Vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn 1986 - 2010 - Pdf 29

( Word Converter - Unregistered )

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn hàng đầu của văn xuôi đương đại
sớm thành công và có cá tính sáng tạo. Ông là nhà văn luôn bám sát, tìm kiếm và
phát hiện những vấn đề có ý nghĩa xã hội, đạo đức sâu xa gắn liền với thực tiễn cách
mạng. Ở thể loại nào nhà văn cũng tỏ rõ tài năng và thế mạnh của mình trong việc
khám phá hiện thực đời sống, con người. Bám sát vào dòng chảy của đời sống, ngòi
bút của Nguyễn Khải luôn xuất hiện ở những nơi và vào những lúc cuộc sống có
những bước chuyển quan trọng. Tác phẩm của ông đã phản ánh những bước đi của
đời sống chính trị, xã hội, đất nước và con người. Vì vậy, tác phẩm nào của Nguyễn
Khải ra đời cũng được giới nghiên cứu, phê bình văn học và đông đảo bạn đọc quan
tâm, chú ý. Nhìn lại chặng đường dài sáng tạo của ông, chúng ta càng nhất trí với
nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Muốn hiểu con người thời đại, với tất cả những
cái hay cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, đời sống tinh thần của
họ phải đọc Nguyễn Khải” [35, 61-62]. Với những đóng góp to lớn cho nền văn học
nước nhà, ông đã được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học
Nghệ thuật - năm 2000.
Ngoài ra, tác phẩm của Nguyễn Khải đã “gây được sự chú ý” chủ yếu là vì
“tính vấn đề”, những suy nghĩ thông minh, những nhận xét sắc sảo đôi khi làm “giật
mình người đọc” (Chu Nga). Rất nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi đã có những
công trình nghiên cứu, bài phát biểu đánh giá sâu sắc về ông trong những công trình
khoa học như: Vương Trí Nhàn, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức,
Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến… Bên cạnh những bài viết đi sâu vào một tác
phẩm cụ thể còn có những bài viết đề cập đến các khía cạnh riêng của ngòi bút
Nguyễn Khải như giọng điệu, nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật trần thuật…
Những năm 80 trở lại đây, Nguyễn Khải lại có những tìm tòi và khám phá
mới ở riêng thể loại truyện ngắn và để lại những ấu ấn mới mẻ và đặc sắc. Ông đã
đem lại cho văn chương của mình ở riêng thể loại này một sắc điệu mới, bộc lộ sự
vận động đổi mới của nhà văn trong tư duy nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con

Về cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Khải, một vài bài viết đã đưa ra
nhận định đánh giá nhưng đều là những ý kiến mang tính khái quát chứ chưa đi vào
các kiểu cốt truyện, cách tổ chức các sự kiện, các thành phần của cốt truyện. Các ý
kiến đều thống nhất, cốt truyện của Nguyễn Khải lỏng lẻo, không chặt chẽ, không
theo kết cấu truyền thống. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng: “Nhà văn
thường không để ý đến cốt truyện, đến hình dáng của câu chuyện mà tập trung vào
làm nổi nhân vật, một kiểu người, một cách sống” [22]. Lê Thanh Hà khẳng định:
“Nhà văn đã cấu tạo cốt truyện linh hoạt, không theo qui tắc, chuẩn mực nào cả.
Cốt truyện mà ông lựa chọn luôn phù hợp với nội dung tư tưởng chính luận và triết
luận của tác phẩm” [14].
