn bưng bít là ở đó còn tội ác và hiểm họa. Những gì tốt đẹp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status