Về giọng điệu, nhiếu ý kiến cho rằng giọng văn Nguyễn Khải “sắc sảo nhưng
lạnh, thiếu chất trữ tình” (Đoàn Trọng Huy). Ngược lại, Nguyễn Văn Hạnh lại thấy:
“Bên cạnh một Nguyễn Khải ghi chép sự việc một cách tỉnh táo có thêm một Nguyễn
Khải đằm thắm” [15]. Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1945-1975, Đoàn Trọng
Huy nhận xét: “Không chỉ kể bằng giọng của mình, bằng lời của người dẫn chuyện,
tác giả còn biến hóa thành nhiều giọng điệu phong phú khác nhau: có đối thoại, có
ngôn ngữ trực tiếp, có ngôn ngữ nửa trực tiếp ( ), đôi khi nghị luận nhiều rồi,
Nguyễn Khải lại đưa vào lời nói mộc mạc, dung dị thông tục thường ngày của quần
chúng” [21]. Theo Nguyễn Bích Thu, giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Khải rất đa dạng: “giọng tác giả, giọng nhân vật, giọng người kể chuyện với
nhiều sắc thái, âm điệu khác nhau hòa trộn đan xen, tranh cãi và đối lập, tạo dựng
một lối văn đa thanh và hiện đại” [64]. Cùng với ý kiến này, Nguyễn Thị Bình nhận
thấy: “Gắn với nhu cầu đối thoại, bàn bạc tranh luận, giọng văn Nguyễn Khải là
giọng đa thanh, trong lời kể thường có nhiều lời kể, trong một giọng kể thường bao
hàm nhiều giọng” [4]. Còn Lại Nguyên Ân thấy trong văn của Nguyễn Khải còn có
cả “giọng phong tục” [1].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã xem xét phương diện
nghệ thuật trong các sáng tác của Nguyễn Khải ở nhiều góc độ và bình diện khác
nhau: kết cấu, cốt truyện, giọng điệu, nhân vật… Dù sao, đó mới chỉ là các bài viết
rời rạc về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Khải, chưa có công

hình nhân vật. Các phương thức biểu hiện trong truyện ngắn của ông như: ngôn ngữ
và giọng điệu; nghệ thuật tổ chức cốt truyện; hình tượng không gian, thời gian. Để
triển khai đề tài này, luận văn đã khảo sát toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Khải từ
trước tới nay, song tập trung chủ yếu vào những sáng tác sau năm 1975, vì đây là
những sáng tác có giá trị, thể hiện sự đổi mới, cách tân của nhà văn nặng lòng với
cuộc sống hôm hay.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đã khảo sát những tập truyện ngắn sau:
* Mùa lạc (1960).
* Hãy đi xa hơn nữa (1965).
* Một người Hà Nội (1990).
* Một thời gió bụi (1993).
* Hà Nội trong mắt tôi (1995).
*Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải - NXB Hội nhà văn 2002.
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số tiểu thuyết của Nguyễn Khải,
những bài viết về chuyện nghề của ông được in rải rác trên các báo để phục vụ cho
công việc thực hiện đề tài này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng đồng thời các
phương pháp sau:
Phương pháp thống kê, phân tích tác phẩm dựa vào những đặc trưng thể loại
(thể loại truyện ngắn, loại tự sự ).
Phương pháp hệ thống: Luận văn khảo sát, phân tích các hiện tượng văn học
như những bộ phận của một cấu trúc, những yếu tố của một hệ thống.
Phương pháp so sánh khi xem xét sự vận động của quá trình văn học, sự đổi
mới trong sáng tác của tác giả trước và sau năm 1975 và của các nhà văn khác.
6. Dự kiến đóng góp mới
Luận văn phân tích một cách tương đối hệ thống, có tính chỉnh thể về thế giới nghệ
thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải ở cả hai khía cạnh nội dung và hình thức:
khám phá hiện thực cuộc sống con người và nét đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật
về con người giúp nhà văn lựa chọn loại hình nhân vật, tổ chức cốt truyện, tổ chức

nhất để có thể tách mình khỏi thế giới của cảm giác, để trong chừng mực nào đó có
thể thay thế nó bằng bức tranh được sáng tạo con người sẽ chuyển trọng tâm đời
sống tinh thần của nó vào bức tranh đó để có thể đạt được sự yên tĩnh và niềm tin,
điều mà nó không tìm thấy trong cuộc đời riêng chật hẹp và quay cuồng đến chóng
mặt.” (Tập hợp tác phẩm vật lý học - Tập 2).
Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, chỉ có trong tác
phẩm, trong cảm thụ, ngoài ra không đâu có cả. Nó mang tính cảm tính, có thể thấy
được và là một kiểu tồn tại đặc thù, vừa trong chất liệu vừa trong cảm nhận của
người thưởng thức, là sự thống nhất của nhiều yếu tố trong tác phẩm văn học. Thế
giới nghệ thuật còn là chỉnh thể với những qui luật vận động nội tại. Đi vào thế giới
ấy là đi vào một cấu trúc lôgic có tổ chức bên trong, có sự thống nhất biện chứng
của các mặt đối lập, có sự hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật
“chịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới như một qui luật
tuyệt đối” (Trần Đình Sử) và do đó, nó có thể có tính ước lệ so với thế giới thực tại.
Khám phá một thế giới nghệ thuật cụ thể cũng có nghĩa là chúng ta đã nghiên cứu
văn học từ góc độ thi pháp. Đây là một hướng nghiên cứu mới mẻ đang rất được
quan tâm hiện nay. Hướng nghiên cứu này khám phá vẻ đẹp của văn học từ phương
diện bản thể của nó, từ cấu trúc, cách biểu hiện nội dung. Nó giúp chúng ta thoát
khỏi cách tiếp cận xã hội học đang trở thành lối mòn trong nghiên cứu văn học.
1.1.2. Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Nguyễn Khải
Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn là một thế giới sống
động, gồm nhiều yếu tố cấu thành như tư tưởng, đề tài, nhân vật và các phương
thức biểu hiện. Nhưng nhìn chung, nó thường được khám phá theo những cách thức
khác nhau. Thí dụ, có thể khám phá bình diện cái tôi độc đáo của nhà văn được thể
hiện qua không gian, thời gian nghệ thuật và các phương thức biểu hiện khác như
ngôn ngữ, giọng điệu, tổ chức cốt truyện hoặc cũng có thể khám phá hình tượng
cái tôi độc đáo của nhà văn bộc lộ qua thế giới hình tượng được miêu tả và ngôn
ngữ biểu hiện.
Tuy nhiên, cho đến nay, cách khám phá đó mới chỉ được vận dụng trong các
công trình nghiên cứu thơ ca mà ít thấy trong các sáng tác của tác phẩm tự sự. Vì

ngoài (1951), Xây dựng (1951), Nằm vạ (1956); năm 1957, Nguyễn Khải cho ra
đời tác phẩm Xung đột, “ghi” lại cuộc đấu tranh gay gắt đang diễn ra ở nông thôn
ngay trong điều kiện hòa bình giữa cán bộ, bộ đội và nhân dân với bọn phản động
đội lốt tôn giáo nổi lên chống phá cách mạng. Không chỉ phản ánh về cuộc đấu
tranh giai cấp, Xung đột còn là bức tranh sinh động về đời sống của một vùng nông
thôn công giáo trong đó con người bị bọn phản động đội lốt thầy tu làm cho mê
muội, sống trong tâm lý chịu đựng, nhẫn nhục trong sự lạc hậu và cằn cỗi về tâm
hồn. Chủ nghĩa xã hội đến với họ thực khó khăn và nặng nề vì những cái nếp đã
định sẵn. Thông qua Xung đột tác giả đặt ra vấn đề sâu xa hơn và bức xúc hơn - vấn
đề giải phóng tinh thần con người, làm thế nào để con người nhận ra ánh sáng của
chân lý và vươn lên xây dựng cuộc sống mới. Chủ đề của Xung đột, chủ đề của
cuộc đấu tranh giai cấp, còn được tác giả tiếp tục trong Xung đột, tập 2 (1960) và
Một chặng đường (1962) cũng như một số sáng tác của ông sau ngày miền Nam
hoàn toàn giải phóng.
Năm 1960, trong không khí cả miền Bắc hưởng ứng phong trào xây dựng
cuộc sống mới và hàn gắn vết thương chiến tranh, Nguyễn Khải đã lên Điện Biên
Phủ, đến với cuộc sống lao động khẩn trương nơi đây. Đó là thời kỳ lạc quan phơi
phới của cuộc sống cũng như của người sáng tác. Nhà văn đã cho ra đời các tập
truyện ngắn Mùa lạc (1960), Hãy đi xa hơn nữa (1963). Đó là những trang viết xúc
động mà ấm áp về một cuộc sống mới đang được xây dựng, về tình yêu và sự đổi
thay của số phận con người, về những quan hệ đạo đức mới xã hội chủ nghĩa đầy
tình thương và trách nhiệm giữa con người với con người.
Trong phong trào hợp tác hóa nhằm đưa nông thôn miền Bắc tiến lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Khải viết Tầm nhìn xa, Người trở về, Chủ tịch
huyện và Gia đình lớn Nhà văn đã khai thác đề tài nông thôn và đặt ra vấn đề mối
quan hệ giữa quyền lợi tập thể, quyền lợi nhà nước và quyền lợi cá nhân; nêu lên
một quan niệm về cách nhìn nông thôn mới của ta, chỉ ra những yếu tố tích cực,
những yếu kém cần phải khắc phục của nông thôn trong quá trình đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội
Khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc, Nguyễn Khải đã

Ngoài ra, nhà văn còn viết nhiều bút ký, tạp văn bàn về chuyện nghề, chuyện đời
thể hiện quan niệm sống và quan điểm sáng tác của tác giả.
Trong quá trình sáng tác của mình, Nguyễn Khải luôn nhằm thẳng vào đời
sống hiện tại. Ông muốn hướng vào hiện tại để thức tỉnh người đọc cùng suy nghĩ.
Ông luôn khát khao thể hiện được những vấn đề của hôm nay, trong tiểu thuyết Gặp
gỡ cuối năm, ông viết: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn,
bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ mới
thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”. Đó cũng chính là quan
điểm nghệ thuật của ông trong suốt cuộc đời sáng tác của mình.
CHƯƠNG 2
HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN KHẢI
2.1. Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn Nguyễn Khải
2.1.1. Quan niệm về hiện thực cuộc sống của Nguyễn Khải
Trong suốt quá trình lao động sáng tạo của mình, Nguyễn Khải đã có một
khối lượng khá lớn tác phẩm phản ánh được những nhiệm vụ cơ bản của mỗi giai
đoạn cách mạng, những bước phát triển của đất nước. Tác phẩm của ông vừa mang
tính thời sự nóng hổi, vừa có tầm khái quát cao, thể hiện nhiều vấn đề mang tính
triết lý đạo đức, nhân sinh sâu sắc. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng:
“Muốn hiểu con người thời đại, với tất cả những cái hay dở của họ, nhất là muốn
hiểu cách nghĩ của họ, đời sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải”[35,
61-62].
Đọc truyện ngắn của Nguyễn Khải, độc giả nhận thấy rõ cảm hứng chi phối
nhiều trong toàn bộ sáng tác của nhà văn là cảm hứng về cái hiện tại, cái hôm nay.
Bởi với Nguyễn Khải, “cái hôm nay” bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của
những người đương thời và trong nó bao giờ cũng giấu kín những điều mới mẻ. Phải
chăng vì quan niệm ấy mà Nguyễn Khải luôn gắn mình với thực tế, theo từng nhịp
đập của cuộc sống mới mẻ, sôi động và khẩn trương. Với tư cách của người cầm
bút, Nguyễn Khải đi đến nhiều miền đất khác nhau, tìm hiểu bao con người khác
nhau với mong ước tiếp cận một hiện thực còn “tươi rói, đỏ hồng”. Ông lên nông

và cái mới, cái riêng - cái chung, tiến bộ và lạc hậu, tốt - xấu, ta - địch. Qua đó,
khẳng định xu thế vận động từ bóng tối ra ánh sáng của cuộc sống mới.
Nhưng hiện thực cuộc sống sau 1975 có nhiều biến động, cảm hứng thế sự -
đời tư thay thế cho cảm hứng sử thi trước đây, cái nhìn nghệ thuật về hiện thực cuộc
sống của Nguyễn Khải là cái nhìn đầy trăn trở, suy nghiệm. Nhà văn cảm nhận được
hiện thực cuộc sống xô bồ, hối hả, đầy biến động, đổi thay nhưng cũng đầy hương
sắc. Nhà văn chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội, lấy việc khám phá con
người làm trung tâm. Ông nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử,
với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối các thế hệ để rồi từ đó bao giờ
cũng khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống con người
hôm nay.
2.1.2. Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn Nguyễn Khải trước 1975
Giáo sư Phong Lê trong giáo trình Văn học Việt Nam 1945 - 1975 đã nhận
định về văn học giai đoạn này như sau: “Nhiệm vụ chiến lược của nền văn học hiện
thực chủ nghĩa xã hội là hướng về con người mới, nhằm xây dựng những điển hình
tích cực mang sức mạnh khẳng định hiện thực cách mạng và hướng tới tương lai”.
Như vậy, thời kỳ trước 1975, do đặc thù của hoàn cảnh đất nước 30 năm có chiến
tranh, hết chống Pháp lại chống Mỹ, trong nhiều chục năm con người sống trong
tâm lí tất cả vì cái chung, vì cộng đồng, những mất mát hy sinh của con người ít
được đề cập đến. Văn học cũng bị chi phối bởi quy luật ấy. Trong tác phẩm của
mình trước năm 1975, Nguyễn Khải hầu như chỉ quan tâm đến những vấn đề xã hội,
chính trị nổi bật của thời đại. Nguyễn Khải lại là một nhà văn “Sớm có ý thức dùng
văn học để phục vụ sự nghiệp cách mạng, để góp phần làm cho cuộc sống của con
người ngày một tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Ông có một niềm tin mãnh liệt lấy văn
học làm vũ khí chiến đấu và đem hết sức mình góp phần tích cực vào việc xây dựng
cuộc sống” (Hà Công Tài). Do vậy, Nguyễn Khải thường chọn những nơi cuộc sống
diễn ra sôi nổi, quyết liệt, tiêu biểu cho hiện thực cách mạng của đất nước để làm cơ
sở cho việc phản ánh và sáng tác văn học. Ông đặc biệt chú ý đến mảng hiện thực
rất quan trọng là nông thôn trên con đường xây dựng cuộc sống mới. Một vùng
nông thôn công giáo toàn tòng (Xung đột), một hợp tác xã tiên tiến (Tầm nhìn xa),

người với con người. Viết về họ, Nguyễn Khải đã tìm thấy trong bãi chiến trường
của dăm năm trước, con người không chỉ gieo trồng trên mảnh đất ấy những mùa lạc
bội thu mà còn gieo cả cho mình và cho nhau những ước mơ, khát vọng, niềm hạnh
phúc. Trên mảnh đất mà con người vẫn còn ngã xuống do di họa chiến tranh đã bắt
đầu nẳy nở không chỉ một mùa lạc đầu tiên mà còn là những xao xuyến đầu tiên của
niềm khát khao được sống cho đầy đủ, trọn vẹn. Những cuộc đời của Đào, Duệ,
Thoa, Tấm đã được thắp sáng, thổi bùng từ chính mảnh đất này.
Nguyễn Khải viết về số phận hẩm hiu của những con người bé nhỏ đã tìm
thấy hạnh phúc để từ đó khẳng định sức mạnh của cuộc sống mới, nhấn mạnh tình
hữu ái giai cấp, tin vào khả năng vươn lên của cuộc đời con người.Vì lẽ đó Mùa lạc
không chỉ nói về sự vượt qua “ranh giới”của những số phận bé nhỏ mà dường như
đó còn là sự vượt qua của một dân tộc vừa qua khói lửa của chiến tranh.
Tuy nhiên, bên cạnh việc nhìn thấy cái tốt, cái hay để ngợi ca, Nguyễn Khải
còn phanh phui tất cả những cái phức tạp, khó khăn của quá trình xây dựng cuộc
sống mới ở Điện Biên. Ông nhận ra những phẩm chất mới đang sinh thành và cũng
nhìn thấu cả những cái cũ, cái lạc hậu. Bên cạnh sự đổi mới từng ngày, mảnh đất
Điện Biên vẫn còn ẩn chứa nhiều tàn dư của tư tưởng cũ, của cái tiêu cực. Vì thế,
cùng với sự chăm lo cho cái tốt, tác phẩm của Nguyễn Khải cũng đặt ra vấn đề cần
thiết phải hiểu tất cả những rắc rối ở con người, những ảnh hưởng rơi rớt của tư
tưởng lạc hậu, những thói xấu cản trở sự tiến bộ, trái với đạo đức xã hội. Ông phê
phán những nhân vật tiêu cực, ít nhiều còn bị ảnh hưởng của tư tưởng cũ, lạc hậu
như Khôi trong Chuyện người tổ trưởng máy kéo, tuy tháo vát thông minh nhưng
lại thiếu hẳn lòng tin yêu với con người, đó là y tá Giao trong Một cặp vợ chồng với
lối sống ích kỷ, cá nhân tàn nhẫn, Khôi trong Anh đội phó và người thợ mộc với
thói kiêu ngạo, hám danh, ích kỷ Ngay cả lối sống để cho lợi ích cá nhân lấn át
những khát vọng đẹp đẽ, thiêng liêng của cả đời người cũng được Nguyễn Khải đề
cập đến với những trang viết hấp dẫn và lí giải đầy đủ, thuyết phục (Hãy đi xa hơn
nữa). Song song với việc vạch ra cái cũ, lạc hậu, Nguyễn Khải còn gửi gắm nhiều
niềm tin và khát vọng của mình qua một số nhân vật lí tưởng. Đó là Cừ, chủ nhiệm
chính trị nông trường, với những suy nghĩ về trách nhiệm lớn lao đối với những đứa

triển trên những khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Nhưng bên cạnh những cái cũ
kỹ, tiêu cực đó là những nét rất mới, rất khỏe trong con người nông dân tập thể. Qua
những hình tượng nghệ thuật, một bức tranh tươi đẹp về nông thôn mới đang sôi nổi
xây dựng chủ nghĩa xã hội như hiện ra trước mắt người đọc.
Tầm nhìn xa đã phanh phui và phê phán những thói hư, tật xấu cũ kỹ còn rớt
lại trong những người nông dân lao động, đồng thời phản ánh những mâu thuẫn mới
nảy sinh trên bước phát triển của nông thôn mới. Tuy Kiền là nhân vật chính trong
chuyện. Ông ta là đảng viên xuất thân từ tầng lớp trung nông, làm phó chủ nhiệm
một hợp tác xã tiên tiến vào loại bậc nhất của một tỉnh, tận tụy và tích cực với công
việc chung, nhưng mặt khác Tuy Kiền đã lợi dụng chức vụ để chấm mút ít nhiều
một cách xảo trá Tuy Kiền tiêu biểu cho tầng lớp trung nông bước vào làm ăn tập
thể chưa lâu, mặt lao động đã được phát huy, nhưng mặt tư hữu trong điều kiện
thuận lợi lại bộc lộ ra. Nhân vật Biền trái lại, tiêu biểu cho bản chất tốt đẹp của
người cán bộ, qua hai hình tượng tương phản Tuy Kiền và Biền, Tầm nhìn xa đã
nói lên một điều có ý nghĩa là: “phải có tầm mắt nhìn xa hơn mọi người, đừng để
mối lợi vặt vãnh nó làm hại mình”. Tầm nhìn xa không dừng lại ở việc phát hiện và
phê phán tư tưởng tham ô trong một số cán bộ lãnh đạo xã, đề cao vị trí chiến đấu
và vai trò gương mẫu của người đảng viên cộng sản mà còn nêu lên một vấn đề tư
tưởng mà cuộc sống hiện đại cần phải giải quyết. Đó là quan hệ giữa quyền lợi nhà
nước và quyền lợi tập thể hợp tác xã.
Người trở về kể về những diễn biến tư tưởng và tình cảm đối với người yêu,
đối với quê hương xóm làng của Khang, một thanh niên thuộc tầng lớp trung nông
lớp trên, đi nghĩa vụ quân sự bốn năm trở về. Lớn lên trong “một gia đình phong
lưu” nên trước khi đi bộ đội Khang chưa hiểu nhiều những khó khăn và những thay
đổi dần dần của xóm làng. Mấy năm sống trong quân ngũ, được rèn luyện giáo dục,
Khang thiết tha với chủ nghĩa xã hội và hăng hái trở về “để đóng góp sức lực của
mình cho phong trào”, anh hình dung quê hương hoàn hảo như mong muốn của anh
và dự định làm những việc đẹp đẽ “trên cái hiện thực đẹp đẽ ấy”. Về tới quê, nhiều
cảnh anh trông thấy, đã ngược lại với sự tưởng tượng của anh như: Việc tổ chức bầu
cử Hội đồng nhân dân xã và huyện, hình thức của người đội trưởng sản xuất số 3 lôi

1975 còn thiên về khẳng định, ngợi ca. Nhà văn đã tô đậm, khẳng định sức mạnh
của cuộc sống mới, nhấn mạnh vào tình hữu ái giai cấp, tin vào khả năng vươn lên
trong cuộc đời của mỗi con người, đồng thời ông cũng khẳng định sức mạnh của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng Cái nhìn đời sống của tác giả trong giai đoạn này
chưa đa dạng mà còn xuôi chiều nên đã chi phối mối quan hệ giữa nhà văn với hiện
thực. Nguyễn Khải hoàn toàn chỉ có nhu cầu hướng ngoại, ông đã đứng trên quan
điểm chung của cộng đồng, của dân tộc mà miêu tả, kể chuyện và đánh giá hiện
thực.
Tuy nhiên, trong những ngày tháng hào hùng ấy, đất nước đang chuyển mình
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả mọi người cùng đồng tâm hiệp lực để phục vụ
cho lợi ích cao nhất của cộng đồng thì sáng tác lúc đó của Nguyễn Khải đã làm tròn
trách nhiệm văn chương của mình; đem văn chương phục vụ chính trị, để góp phần
“xây dựng cuộc sống mới, con người mới” (Trường Chinh).
2.1.3. Hiện thực cuộc sống trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
Đất nước được giải phóng, đã tan khói súng, cuộc sống yên bình trở lại, chấm
dứt một giai đoạn lịch sử của dân tộc để chuyển sang một vận hội mới. Đối với văn
học, bối cảnh mới tạo nên nhiều chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật. Từ một
nền văn học của đấu tranh, của những yêu cầu nghiêm ngặt về chính trị và tư tưởng,
nó đang có nhu cầu đổi mới, nhu cầu trở lại với sự sáng tạo trong dân chủ, nhu cầu
sống trong mọi vấn đề của đời sống con người, để tìm kiếm và thiết lập những giá
trị phong phú cho tinh thần con người.
Hòa vào không khí đổi mới của văn học, các sáng tác của Nguyễn Khải sau
1975, nhất là từ 1980 trở đi, đã bám sát đời sống hiện thực trên bình diện rộng rãi,
phong phú hơn. Người đọc thấy rõ, hiện thực bây giờ với Nguyễn Khải không phải
là mục đích phản ánh nữa mà có lúc nó là phương tiện để ông giãi bày tình cảm, gửi
gắm tâm trạng và những suy tư, chiêm nghiệm của mình về cuộc đời. Nhà văn
không chỉ quan tâm đến đời sống chính trị như trước mà hôm nay, cái nhà văn quan
tâm nhiều là đời sống tinh thần của mỗi con người, mỗi cá nhân trước cộng đồng,
trước sự đổi thay của đất nước.
Thời kỳ đất nước tiến hành đổi mới (1986), đặc biệt là sự xuất hiện của nền

mực, giá trị truyền thống, những suy nghĩ, lí tưởng sống giờ cũng khác nhau rất
nhiều Điều ấy đã khiến con người hôm nay “càng ở với nhau càng lạ” bởi cuộc
đời bây giờ là: “Trận đánh của những quan niệm khác nhau, của những cách sống
khác nhau, của những niềm tin và nguyện vọng khác nhau” [28, 318].
Do đó, tác phẩm của Nguyễn Khải thời kỳ này tập trung hơn các vấn đề của
đời sống nhân thế, đó là: Bi kịch lạc thời của con người thời đại mới (Anh hùng bĩ
vận, Sống giữa đám đông, Đổi đời, Lạc thời, Nơi về ); số phận bất hạnh của con
người (Đời khổ, Ông cháu); lựa chọn và lầm lạc (Chuyện tình của mỗi người);
hiện tại và quá khứ (Chúng tôi và bọn hắn); dòng họ và truyền thống (Ông trưởng
họ, Làng của một doanh nhân, Con cháu dòng họ Ngô Thì ). Có thể nói, nhà văn
đã đi vào những góc khuất của nội tâm nhân vật để từ đó đưa ra biết bao nhiêu
chiêm nghiệm về cuộc đời này: “Trong cuộc đổi thay, số phận của nhiều cá nhân sẽ
rất bi thảm, nhưng số phận của cộng đồng của thời sau bao giờ cũng hơn thời
trước” [28, 284], cho nên bên cạnh những “ưu tư và sầu muộn ấy” nhà văn vẫn đón
chào một thời vừa tới, vẫn giữ một niềm tin vào con người, vào cuộc sống, vào
những điều bình dị mà lớn lao. Đấy là bản lĩnh, sự tự tin của Một người Hà Nội,
đấy là tình cảm đôn hậu, mộc mạc làm nảy sinh những mần yêu thương trong Nắng
chiều, đấy là con người cả đời chăm lo, gìn giữ gia phong cho một dòng họ của bà
cô trong Nếp nhà; rồi những con người biết vươn lên hoàn cảnh để mà sống: Cặp
vợ chồng dưới chân động Từ Thức, Hai ông già ở Đồng Tháp Mười, Một bàn tay
và chín bàn tay Những con người bình thường ấy tưởng không có công tích gì, họ
giản dị như chính cuộc đời họ, nhưng tấm vải bền chắc của cuộc sống này lại được
dệt lên từ chính những con người như thế.
Bằng việc mở rộng phạm vi hiện thực, đi sâu vào số phận con người trong
cuộc sống đời thường với cái nhìn sẻ chia, thông cảm, Nguyễn Khải đã đem đến cho
văn học một khả năng chiếm lĩnh hiện thực mới - một hiện thực phong phú, sinh
động như nó vốn có.
Ở thời kỳ này, Nguyễn Khải còn có những sáng tác về Hà Nội, nơi ông sinh
và mang bao kỷ niệm thời tuổi trẻ. Đó là những trang viết ấm áp, đầy tình cảm. Ông
viết về người thân, bạn bè, ca ngợi những cách sống, những nhân cách cao đẹp. Họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status